Hồng quân và Bạch vệ đều đến Zurich - Chiến tranh không phải là ngục tù - Các dự án bi phá ngang của gà tây - Nên nhớ chúng ta đang ở trong hệ thống Ngẫu nhiên cực độ
Ta hãy xem số phận của Joannis (John) và Georgios (George), hai anh em sinh đôi y hệt nhau, chào đời ở đảo Síp, hiện đang sống ở khu vực lân cận Luân Đôn. John làm thư ký phòng nhân sự trong một ngân hàng lớn suốt 25 năm nay, chuyên lo việc phân bổ nhân viên trên toàn cầu. George là một tài xế taxi.
John có thu nhập chắc chắn một cách hoàn hảo (hay anh nghĩ thế) với phúc lợi, bốn tuần phép hàng năm, và một chiếc đồng hồ vàng kỷ niệm 25 năm làm việc. Đều đặn mỗi tháng lại có 3.082 bảng Anh chuyển vào tài khoản của anh ở ngân hàng Nat West địa phương. Anh dành một phần tiền lương để trả góp căn nhà khu tây Luân Đôn, thanh toán chi phí tiện ích công cộng, mua phô mai mặn, và còn lại một chút để dành. Anh quen thức giấc vào sáng thứ bảy, ngày mà mọi người thường hay ngủ nướng, lòng không vướng bận âu lo, tự nhủ thầm “cuộc đời vẫn đẹp sao” - cho đến khi khủng hoảng ngân hàng nổ ra, khi anh nhận ra rằng công việc của mình có thể “trở nên dư thừa”. Mất việc sẽ gây ra tác động nghiêm trọng. Là một chuyên gia nhân sự, anh từng chứng kiến cảnh đổ vỡ những sự nghiệp lâu dài, với những người bị mất việc ở tuổi 50 không bao giờ hồi phục.
George sống trên cùng con phố với anh mình, lái một chiếc taxi đen - nghĩa là anh có giấy phép mà để có nó anh phải mất ba năm mở mang thùy trán thông qua ghi nhớ mọi ngả đường góc phố ở Luân Đôn và các vùng phụ cận, cho anh có quyền đón khách trên đường. Thu nhập của anh cực kỳ biến động. Có những ngày “tốt lành” anh kiếm được vài trăm bảng; có những ngày tệ hơn, anh thậm chí không lo đủ chi phí, nhưng năm này sang năm khác, thu nhập của anh độ chừng cũng ngang với anh trai. Cho đến giờ, chỉ có một ngày duy nhất trong sự nghiệp 25 năm của mình, anh không kiếm được đồng nào. Do tính biến động của thu nhập, anh thường than thở rằng anh không có công việc an toàn như anh trai - nhưng thật ra đó chỉ là ảo tưởng, bởi lẽ công việc của anh còn an toàn hơn.
Đây là một ảo tưởng lớn trong cuộc sống: rằng tính ngẫu nhiên biến động là rủi ro, rằng đó là điều xấu - và rằng việc loại bỏ tính ngẫu nhiên được thực hiện bằng cách… loại bỏ tính ngẫu nhiên.
Thu nhập của những người làm nghề thủ công như tài xế taxi, gái điếm (một nghề rất lâu đời), thợ mộc, thợ sửa ống nước, thợ may và các nha sĩ có phần nào biến động nhưng khá mạnh mẽ trước một biến cố nghề nghiệp Thiên Nga Đen nho nhỏ, biến cố làm ngưng trệ thu nhập của họ. Các rủi ro của họ thật dễ thấy. Nhưng giới làm công ăn lương thì không thế, họ không có biến động, nhưng có thể bất ngờ thấy thu nhập của họ bằng không sau một cú điện thoại từ phòng nhân sự. Rủi ro của lao động làm thuê là ngầm ẩn.
Nhờ vào tính biến động, sự nghiệp của những người làm nghề thủ công có đôi chút khả năng cải thiện nghịch cảnh: những biến động nho nhỏ làm họ thích nghi và thay đổi liên tục thông qua học hỏi từ môi trường và liên tục chịu một kiểu áp lực thích nghi nào đó. Nên nhớ rằng các yếu tố căng thẳng là thông tin; sự nghiệp của họ đứng trước một nguồn cung liên tục các yếu tố căng thẳng làm cho họ phải thích nghi một cách cơ hội. Thêm vào đó, họ mở ngỏ với của hời và những bất ngờ tích cực, những quyền chọn tự do - con dấu chất lượng của khả năng cải thiện nghịch cảnh, như ta sẽ thấy trong tập IV. George từng gặp một yêu cầu điên khùng mà anh thoải mái từ chối: trong nỗi khiếp sợ núi lửa Iceland, khi hàng không Anh đóng cửa, một quý bà già nua giàu có yêu cầu anh chở bà đến dự một đám cưới ở miền nam nước Pháp - một hành trình khứ hồi hai nghìn dặm. Tương tự, gái làng chơi có xác suất nho nhỏ gặp được một khách hàng giàu sụ mê đắm nàng và tặng nàng một viên kim cương đắt tiền, hay thậm chí hỏi cưới nàng.
Và George có thể tự do tiếp tục công việc cho đến khi anh bỏ cuộc (nhiều người tiếp tục lái taxi cho đến tuổi 80, chủ yếu để giết thời gian), vì anh tự làm chủ, không như anh trai anh có thể bị sa thải ở tuổi 50.
Sự khác biệt giữa hai kiểu biến động thu nhập cũng áp dụng cho hệ thống chính trị, và như ta sẽ thấy trong hai chương tiếp theo, cũng áp dụng cho gần như mọi thứ trong cuộc sống. Sự êm ả nhân tạo dẫn đến những gì tương tự như thu nhập của John: êm đềm, đều đặn, nhưng mỏng manh. Thu nhập kiểu đó dễ bị tổn thương hơn trước những cú sốc lớn làm cho nó trở thành con số không (cộng với một chút phúc lợi thất nghiệp nếu anh cư trú ở một trong số ít bang có phúc lợi). Tính ngẫu nhiên tự nhiên cũng giống như thu nhập của George: những cú sốc lớn có vai trò nhỏ hơn, nhưng biến động xảy ra hàng ngày. Hơn nữa, những biến động này giúp cải thiện hệ thống (vì thế cũng nâng cao khả năng cải thiện nghịch cảnh). Một tuần lễ thu nhập giảm sút của một tài xế taxi hay một cô gái làng chơi mang lại thông tin về môi trường và báo trước nhu cầu tìm một vùng mới trong thành phố nơi có nhiều khách hàng hơn; một tháng không có thu nhập buộc họ phải sửa đổi các kỹ năng.
Ngoài ra, đối với những người tự làm chủ, một lỗi lầm nhỏ (không phải loại vô phương cứu chữa) là thông tin, những thông tin quý giá giúp họ định hướng kế sách thích nghi; đối với những người làm thuê như John, lỗi lầm là điều gì đó được ghi vào hồ sơ lý lịch, lưu trữ trong phòng nhân sự. Yogi Berre từng nói: “Chúng ta đã có những lỗi lầm sai trái” - và với John, mọi lỗi lầm đều là lỗi lầm sai trái. Thiên nhiên yêu thích những lỗi lầm nhỏ (mà không có chúng sẽ không có sự biến đổi gene), nhưng con người thì không - vì thế khi bạn dựa vào sự đánh giá của con người, bạn sẽ phó mặc cho những định kiến tâm lý, gây bất lợi cho khả năng cải thiện nghịch cảnh.
Than ôi, con người chúng ta e sợ loại biến động thứ hai và đã dại dột làm cho các hệ thống trở nên mỏng manh - hay cản trở khả năng cải thiện nghịch cảnh của các hệ thống - bằng cách bảo vệ chúng. Nói cách khác, một luận điểm xứng đáng được nhắc lại mỗi lần áp dụng: tránh né những lỗi lầm nhỏ làm cho những lỗi lầm lớn trở nên nghiêm trọng hơn.
Nhà nước tập quyền cũng tương tự như thu nhập của John; mô hình thành bang giống như thu nhập của George. John có một nhà tuyển dụng lớn, George có nhiều ông chủ nhỏ, nên anh có thể chọn những người phù hợp với mình nhất và vì thế lúc nào cũng có “nhiều quyền chọn” hơn. Một người có ảo tưởng về sự ổn định, nhưng lại mỏng manh; người kia có ảo tưởng về sự biến động, nhưng mạnh mẽ và thậm chí có khả năng cải thiện nghịch cảnh.
Một hệ thống bạn nhận thấy càng có nhiều biến động thì càng ít phụ thuộc vào các biến cố Thiên Nga Đen. Giờ ta hãy xem thử điều này áp dụng cho các hệ thống chính trị như thế nào qua câu chuyện đất nước Thụy Sĩ.
Gần đây tôi có đến một quán cà-phê-chuyển-thành-nhà-hàng đắt đỏ ở Zurich, nghiền ngẫm cái thực đơn có giá cao ngất trời, chí ít cũng gấp ba lần so với một nơi có chất lượng tương đương ở Hoa Kỳ. Cuộc khủng hoảng thế giới gần đây đã làm cho Thụy Sĩ trở thành một cõi thiên đường an toàn hơn bao giờ hết, khiến đồng tiền nước này tăng giá ngoạn mục - Thụy Sĩ là nơi có khả năng cải thiện nghịch cảnh nhất hành tinh; đất nước này hưởng lợi từ những cú sốc diễn ra ở phần còn lại của thế giới. Bạn tôi, một nhà văn, cho biết Lênin từng sống ở thành phố này, từng chơi cờ trong quán cà phê với nhà thơ Tristan Tzara thuộc trào lưu Dadaism. Vâng, nhà cách mạng Nga, Vladimir Ilyich Ulyanov, về sau được gọi là Lênin, đã có thời gian ở Thụy Sĩ, dựng lên dự án nhà nước hiện đại vĩ đại từ trên xuống dưới và thực nghiệm nhân sinh lớn nhất về sự kiểm soát nhà nước kế hoạch hóa tập trung. Tôi chọt nhận ra có điều gì kỳ quái qua sự hiện diện của Lênin ở nơi này, vì vài ngày trước đây, tôi có tham dự một hội nghị ở Montreux bên hồ Geneva, diễn ra ở cùng khách sạn ven hồ nơi Vladimir Nabokov, nhà quý tộc Nga lưu vong và nạn nhân của Lênin, sống những thập niên cuối đời.
Với tôi dường như thật thú vị khi xem ra một phần công việc kinh doanh cơ bản của Liên bang Thụy Sĩ là làm nơi nương náu cho cả Hồng quân lẫn Bạch vệ, cả Bônsêvích và các nhà quý tộc Nga mà về sau họ đã chiếm chỗ. Những thành phố chính như Zurich, Geneva, hay Lausanne vẫn còn lưu lại dấu vết của những người tị nạn chính trị đến đó tìm chốn nương thân: từ những người lưu vong thuộc hoàng tộc Iran bị người Hồi giáo đánh đuổi cho đến những kẻ thống trị châu Phi gần đây nhất thực hiện “kế hoạch B”. Ngay cả Voltaire cũng có thời gian ẩn náu ở Ferney, một vùng ngoại ô Geneva gần biên giới Pháp (thậm chí trước khi nơi này gia nhập liên bang). Voltaire, kẻ thích châm chọc nhưng được bảo vệ hoàn hảo, đã vội lao đến Ferney ngay sau khi sỉ nhục vua Pháp, Giáo hội Công giáo, hay một nhà cầm quyền nào khác - điều mà người ta thường không biết về ông là, ông cũng có động cơ tìm kiếm sự bảo vệ ở đó vì những lý do tài chính. Voltaire là một người tự thành đạt, một thương gia giàu có, một nhà đầu tư, và một con buôn đầu cơ. Cũng đáng lưu ý rằng phần lớn tài sản của ông hình thành từ khả năng cải thiện nghịch cảnh trước những yếu tố căng thẳng, khi ông bắt đầu gầy dựng cơ đồ từ những năm tháng lưu đày đầu tiên.
Như vậy, cũng như Voltaire, có những người tị nạn thuộc các loại khác: những người tị nạn tài chính đến từ những vùng rối loạn, được nhận biết bởi trang phục đắt tiền và nhàm chán, ngôn ngữ tẻ nhạt, vẻ lịch thiệp giả tạo, và những chiếc đồng hồ đeo tay đắt tiền (sáng chói) - nói cách khác, không phải là Voltaire. Hệt như nhiều kẻ giàu, họ cảm thấy có quyền cười với những câu chuyện đùa của chính họ. Những người (tẻ nhạt) này không tìm chốn nương thân cho bản thân họ: chính tài sản của họ đi tìm nơi ẩn náu. Trong khi một vài nhân vật chính trị có thể thích trốn tránh rủi ro của chế độ quốc gia ở Pháp hay Anh, những nơi thú vị hơn vào tối thứ bảy, chắc chắn Thụy Sĩ là nơi tài khoản tiền gửi của họ muốn trú ẩn nhất. Đó là nơi mạnh mẽ nhất về mặt kinh tế trên hành tinh này, và vốn dĩ là thế qua nhiều thế kỷ.
Nhiều loại người và nhiều kiểu túi tiền đã ở đó, ở Thụy Sĩ, để ẩn thân, an toàn và ổn định. Nhưng tất cả những người tị nạn đều không chú ý đến một điều hiển nhiên: đất nước ổn định nhất thế giới này không có chính phủ. Và không phải đất nước ổn định bất chấp việc không có chính phủ; mà đúng ra, đất nước ổn định bởi vì không có chính phủ. Thử hỏi một công dân Thụy Sĩ ngẫu nhiên xem tên tổng thống nước họ là gì, rồi đếm số người có thể trả lòi được - họ thường nói tên tổng thống Pháp hay tổng thống Hoa Kỳ chứ không phải tổng thống nước họ. Đồng tiền nước họ hoạt động tốt nhất (vào thời điểm viết quyển sách này xem ra là đồng tiền an toàn nhất) thế nhưng ngân hàng trung ương thì bé xíu, thậm chí so với quy mô hoạt động của nó.
Những chính khách đang trả giá với thời gian trước khi (họ hy vọng) quay lại nắm quyền liệu có lưu ý đến việc không có chính phủ như thế hay không, ngoại trừ việc họ đang ở Thụy Sĩ bỏi chính việc không có chính phủ như vậy, và điều chỉnh ý tưởng của họ về các nhà nước tập quyền và hệ thống chính trị phù hợp với điều đó? Hoàn toàn không.
Hoàn toàn không phải là người Thụy Sĩ không có chính phủ. Cái mà họ không có là một chính phủ trung ương lớn; hệ thống cai quản họ hoàn toàn là từ dưới lên trên, kiểu như các chính quyền khu vực hay chính quyền đô thị, được gọi là các bang (canton), đại loại như các tiểu bang có chủ quyền, được hợp nhất trong một liên bang. Có nhiều biến động, với sự kình địch giữa người dân chỉ dừng lại ở mức độ những trận tranh giành thác nước hay những cuộc tranh cãi không hứng thú khác. Điều này không hẳn dễ chịu, vì những người láng giềng biến thành những kẻ hay gây sự; đây là một kiểu chuyên quyền từ dưới lên trên, chứ không phải từ trên xuống dưới, nhưng vẫn là chuyên quyền. Nhưng kiểu chuyên quyền từ dưới lên trên này mang lại sự bảo vệ trước chủ nghĩa lãng mạn của những kẻ không tưởng, vì không có ý tưởng lớn nào nảy sinh trong một bầu không khí phi trí tuệ như thế; vừa đủ để ta mất thời gian trong những quán cà phê ở khu phố cổ của Geneva, đặc biệt là vào chiều chủ nhật, để hiểu rằng quá trình này thật là phi trí tuệ, không có chút cảm giác nào về sự vĩ đại phi thường, mà thậm chí hết sức nhỏ bé vụn vặt (có một câu chuyện đùa dí dỏm nổi tiếng rằng thành tựu vĩ đại nhất của người Thụy Sĩ là phát minh ra chiếc đồng hồ cúc cu, trong khi những nước khác sản sinh ra những công trình vĩ đại - một câu chuyện dễ thương, chỉ có điều, người Thụy Sĩ không phát minh ra đồng hồ cúc cu!). Nhưng hệ thống tạo ra sự ổn định - sự ổn định nhàm chán - ở mọi cấp độ khả dĩ.
Cũng lưu ý rằng quang cảnh phù phiếm gớm ghiếc mà ta gặp phải ở Thụy Sĩ, ở mọi nơi ở Geneva, ở một vài nơi thuộc Zurich (trung tâm), và đặc biệt ở những khu nghỉ mát trượt tuyết như Gstaadt hay San Moritz không phải là sản phẩm trực tiếp mà cũng chẳng phải là thông điệp của đất nước, mà là kết quả của thành công quốc gia, bỏi Thụy Sĩ là cục nam châm thu hút những người giàu có xấu xí và những kẻ tị nạn trốn thuế.
Lưu ý rằng đây là đất nước cuối cùng không phải là một nhà nước tập quyền, mà đúng hơn là một tập hợp những đô thị với những bộ máy cai quản riêng.
NHỮNG BIẾN THIÊN TỪ DƯỚI LÊN TRÊN
Cái mà tôi gọi là biến thiên từ dưới lên trên - hay độ nhiễu - là kiểu biến động chính trị diễn ra trong một đô thị, những cuộc đấu tranh và va chạm nho nhỏ khi điều hành những sự vụ thông thường. Nó không thể leo thang (hay còn gọi là bất biến trong quá trình biến đổi quy mô); nói cách khác, nếu bạn tăng quy mô, ví dụ như bạn nhân số dân trong một cộng đồng cho 100, bạn sẽ thấy những diễn biến động học khác biệt rõ rệt. Một nhà nước lớn hoàn toàn không thể hành xử như một chính quyền đô thị khổng lồ, kiểu như một em bé không thể nào giống như một người trưởng thành nhỏ con được. Sự khác biệt là trên phương diện định tính: tăng số người trong một cộng đồng cho trước làm thay đổi chất lượng mối quan hệ giữa các bên. Ta hãy nhớ lại khái niệm tuyến tính trong phần mở đầu. Nếu bạn nhân số dân trong một cộng đồng lên 10 lần, bạn sẽ không bảo toàn được các thuộc tính của cộng đồng: sẽ có sự biến đổi. Ở đây, những cuộc chuyện trò giao lưu sẽ chuyển từ thế tục - nhưng hữu hiệu - trở thành trừu tượng, tuy thú vị hơn, có thể mang tính học thuật hơn, nhưng than ôi, sẽ kém hữu hiệu hơn.
Một nhóm đô thị với sự kình địch hấp dẫn giữa các tỉnh thành, những cuộc đấu tranh nội bộ riêng, và dân chúng ra đi tìm đến một đô thị khác, tổng hợp lại thành nhà nước khá ôn hòa và ổn định. Thụy Sĩ cũng tương tự như thu nhập của người em, ổn định nhờ vào sự biến thiên và độ nhiễu ở cấp địa phương. Hệt như thu nhập của tài xế taxi thể hiện sự bất ổn trên cơ sở hàng ngày, nhưng hợp lại cả năm thì ổn định, Thụy Sĩ cũng thể hiện sự ổn định ở cấp độ tổng thể, khi sự kết hợp các bang tạo thành một hệ thống vững chắc.
Cách thức dân chúng lo liệu các vụ việc địa phương vô cùng khác biệt so với cách thức họ xử lý các khoản mục chi tiêu công cộng lớn và trừu tượng: chúng ta vốn có truyền thống sống trong những đơn vị nhỏ và những bộ lạc, và quản lý khá tốt trong những đơn vị nhỏ.26
Ngoài ra, sinh học đóng một vai trò nhất định trong môi trường đô thị, chứ không phải trong một hệ thống lớn hơn. Trong một hệ thống lớn, chính quyền sẽ được bảo vệ để không cảm thấy ngượng ngùng xấu hổ (đỏ mặt), một phản ứng sinh học trước sự chi tiêu ngân sách quá mức và những thất bại khác. Sự tiếp xúc bằng mắt với những người đồng cấp khác làm thay đổi hành vi của người ta. Nhưng đối với một kẻ hút máu ngồi sau bàn giấy, một con số chỉ là một con số. Ai đó mà bạn gặp ở nhà thờ vào sáng chủ nhật sẽ cảm thấy áy náy không yên vì những lầm lỗi của mình, và cảm thấy có trách nhiệm nhiều hơn với những lỗi lầm đó. Trên quy mô nhỏ của địa phương, phản ứng sinh học và cơ thể của ông sẽ chỉ đạo ông tránh gây hại cho những người khác. Trên quy mô lớn, “những người khác” trở thành một khái niệm trừu tượng; khi thiếu sự tương tác xã hội với những người có liên quan, bộ não của công chức sẽ chỉ đạo chứ không phải cảm xúc - với những con số, những bảng tính, số liệu thống kê, các lý thuyết và lại nhiều bảng tính hơn.
Khi tôi trình bày ý tưởng này với đồng tác giả Mark Blyth, anh thốt ra một điều hiển nhiên: “Stalin ắt sẽ không thể tồn tại trong một chính quyền đô thị.”
Khái niệm “nhỏ là đẹp” cũng áp dụng theo nhiều cách khác. Tạm thời bây giờ hãy cho rằng nhỏ thì có khả năng cải thiện nghịch cảnh hơn (nghĩa là nhỏ trong tổng thể, nghĩa là một tập hợp các đơn vị nhỏ); thật ra, lớn sẽ có nguy cơ đổ vỡ; nhưng thật buồn thay, một thuộc tính toán học mà chúng tôi sẽ giải thích sau, dường như xem vũ trụ là để áp dụng cho những công ty lớn, những động vật có vú rất lớn, và những chính quyền lớn.27
Lại còn một vấn đề nữa với trạng thái trừu tượng, vấn đề tâm lý. Con người chúng ta thường coi thường những gì không cụ thể. Ta dễ dàng xúc động trước một em bé đang khóc hơn so với khi hàng nghìn người đang chết ở những nơi khác mà không được đưa vào phòng khách nhà ta thông qua chương trình truyền hình. Trường hợp này là bi kịch, trường hợp kia là số liệu thống kê. Năng lực cảm xúc của ta bị trơ ì trước số liệu xác suất. Truyền thông làm cho sự tình tồi tệ hơn khi họ lợi dụng sự đắm đuối của ta vào các giai thoại, nỗi thèm khát cảm giác giật gân của ta, và họ gây ra nhiều tình trạng không công bằng theo cách đó. Vào thời điểm hiện tại, cứ mỗi 7 giây lại có một người chết vì bệnh tiểu đường, nhưng tin tức chỉ nói về nạn nhân của cơn bão với hàng nghìn căn nhà bay lên không trung.
Vấn đề nằm ở chỗ, thông qua dựng lên các bộ máy nhà nước, ta đặt các công chức vào cương vị ra quyết định dựa vào các vấn đề trừu tượng và lý thuyết, với ảo tưởng rằng họ sẽ ra quyết định một cách hợp lý và có trách nhiệm giải trình.
Ta cũng thấy rằng, những người vận động hành lang - cuộc đua phiền phức của những kẻ vận động hành lang - không thể tồn tại trong một chính quyền đô thị hay một khu vực nhỏ. Dân châu Âu, nhờ sự tập trung quyền lực với Ủy ban châu Âu ở Brussels, nhanh chóng phát hiện ra sự xuất hiện của các biến thể này nhằm thao túng nền dân chủ vì quyền lợi của một số công ty lớn. Thông qua tác động đến một quyết định hay một quy định ở Brussels, một kẻ vận động hành lang có thể đạt được cả một băng đảng lớn. Đó là một kết quả đạt được to lớn hơn nhiều (với chi phí thấp) so với ở các chính quyền đô thị, sẽ đòi hỏi phải có những đội quân vận động hành lang ra sức thuyết phục dân chúng đồng thời bị bao vây trong cộng đồng của họ.28
Cũng thử xem một ảnh hưởng khác của quy mô: những công ty nhỏ ít có xu hướng có những kẻ vận động hành lang hơn.
Ảnh hưởng từ dưới lên trên này cũng áp dụng cho luật pháp. Triết gia chính trị và pháp luật người Ý Bruno Leoni đã lập luận ủng hộ tính mạnh mẽ của luật pháp dựa vào sự phân xử của tòa án (nhờ vào sự đa dạng của nó) so với những bộ luật công khai và cứng nhắc. Quả thật, việc chọn lựa một tòa án có thể là một trò may rủi - nhưng nó giúp ngăn ngừa những sai lầm quy mô lớn.
Tôi sử dụng ví dụ về Thụy Sĩ để chứng minh khả năng cải thiện nghịch cảnh tự nhiên của các hệ thống chính trị và sự ổn định đạt được nhờ quản lý độ nhiễu, có một cơ chế là để cho nó vận hành một cách tự nhiên, chứ không phải thông qua hạn chế nó đến mức tối thiểu.
Lưu ý một đặc điểm khác của Thụy Sĩ: đây có lẽ là đất nước thành công nhất trong lịch sử, thế nhưng đất nước này lại có truyền thống có một mức giáo dục đại học rất thấp so với những nước giàu khác. Hệ thống của họ, thậm chí trong hoạt động ngân hàng vào thời tôi, dựa vào các mô hình học việc, gần như là hướng nghiệp, chứ không phải mô hình lý thuyết. Nói cách khác, họ dựa vào techno (ngón nghề và bí quyết) chứ không phải dựa vào episteme (tri thức).
LUÔN LUÔN TỪ NGẪU NHIÊN CỰC ĐỘ
Ta hãy xem xét khía cạnh toán học của quá trình, một góc nhìn thống kê về ảnh hưởng của sự can thiệp của con người vào sự biến động của các vụ việc. Có một thuộc tính toán học về sự biến động từ dưới lên trên này, và về sự biến động của các hệ thống tự nhiên. Nó tạo ra kiểu ngẫu nhiên mà tôi gọi là Ngẫu nhiên bình thường (Mediocristan) - nhiều sự biến thiên tuy có thể đáng sợ, nhưng có xu hướng bù trừ lẫn nhau trong tổng thể (theo thời gian, hay theo tập hợp của các chính quyền đô thị tạo thành một liên bang hay một thực thể lớn hơn) - trái với kiểu bất kham mà tôi gọi là Ngẫu nhiên cực độ (Extremistan), trong đó bạn có hầu hết là ổn định và thi thoảng mới có những xáo trộn lớn - những sai lầm gây ra những hệ lụy to lớn. Kiểu này thì dao động, kiểu kia thì nhảy vọt. Kiểu này có nhiều biến thiên nhỏ, kiểu kia biến đổi toàn thể. Hệt như thu nhập của tài xế so với thu nhập của nhân viên ngân hàng. Hai loại ngẫu nhiên này khác nhau về mặt định tính.
Hệ thống Ngẫu nhiên bình thường có nhiều biến thiên, nhưng không biến thiên nào có tính cực độ. Còn hệ thống Ngẫu nhiên cực độ hiếm có biến thiên, nhưng khi biến động xảy ra thì rất lớn, mang tính cực đoan.
Một cách khác để ta tìm hiểu sự khác biệt: Lượng calori bạn hấp thu thuộc hệ thống Ngẫu nhiên bình thường. Nếu bạn tăng lượng calori tiêu thụ trong một năm, thậm chí không cần điều chỉnh ước lệ sai lầm của bạn, thì không một ngày nào tiêu biểu cho một giá trị đáng kể trong tổng thể (ví dụ, hơn 0,5% của tổng thể, tương ứng với gần 5.000 calori, trong khi bạn có thể tiêu thụ 800.000 calori trong một năm). Vì thế, một ngoại lệ, một biến cố hiếm hoi, sẽ không gây ra hệ quả gì trong tổng thể và dài hạn. Bạn không thể tăng gấp đôi trọng lượng chỉ sau một ngày, thậm chí sau một tháng, có lẽ sau một năm cũng không thể - nhưng bạn có thể tăng gấp đôi tài sản ròng hay mất đi một nửa chỉ trong khoảnh khắc.

Hình 3. Độ nhiễu của các chính quyền đô thi, hay biến thiên trong các khu chợ (hình bên trái) so với độ nhiễu hay biến thiên của các hệ thống tập quyền hay hệ thống do con người quản lý (hình bên phải); tương tự, thu nhập của một tài xế taxi (hình bên trái) và thu nhập của một nhân viên ngân hàng (hình bên phải). Hình bên phải trình bày những biến động diễn ra to lớn và đột ngột, hay các biến cố Thiên Nga Đen. Sự can thiệp của con người nhằm làm diu hay kiểm soát các quá trình sẽ gây ra sự biến đổi từ hệ thống Ngẫu nhiên bình thường sang hệ thống Ngẫu nhiên cực độ. Hiệu ứng này áp dụng cho mọi kiểu hệ thống bi hạn chế biến thiên - các hệ thống y tế, chính tri, kinh tế và ngay cả tâm trạng của con người khi có và không có thuốc chống trầm cảm Prozac; hay sự khác nhau giữa Thung lũng Silicon dựa vào các nghiệp chủ (hình bên trái) và hệ thống ngân hàng (hình bên phải).
Trái lại, nếu bạn xem xét doanh số bán tiểu thuyết chẳng hạn, hơn một nửa doanh số (và có lẽ 90% lợi nhuận) có xu hướng hình thành từ 0,1% tác phẩm hay nhất, cho nên một trường hợp ngoại lệ, hay một biến cố hiếm hoi một phần nghìn, sẽ chi phối ở đây. Vì thế, các vấn đề tài chính - và các vấn đề kinh tế khác - có xu hướng là hệ thống Ngẫu nhiên cực độ, cũng như lịch sử, vốn biến thiên bỏi sự gián đoạn và nhảy vọt từ trạng thái này sang trạng thái khác.29
Hình 3 minh họa các hệ thống bị tổn thương như thế nào khi bị tước đoạt sự biến thiên tự nhiên (phần lớn là do sự can thiệp ngây thơ). Ngoài độ nhiễu của các chính quyền đô thị, logic này cũng áp dụng cho những đứa bé được đưa ra không gian bên ngoài sau một thời gian ấp ủ trong một môi trường khử trùng; cho một hệ thống với sự ổn định chính trị theo mệnh lệnh từ trên xuống; cho ảnh hưởng của các biện pháp kiểm soát giá; lợi thế của quy mô công ty vv… Chúng ta chuyển đổi từ một hệ thống tạo ra sự biến động đều đặn nhưng có thể kiểm soát (Ngẫu nhiên bình thường) gần với “đường cong hình chuông” trong thống kê (từ phân phối chuẩn hay phân phối Gaussian họ lành) sang một hệ thống có sự biến thiên không thể dự đoán và dao động chủ yếu bằng những cú nhảy, được gọi là “đuôi béo” (fat tails). “Đuôi béo” đồng nghĩa với Ngẫu nhiên cực độ, có nghĩa là những biến cố xa vòi, gọi là “cái đuôi”, nhưng đóng vai trò khốc liệt không cân xứng. Hệ thống thứ nhất (hình bên trái) có biến động, có chao đảo nhưng không bị chìm. Hệ thống thứ hai (hình bên phải) chìm nghỉm mà không có nhiều dao động nhỏ ngoài những pha náo loạn. Trong dài hạn, hệ thống thứ hai sẽ biến động nhiều hơn, nhưng biến động xuất phát từ toàn thể. Khi ta chế ngự hệ thống thứ nhất, ta có xu hướng đi đến kết quả của hệ thống thứ hai.
Cũng nên lưu ý rằng trong hệ thống Ngẫu nhiên cực độ khả năng dự đoán là rất thấp. Trong hệ thống thứ hai, nghĩa là trong kiểu ngẫu nhiên êm ả giả hiệu, sai lầm dường như rất hiếm hoi, nhưng mỗi khi xuất hiện lại rất to lớn và có sức tàn phá. Trên thực tế, như một lập luận mà chúng tôi sẽ triển khai trong tập IV, bất luận điều gì bị trói buộc vào các kế hoạch thường có xu hướng thất bại, chính xác do những thuộc tính này - việc lập kế hoạch mà có ích cho các công ty gần như là chuyện hoang đường: trên thực tế, ta thấy thế giới quá ngẫu nhiên và không thể dự đoán nên không thể đặt ra một chủ trương chính sách dựa vào việc thấy trước tương lai. Những gì còn tồn tại được đến giờ là nhờ tương tác giữa sự thích nghi thể trạng và điều kiện môi trường.
Vấn đề gà tây vĩ đại
Bây giờ thôi hãy tạm biệt các thuật ngữ toán học và đồ thị của Đuôi béo và Ngẫu nhiên cực độ để trở về với những người Libăng bình thường. Trong Ngẫu nhiên cực độ, người ta có xu hướng bị mắc lừa bởi các thuộc tính của quá khứ và đưa câu chuyện về quá khứ một cách chính xác. Nhìn vào những gì xảy ra trong đồ thị bên phải của hình 3, trước khi có một bước nhảy sâu xuống dưới, thật dễ dàng tin rằng hệ thống hiện đang an toàn, nhất là khi hệ thống đã đạt được sự biến đổi tiến bộ từ kiểu ngẫu nhiên biến động “đáng sợ” dễ thấy ở bên trái sang trạng thái “có vẻ” an toàn ở bên phải. Nhìn vào có vẻ như giảm tính biến động, nhưng thật ra không phải.

Hình 4. Một con gà tây sử dụng “bằng chứng”; không có chút ý thức gì về ngày Lễ Tạ ơn, nó đang đưa ra những dự báo tương lai “vững chắc” dựa vào quá khứ. Thực hiện: George Nasr
Một con gà tây được người bán thịt vỗ béo suốt một nghìn ngày; mỗi ngày lại khẳng định với đội ngũ chuyên gia phân tích của mình rằng người bán thịt yêu gà tây “với độ tin cậy thống kê gia tăng.” Người bán thịt vẫn tiếp tục vỗ béo gà tây cho đến vài ngày trước Lễ Tạ on. Rồi đến cái ngày mà việc làm gà tây không còn là một ý hay nữa. Thế nên khi người bán thịt làm cho nó ngạc nhiên, gà tây sẽ thay đổi niềm tin của mình - đúng lúc sự tự tin của nó vào nhận định người bán thịt yêu gà tây đang ở mức cực đại; và rồi trong đời gà tây, mọi thứ “thật là yên lặng” và có thể dự đoán một cách dễ chịu. Ví dụ này phỏng theo một ẩn dụ của Bertrand Russell. Mấu chốt nằm ở chỗ, nỗi ngạc nhiên đó chính là một biến cố Thiên Nga Đen, nhưng chỉ đối với gà tây, chứ không phải với người bán thịt.
Từ câu chuyện gà tây, ta cũng có thể nhìn thấy nguồn cội của mọi sai lầm tai hại: coi sự không có bằng chứng (về nguy hại) là bằng chứng không có (nguy hại), một sai lầm mà ta sẽ thấy có xu hướng phổ biến trong giới trí thức và thâm căn cố đế trong khoa học xã hội.
Vì thế, sứ mệnh trong đời ta đơn giản là “làm sao đừng trở thành gà tây”, hay nếu có thể, làm sao để trở thành hiện tượng ngược lại, nghĩa là có khả năng cải thiện nghịch cảnh. “Không trở thành gà tây” bắt đầu bằng việc tìm ra sự khác biệt giữa ổn định thực thụ và ổn định giả tạo.
Độc giả có thể dễ dàng hình dung chuyện gì xảy ra khi những hệ thống bị kiềm chế biến động trở nên nổ tung. Chúng ta có một ví dụ phù hợp: việc loại trừ Đảng Baath, khi Hoa Kỳ bất ngờ lật đổ Saddam Hussein và chế độ của ông ta vào năm 2003. hơn một trăm nghìn người thiệt mạng, và hơn 10 năm sau, nơi này vẫn còn là một đống đổ nát.
MƯỜI HAI NGHÌN NĂM
Chúng ta đã bắt đầu thảo luận về nhà nước với ví dụ về Thụy Sĩ. Bây giờ ta sẽ đi xa hơn một chút về phía đông.
Vùng bắc Levant, đại khái là khu vực phía bắc Syria và Libăng ngày nay, có lẽ từng là một tỉnh trù phú nhất trong lịch sử nhân loại, kéo dài suốt từ thời Đồ đá mới trước thời kỳ đồ gốm cho đến lịch sử hiện đại, ngay giữa thế kỷ 20. Đó là 12 nghìn năm, so với nước Anh mới chỉ thịnh vượng khoảng 500 năm nay, hay so với Scandinavia (Bắc Âu), hiện cũng chỉ giàu có chưa đầy 300 năm. Hiếm nơi nào trên hành tinh này từng xoay xở để phát đạt một cách liên tục đến thế trong một khoảng thời gian dài đến vậy, mà các sử gia gọi là longue durée (thời gian dài). Những thành phố khác phồn vinh rồi lụi tàn; Aleppo, Emesa (ngày nay là Homs), và Laodicea (Lattakia) vẫn còn tương đối giàu có.
Vùng bắc Levant từ thời cổ đại đã được các thương gia chiếm lĩnh, chủ yếu nhờ vào vị trí trung tâm của nó trên Con đường Tơ lụa, và các lãnh chúa nông nghiệp, vì tỉnh này cung cấp lúa mì cho phần lớn vùng Địa Trung Hải, đặc biệt là La Mã. Đây là nơi sinh ra một vài vị hoàng đế La Mã, một vài vị giáo hoàng Công giáo La Mã trước khi ly giáo, và hơn 30 nhà văn và triết gia tiếng Hy Lạp (bao gồm nhiều viện trưởng viện hàn lâm Plato), cùng với tổ tiên của nhà doanh nghiệp máy tính biết nhìn xa trông rộng Steve Jobs, người mang đến cho ta máy tính Apple, mà với một trong những chiếc máy ấy tôi đang sao chép lại những dòng chữ này (cũng như máy tính bảng iPad, để qua đó bạn có thể đang đọc những dòng chữ này). Chúng ta biết về sự tự trị của tỉnh Levant từ sử sách trong thời kỳ La Mã, vì khi ấy nó được cai quản bởi giới quyền thế địa phương, một phương pháp cai trị phân quyền thông qua người dân địa phương mà Đế chế Ottoman giữ lại. Các tỉnh thành tự đúc đồng tiền riêng.
Rồi hai biến cố xảy ra. Thứ nhất, sau Chiến tranh thế giới I, một phần của vùng bắc Levant được sáp nhập vào quốc gia mới thành lập Syria, tách ra khỏi phần còn lại hiện thuộc Libăng. Cho tới lúc ấy, toàn bộ vùng này từng là một phần của Đế chế Ottoman, nhưng vận hành như những vùng khá tự trị; người Ottoman, cũng như người La Mã trước họ, để cho giới quyền thế địa phương điều hành nơi này miễn là nộp đủ thuế, trong khi họ tập trung vào công việc chiến tranh. Kiểu hòa bình đế chế của Ottoman, gọi là pax Ottomana, cũng như tiền thân của nó, pax Romana (hòa bình đế chế La Mã), tốt cho hoạt động thương mại. Các hợp đồng được thực thi, và đó là điều chính phủ các nước cần nhất. Trong quyển sách hoài cổ gần đây Levant, Philip Mansel dẫn chứng các thành phố đông Địa Trung Hải đã vận hành như các thành bang tách biệt với vùng sâu trong đất liền như thế nào.
Sự kiện thứ hai: sau vài thập niên hòa nhập vào đất nước Syria, Đảng Baath hiện đại thực thi những kế hoạch không tưởng. Ngay sau khi Đảng Baath tập trung hóa nơi này và cưỡng chế thi hành luật pháp nhà nước, Aleppo và Emesa lập tức bước vào thời kỳ suy tàn.
Những gì Đảng Baath làm trong chương trình “hiện đại hóa” của họ là xóa bỏ sự hỗn độn cổ xưa của các khu chợ và thay thế bằng chủ nghĩa hiện đại bảnh bao diêm dúa của các tòa nhà văn phòng.
Ảnh hưởng bộc lộ rõ ràng ngay lập tức: ngay trong một sớm một chiều các gia đình thương nhân chuyển tới những nơi như New York và New Jersey (đối với người Do Thái), California (đối với người Armenia) và Beirut (đối với người Ki-tô giáo). Beirut mang lại một môi trường thân thiện với hoạt động thương mại, và Libăng là một nhà nước hiền hòa, nhỏ hơn, bát nháo, không có một chính phủ trung ương nào. Libăng đủ nhỏ để trở thành một chính quyền đô thị, thậm chí còn nhỏ hơn so với một khu vực đô thị quy mô trung bình.
Chiến tranh, ngục tù, hay cả hai
Nhưng trong khi Libăng có mọi phẩm chất phù hợp, thì nhà nước quá lỏng lẻo, và thông qua việc cho phép các phe phái Palestine và các lực lượng dân quân Ki-tô giáo sở hữu vũ khí, nhà nước đã gây ra một cuộc chạy đua vũ trang giữa các cộng đồng mà vẫn điềm nhiên nhìn toàn bộ quá trình tăng cường vũ trang diễn ra. Cũng có sự mất cân bằng giữa các cộng đồng, trong đó người Ki-tô giáo cố gắng áp đặt tính cách của họ lên nơi này. Tình trạng bát nháo càng gia tăng, nhưng nhà nước Libăng là một biện pháp quá bát nháo. Điều đó cũng hệt như việc cho phép mỗi ông trùm mafia New York được có quân đội đông đảo hơn so với Hội đồng tham mưu liên quân Hoa Kỳ. Vì thế vào năm 1975, một cuộc nội chiến tàn khốc đã nổ ra ở Libăng.
Có một câu nói vẫn còn gây sốc cho tôi mỗi khi nghĩ tới; đó là câu nói của một trong những người bạn của ông tôi, một thương nhân Aleppo giàu có chạy trốn chế độ Baath. Khi ông tôi hỏi bạn mình vào thời kỳ chiến tranh Libăng rằng tại sao ông ấy không quay về Aleppo, ông đáp dứt khoát: “Người Aleppo chúng ta thích chiến tranh hơn ngục tù”. Tôi tưởng ý ông muốn nói là họ sắp bỏ tù ông, nhưng rồi tôi nhận ra, “ngục tù” ở đây có nghĩa là mất đi sự tự do chính trị và kinh tế.
Đời sống kinh tế cũng vậy, cũng thích chiến tranh hơn ngục tù. Khoảng một thế kỷ trước đây, Libăng và bắc Syria đều có của cải trên đầu người hết sức tương tự như nhau (các nhà kinh tế học gọi là Tổng sản lượng nội địa - GDP), và có văn hóa, ngôn ngữ, tính cách sắc tộc, thực phẩm, và thậm chí những câu chuyện đùa đều giống hệt nhau. Mọi thứ đều như nhau ngoại trừ sự cai trị của Đảng Baath “hiện đại” ở Syria so với nhà nước hoàn toàn hiền hòa ở Libăng. Bất chấp nội chiến tàn sát dân chúng, gây ra tình trạng chảy máu chất xám và làm đất nước nghèo đi khoảng vài thập niên, cộng thêm đủ mọi kiểu rối loạn khả dĩ làm chao đảo nơi này, Libăng ngày nay có một mức sống cao hơn đáng kể, giàu hơn Syria từ ba đến sáu lần.
Machiavelli không bỏ sót hiện tượng này. Jean-Jacques Rousseau viết, dẫn lời của Machiavelli. “Machiavelli từng viết, xem ra ngay giữa những vụ giết chóc và những cuộc nội chiến, nền cộng hòa của chúng ta đã trở nên vững mạnh hơn [và] dân chúng thấm nhuần nhiều đức tính… Một chút xáo trộn giúp mang lại nguồn lực cho tâm hồn, và điều làm cho nòi giống thịnh vượng hơn không phải là hòa bình, mà là tự do.”
Hòa bình đế chế La Mã (Pax Romana)
Nói chính xác ra, nhà nước tập quyền chẳng phải mới lạ trong lịch sử. Thật ra, nó đã tồn tại dưới một hình thức gần giống như thế ở Ai Cập cổ đại. Nhưng đây là một biến cố tách biệt trong lịch sử và không tồn tại dài lâu. Nhà nước Ai Cập bắt đầu sụp đổ sau khi tiếp xúc với những kẻ xâm lược gây rối bát nháo man rợ bất kham điên rồ đến từ Tiểu Á với những cỗ xe ngựa tấn công, đúng là những cỗ xe mang tầm vóc lịch sử.
Các triều đại Ai Cập cổ đại không cai quản nơi này như một đế chế mà giống như một nhà nước hội nhập, vô cùng khác biệt; như chúng ta sẽ thấy, nhà nước này tạo ra những kiểu biến thiên rất khác. Các nhà nước tập quyền dựa vào bộ máy nhà nước tập trung, trong khi các đế chế, như đế chế La Mã và các vương triều Ottoman, dựa vào giới quyền thế địa phương, thật ra là cho phép các thành bang được phát triển và có quyền tự trị thực sự; và điều tuyệt vòi đối với nền tự trị thanh bình như thế là thương mại, chứ không phải quân sự. Trên thực tế, người Ottoman đã ban cho các nước chư hầu và bá chủ này một ân huệ thông qua việc ngăn họ liên lụy với chiến tranh; điều này lấy đi nỗi cám dỗ quân phiệt và giúp họ thịnh vượng; bất chấp bề ngoài hệ thống có vẻ bất hợp lý đến đâu đi nữa, nó cho phép người dân địa phương tập trung vào thương mại chứ không phải chiến tranh. Nó bảo vệ họ trước chính họ. Đây là một lập luận đã được David Hume nêu lên trong quyển sách History of England (Lịch sử nước Anh), ủng hộ các nhà nước nhỏ, vì những nhà nước lớn dễ bị cám dỗ lao vào chiến tranh.
Rõ ràng cả người La Mã cũng như người Ottoman đã cho phép địa phương tự trị chẳng phải bởi tình yêu tự do dành cho những người khác; họ làm thế chỉ vì thuận tiện. Sự kết hợp của đế chế (trong một vài sự vụ) và các vùng bán độc lập (để họ tự lo liệu công việc riêng) mang lại ổn định nhiều hơn so với một nhà nước tập quyền với quốc kỳ và biên giới riêng biệt.
Nhưng các nhà nước, ngay cả khi tập quyền như ở Ai Cập hay Trung Quốc, trong thực tiễn cũng không quá khác biệt so với nhà nước La Mã hay Ottoman - ngoại trừ sự tập trung trí lực với các học giả tôn giáo và hệ thống chính trị quan liêu thiết lập sự độc quyền về tri thức. Trong chúng ta hẳn có người còn nhớ về những ngày chưa có Internet, chưa có sự giám sát chuyển tiền điện tử để kiểm tra tờ khai thuế. Và trước khi có các mạng lưới truyền thông hiện đại, với điện tín, xe lửa, và tiếp đến là điện thoại, các nhà nước phải dựa vào dịch vụ người đưa tin. Vì thế, một nhà cai trị địa phương là vua trong hầu hết vấn đề dù trên danh nghĩa thì không phải. Mãi cho đến lịch sử gần đây, nhà nước trung ương chỉ tiêu biểu cho khoảng 5% nền kinh tế, so với khoảng gấp 10 lần tỷ phần đó ở châu Âu hiện đại. Và Hơn nữa, chính phủ các nước thời ấy còn mải lo chiến tranh nên phải giao lại các vụ việc kinh tế cho các doanh nhân.30
Chiến tranh hay không chiến tranh
Ta hãy nhìn lại châu Âu trước khi thành lập các nhà nước tập quyền Đức và Ý (được quảng bá là sự “tái thống nhất,” cứ như thể các nước này từng là những đơn vị hoành tráng trong một quá khứ lãng mạn nào đó). Cho đến khi thành lập các quốc gia lãng mạn này, đã từng có nhiều thành bang không có hình dạng và sinh sản bằng cách tự phân chia trong tình trạng căng thẳng liên miên, nhưng cũng là những liên minh thăng trầm. Trong hầu hết lịch sử của họ, Genoa và Venice từng tranh giành nhau vùng Đông và Nam Địa Trung Hải như hai cô gái làng chơi tranh nhau một vỉa hè. Và đây là ưu điểm của những thành bang đang xung đột: một thành bang thông thường không thể đối phó trước nhiều kẻ thù, nên chiến tranh ở nơi này biến thành liên minh ở nơi khác. Tình trạng căng thẳng luôn luôn hiện diện đâu đó nhưng không có những hệ lụy to lớn, như sự kết tụ ở quần đảo Anh; mưa nhỏ và không có ngập lụt thì dễ quản lý hơn nhiều so với ngược lại: khô hạn kéo dài tiếp đến là bão tố ầm ầm. Nói cách khác, Ngẫu nhiên bình thường dễ xử lý hơn.
Lẽ dĩ nhiên, sau đó là phong trào thành lập các nhà nước tập quyền lây lan vào cuối thế kỷ 19 dẫn đến những gì mà ta thấy là hai cuộc chiến tranh thế giới và những hệ lụy của nó: hơn 60 triệu nạn nhân (và có thể đến 80 triệu). Khác biệt giữa chiến tranh và không có chiến tranh trở nên to lớn, với sự gián đoạn rõ rệt. Điều này chẳng khác gì việc chuyển sang hiệu ứng “được ăn cả ngã về không” trong công nghiệp, sự chi phối của những biến cố hiếm hoi. Tập hợp những thành bang nhỏ tương tự như việc kinh doanh nhà hàng mà ta đã thảo luận trên đây: biến động, nhưng không bao giờ có một cuộc khủng hoảng nhà hàng toàn diện, không như một cuộc khủng hoảng ngân hàng chẳng hạn. Tại sao? Vì nó bao gồm nhiều đơn vị nhỏ độc lập và cạnh tranh nhau mà cá thể không đe dọa hệ thống và không làm cho hệ thống nhảy vọt từ trạng thái này sang trạng thái khác. Tính ngẫu nhiên được phân phối thay vì tập trung.
Nhiều người đã sụp đổ vì niềm tin kiểu gà tây ngây thơ rằng thế giới ngày càng trở nên an toàn hơn và dĩ nhiên họ ngây ngô quy điều đó cho “nhà nước” thần thánh (mặc dù đất nước Thụy Sĩ tản quyền từ dưới lên trên có tỷ lệ bạo lực thấp nhất so với bất kỳ quốc gia nào khác trên hành tinh). Điều đó chẳng khác gì nói rằng bom hạt nhân thì an toàn hơn vì nó ít khi nổ hơn. Thế giới ngày càng phụ thuộc vào việc ngày càng ít hành vi bạo lực hơn, trong khi chiến tranh có khả năng trở nên vô đạo đức hơn. Chúng ta hiện đang ở rất gần với cội nguồn của mọi thảm họa vào thập niên 60 của thế kỷ trước, khi Hoa Kỳ sắp sửa châm ngòi chiến tranh hạt nhân với Liên Xô. Rất gần. Khi ta xem xét rủi ro trong những hệ thống Ngẫu nhiên cực độ, ta không xem xét bằng chứng (bằng chứng luôn đến quá muộn), ta xem xét mối thiệt hại tiềm ẩn: chưa bao giờ thế giới dễ bị thiệt hại hơn thế; chưa bao giờ.31 Thật khó mà giải thích cho những người cả tin và bị số liệu dẫn dắt rằng rủi ro nằm ở tương lai chứ không phải ở quá khứ.
Đế chế đa chủng tộc hỗn loạn, cái gọi là Đế chế Áo-Hung, đã biến mất sau một cuộc chiến tranh vĩ đại, cùng với người láng giềng kiêm kẻ kình địch Ottoman (và ở mức độ rộng lớn cũng là người anh em - nhớ đừng nói với họ thế nhé), và được thay thế bằng các nhà nước tập quyền sạch sẽ bề thế. Đế chế Ottoman với các dân tộc lộn xộn của họ - hay đúng hơn, với những gì còn lại của họ - trở thành nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ, được lập mô hình theo Thụy Sĩ, nhưng không ai nhận ra sự trái ngược. Vienna trở nên lọt thỏm vào Áo, mà giữa Vienna và Áo gần như không có gì chung ngoài ngôn ngữ chính thức. Cứ hình dung ta dời New York vào giữa lòng Texas mà vẫn gọi đó là New York. Steifan Zweig, tiểu thuyết gia Do Thái gốc Vienna, hồi ấy được xem là tác giả có nhiều ảnh hưởng nhất thế giới, bày tỏ nỗi đau của ông trong hồi ký sầu thảm The World of Yesterday (Thếgiới của ngày hôm qua). Vienna gia nhập cộng đồng những thành phố đa văn hóa như Alexandra, Smyrna, Aleppo, Prague, Thessaloniki, Constantinople (giờ là Istanbul), và Trieste, trở nên bị o ép vào chiếc giường Procrustes, hay bị gọt chân cho vừa chiếc giày của nhà nước tập quyền, và người Vienna chìm đắm trong nỗi niềm hoài cổ xuyên thế hệ. Không thể giải quyết được nỗi mất mát và không thể hòa nhập ở nơi khác, Zweig về sau tự vẫn ở Brazil. Lần đầu tiên tôi hiểu nỗi lòng của ông là khi tôi bị đặt vào một tình thế lưu đày về thể xác và văn hóa tương tự khi thế giới Ki-tô giáo Levant của tôi bị vỡ tan bởi cuộc chiến tranh Libăng, và tôi tự hỏi không biết ông có còn sống không, nếu thay vì tự vẫn, ông đến New York.