Bây giờ chúng ta tìm hiểu về cách tân, khái niệm quyền chọn và khả năng chọn lựa. Làm thế nào để vượt qua những gì không thể thâm nhập và hoàn toàn chi phối, chinh phục chúng.
Summa Theologiae (Tổng luận thần học) của Saint Thomas Aquinas là loại sách hiện không còn tồn tại nữa, sách như một đài tưởng niệm, summa là xử lý toàn diện một ngành kiến thức, đồng thời giải thoát nó ra khỏi kết cấu mà các tài liệu trước đây trao cho nó, nghĩa là phản biện sách giáo khoa. Trong trường hợp này, đối tượng phản biện là lý thuyết, có nghĩa là mọi thứ triết lý, và phê bình mọi tri thức liên quan đến lập luận của tác giả. Summa phản ánh - và định hướng - tư tưởng của thời Trung cổ.
Thật khác xa với quyển sách về một chủ đề có kết thúc đóng.
Việc con người thông thái xem thường khả năng cải thiện nghịch cảnh có thể bộc lộ rõ nhất qua một câu phổ biến trong Summa, được nhắc đi nhắc lại nhiều chỗ, có thể viết lại như sau: “Một tác nhân sẽ không di
chuyển, trừ khi có dự định về mục đích”, agen autem non movet nisi ex intentionefinis. Nói cách khác, người ta cho rằng các tác nhân biết họ sẽ đi đâu, một lập luận mục đích luận (teleological, với từ nguyên telos có nghĩa là “dựa vào mục đích”), bắt nguồn từ Aristotle. Mọi người, kể cả những người khắc kỷ, nhưng không bao gồm những kẻ hoài nghi, rơi vào những lập luận mục đích luận này trên phương diện tư duy, nhưng chắc chắn không phải trên phương diện hành động. Thật tình cờ, Aquinas không trích dẫn Aristotle - Aquinas gọi Aristotle là Triết gia - mà trích dẫn người tổng hợp tư tưởng của Aristotle, Ibn Rushd, còn gọi là Averroes, và Aquinas gọi là Nhà phê bình. Và Nhà phê bình đã gây ra nhiều thiệt hại, vì tư tưởng phương Tây chịu ảnh hưởng Ảrập nhiều hơn so với họ công nhận, trong khi người Ảrập thời hậu Trung cổ đã xoay xở để thoát khỏi chủ nghĩa duy lý Trung cổ.
Toàn bộ di sản tư duy này, đặt nền tảng trên câu nói “Một tác nhân sẽ không di chuyển, trừ khi có dự định về mục đích,” chính là nơi hàm chứa sai lầm phổ biến nhất của con người, lại càng sâu sắc thêm qua hơn hai thế kỷ ảo tưởng về sự am hiểu khoa học vô điều kiện. Sai lầm này cũng là sai lầm gây ra tính mỏng manh nhiều nhất.
Ở đây, ta gọi là ngụy biện mục đích luận (teleological fallacy) để diễn tả ảo tưởng cho rằng bạn biết chính xác bạn sẽ đi đâu, bạn biết chính xác bạn đã đi đâu trong quá khứ và những người khác đã thành công trong quá khứ vì họ biết họ sẽ đi đâu.
Khác với du khách (tourist), người đi phượt duy lý (rational flaneur) là người ra quyết định từng bước một để sửa đổi lịch trình của họ, để họ có thể hấp thu sự việc dựa vào những thông tin mới; đó là điều mà Nero cố gắng thực hành trong những chuyến đi, thường được dẫn dắt bỏi cảm nhận của anh về hương vị địa phương. Người đi phượt không bị giam hãm trong các kế hoạch. Việc tổ chức du lịch, theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, bị thấm nhuần ảo tưởng mục đích luận; nó giả định sự hoàn chỉnh của tầm nhìn và khóa chặt người ta vào một chương trình khó sửa đổi, trong khi các “phượt thủ” liên tục thay đổi mục tiêu khi hấp thu thông tin mới.
Cảnh báo: Chủ nghĩa cơ hội của người đi phượt thật tuyệt vời trong cuộc sống và trong kinh doanh - nhưng không phải trong đời sống cá nhân và những vấn đề liên quan đến những người khác. Trong các mối quan hệ nhân sinh, trái với chủ nghĩa cơ hội là lòng trung thành, một tình cảm cao quý - nhưng cần được đầu tư đúng chỗ, nghĩa là vào các mối quan hệ con người và những cam kết đạo lý.
Sai lầm của suy nghĩ cho rằng bạn biết chính xác bạn sẽ đi đâu và giả định rằng ngày hôm nay bạn biết về những sở thích của bạn vào ngày mai, còn có một sai lầm liên quan. Đó là ảo tưởng cho rằng những người khác cũng biết họ sẽ đi đâu và sẽ nói cho bạn biết họ muốn gì nếu bạn hỏi họ.
Đừng bao giờ hỏi người ta xem họ muốn gì, hay họ muốn đi đâu, hay họ nghĩ họ sẽ đi đâu, hay tệ hơn, họ nghĩ ngày mai họ sẽ muốn gì. Sức mạnh của nhà nghiệp chủ máy tính Steve Jobs chính xác nằm ở chỗ ông không tin cậy vào các nghiên cứu thị trường và các nhóm khảo sát - những người dựa vào việc hỏi người khác xem họ muốn gì - mà ông chỉ tuân theo óc tưởng tượng của mình. Theo phương thức của ông, người ta không biết họ muốn gì cho đến khi bạn cung cấp cho họ.
Khả năng thay đổi chiều hướng hành động này là một quyền chọn để thay đổi. Các quyền chọn và khả năng chọn lựa, đặc điểm của quyền chọn - là chủ đề của tập IV. Khả năng chọn lựa sẽ đưa ta đến nhiều noi, nhưng điều cốt lõi, quyền chọn là điều làm cho bạn trở nên có khả năng cải thiện nghịch cảnh và giúp bạn hưởng lợi từ khía cạnh tích cực của tình trạng bất định, mà không có mối thiệt hại nghiêm trọng tương ứng từ khía cạnh tiêu cực.
Tài sàn chính của nước Mỹ
Và chính khả năng chọn lựa làm cho sự việc vận hành và tăng trưởng - nhưng nó ứng với một loại người nhất định. Nhiều người không ngừng phàn nàn trình độ học vấn chính quy thấp kém ở Hoa Kỳ (như được định nghĩa theo trình độ toán học chẳng hạn), thế nhưng họ không nhận ra rằng những cái mới xuất phát từ chỗ này và được bắt chước ở những nơi khác. Và điều đó không phải nhờ vào các trường đại học, mà rõ ràng đã khẳng định công trạng nhiều hơn so với thành tích đạt được.
Hệt như nước Anh thời Cách mạng công nghiệp, tài sản của Hoa Kỳ đơn thuần là sự chấp nhận rủi ro và sử dụng khả năng chọn lựa, khả năng tham gia vào các dạng thử nghiệm và sửa sai hợp lý, không hổ thẹn khi thất bại, bắt đầu làm lại, và lại thất bại. Trái lại, ở đất nước Nhật Bản hiện đại, người ta cảm thấy nhục nhã khi thất bại, làm cho họ giấu diếm rủi ro dưới tấm thảm, bất kể rủi ro tài chính hay rủi ro hạt nhân, tìm kiếm những mối lợi nhỏ khi ngồi trên chất nổ, một thái độ tương phản lạ lùng với truyền thống tôn trọng những vị anh hùng ngã ngựa và cái gọi là sự cao quý của thất bại ở đất nước họ.
Tập IV sẽ đưa ý tưởng này đến kết luận tự nhiên và sẽ trình bày bằng chứng (từ kiến trúc Trung cổ cho đến y học, thiết kế công trình, và phát minh đổi mới) cho thấy rằng, tài sản vĩ đại nhất của chúng ta là tài sản mà chúng ta không tin tưởng nhất: khả năng cải thiện nghịch cảnh nội tại của những hệ thống chấp nhận rủi ro.