LÀM SAO ĐỂ THẮNG TRONG CUỘC ĐUA NGỰA

Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2phản Ứng Vượt Bậc Và Đạt Kết Quả Cao Vượt Bậc Ở Mọi Nơi
Chương 2phản Ứng Vượt Bậc Và Đạt Kết Quả Cao Vượt Bậc Ở Mọi Nơi

❊ ❊ ❊

Ta có thể dễ dàng viết bài tham luận trên đường băng sân bay Heathrow không? - Hãy cố gắng thuyết phục Đức Giáo hoàng cấm lưu hành tác phẩm của bạn - Làm thế nào đánh gục một nhà kinh tế học (nhưng đừng ra đòn nặng quá, chỉ vừa đủ để đi tù)

Giới hạn nhận thức của tôi bộc lộ rõ ràng một ngày kia khi tôi đang ngồi trong văn phòng của David Halpern, nhà hoạch định chính sách và cố vấn chính phủ Anh. Đáp lại ý tưởng của tôi về khả năng cải thiện nghịch cảnh, ông cho tôi biết một hiện tượng gọi là tăng trưởng hậu chấn thương, trái ngược với hội chứng trầm cảm sau chấn thương. Trước giờ tôi chưa từng nghe nói tới khái niệm này, và thật là xấu hổ, tôi cũng chưa bao giờ thử nghĩ về sự hiện diện của nó: có một tư liệu nghiên cứu nho nhỏ nhưng chưa bao giờ được quảng bá ra ngoài chuyên ngành hẹp này. Chúng ta nghe nói về tình trạng rối loạn hậu chấn thương khủng khiếp, chứ không nghe nói về sự tăng trưởng hậu chấn thương trong giới trí thức và cái gọi là ngôn ngữ học tập. Nhưng trong văn hóa phổ thông, người ta đã nhận thức về dạng tương đương của nó, thể hiện qua thành ngữ “nên người”. Ngôn ngữ Địa Trung Hải cổ và bà nội bà ngoại chúng ta cũng đã nhận thức về điều đó.

Giới trí thức có xu hướng tập trung vào phản ứng tiêu cực từ sự ngẫu nhiên (tính mỏng manh) nhiều hơn so với phản ứng tích cực (khả năng cải thiện nghịch cảnh). Điều này không chỉ xảy ra trong tâm lý học mà phổ biến khắp noi.

Bạn phát minh đổi mới như thế nào? Thứ nhất, cố gắng đương đầu với rắc rối. Tôi muốn nói tới những rắc rối nghiêm trọng nhưng không đến mức chí mạng. Tôi cho rằng - đây chẳng phải phỏng đoán, mà đúng hơn, là niềm tin - sự đổi mới và phát triển tinh vi lóe sáng lên từ những nhu cầu bức thiết ban đầu, theo những cách thức vượt xa sự thỏa mãn nhu cầu đó (từ những tác dụng phụ không lường trước của một phát minh hay nỗ lực phát minh ban đầu chẳng hạn). Lẽ tự nhiên, chúng ta có các trường phái tư duy cổ điển về chủ đề này, với một thành ngữ Latinh rằng sự phát triển tinh vi sinh ra từ sự thiếu đói (artificia docuit fames). Ý tưởng này thấm nhuần trong văn học cổ điển: như trong thơ Ovid, khó khăn sẽ đánh thức tài năng (ingenium mala saepe movent), dịch sang tiếng Anh Brooklyn là: “Khi đời trao cho bạn một vật vô dụng…”

Năng lượng dư thừa thoát ra từ phản ứng vượt bậc trước khó khăn thất bại sẽ dẫn đến đổi mới cách tân!

Thông điệp từ người xưa này sâu sắc hơn nhiều so với vẻ bề ngoài. Nó tương phản với những ý tưởng và phương pháp hiện đại về đổi mới và tiến bộ trên nhiều cấp độ, vì chúng ta có xu hướng nghĩ rằng phát minh đổi mới xuất phát từ nguồn vốn nhà nước, thông qua quy hoạch, hay bởi những người từng theo học trường Kinh doanh Harvard với một vị giáo sư về đổi mới và tinh thần kinh doanh ngực đầy huân chương (nhưng chưa bao giờ phát minh đổi mới bất cứ thứ gì) hay thuê một nhà tư vấn (người chưa bao giờ phát minh đổi mới bất cứ thứ gì). Điều này thật sai lầm - hãy chú ý tới những đóng góp đáng kể của các nghiệp chủ và các nhà kỹ thuật không được đào tạo trong những cú đột phá công nghệ khác nhau, từ cuộc Cách mạng Công nghiệp cho đến sự vươn lên của Thung lũng Silicon, và bạn sẽ hiểu những gì tôi muốn nói.

Thế mà, bất chấp sự hiển nhiên rõ ràng của các bằng chứng phản biện này và sự khôn ngoan mà bạn có thể học hỏi miễn phí từ người xưa (hay bà ngoại mình), thế giới hiện đại ngày nay cố gắng tạo ra phát minh đổi mới từ những tình huống tiện nghi, an toàn, và khả năng dự đoán thay vì chấp nhận khái niệm “nhu cầu thực tế là mẹ của phát minh đổi mới.”

Nhiều người, như chính khách La Mã vĩ đại Trưởng lão Cato, nhìn nhận sự tiện nghi thoải mái, gần như mọi hình thức tiện nghi, là con đường đến với lãng phí.11 Ông không thích sự tiện nghi khi ta có nó quá dễ dàng, vì ông sợ rằng nó làm suy nhược ý chí của ta. Và sự mềm yếu ông lo sợ không chỉ ở mức độ cá nhân: toàn xã hội cũng có thể suy yếu. Nên nhớ rằng khi tôi đang viết những dòng này, chúng ta đang sống trong một cuộc khủng hoảng nợ. Thế giới trên bình diện tổng thể chưa bao giờ giàu có hơn thế, và chưa bao giờ chìm trong nợ nần nhiều đến thế, sống nhờ vào tiền vay mượn. Sử sách cho thấy rằng đối với xã hội, càng trở nên giàu có, người ta càng khó sống chỉ bằng tài sản của riêng mình. Sự thừa mứa khó xử lý hơn so với sự khan hiếm.

Cato hẳn sẽ mỉm cười khi hay tin về những ảnh hưởng mới quan sát thấy gần đây trong ngành hàng không rằng sự tự động hóa của máy bay khiến các phi công không bị thử thách, việc bay trở nên quá thoải mái với họ, thoải mái một cách nguy hiểm. Sự cùn nhụt kỹ năng và sức chú ý của phi công do có quá ít thử thách quả thật đã gây tử vong trong nhiều tai nạn máy bay. Một phần vấn đề là do quy định của Cục Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) buộc ngành phải ngày càng trông cậy nhiều hơn vào việc bay tự động. Nhưng may thay, cũng chính Cục Hàng không cuối cùng đã nhận ra vấn đề; gần đây cục phát hiện ra rằng phi công thường “đùn mọi trách nhiệm cho các hệ thống tự động”.

Người ta nói rằng những con ngựa hay sẽ thua khi chúng đua với những con ngựa chậm hơn, và sẽ thắng trước những đối thủ giỏi hơn. Kết quả đạt được quá thấp do thiếu vắng yếu tố gây căng thẳng, đây là hiện tượng trái ngược với liệu pháp cải thiện sức khỏe nhờ yếu tố gây hại (liệu pháp Hormesis): do thiếu thử thách nên những đối tượng giỏi nhất trở nên bị xuống cấp. Trong thơ Baudelaire, “Đôi cánh khổng lồ của con chim hải âu to khiến nó không thể cất bước”, nhiều người học môn Toán vi phân 103 (khó hơn) giỏi hơn môn Toán vi phân 101 (dễ hơn).

Cơ chế đạt được kết quả vượt bậc ẩn giấu ở những nơi ít có khả năng xảy ra nhất. Nếu mệt mỏi sau một chuyến bay xuyên lục địa, hãy đến phòng tập thể dục để gắng sức thêm một chút thay vì nghỉ ngoi. Ngoài ra, còn có một bí quyết ai cũng biết là nếu bạn cần làm việc gì khẩn cấp, hãy giao nhiệm vụ cho người bận rộn nhất (hay người đứng thứ nhì) trong cơ quan. Hầu hết mọi người đều xoay xở để phung phí hết thời gian rỗi, vì thời gian rỗi làm họ trở nên bất thường, lười biếng, và không có mục đích; càng bận rộn, họ càng năng động trong những công việc khác. Kết quả đạt được sẽ cao vượt bậc.

Tôi đã khám phá ra một chiêu khi diễn thuyết. Những người tổ chức hội nghị bảo tôi rằng cần trình bày rõ ràng, cần nói bằng sự khúc chiết giả tạo của các phát ngôn viên truyền hình, thậm chí có thể khiêu vũ trên sân khấu để lôi cuốn sự chú ý của đám đông. Có người còn gửi các tác giả đến các “trường huấn luyện diễn thuyết” - lần đầu tiên người ta đề nghị điều này tôi đã bỏ đi, quyết tâm thử thách các nhà xuất bản ngay tại chỗ. Tôi thấy tốt hơn ta nên nói thì thầm chứ đừng gào to. Tốt hơn ta nên nói hoi khó nghe chứ đừng rõ ràng. Hồi tôi còn là một chuyên viên giao dịch sàn chứng khoán (một trong những kẻ điên khùng đứng giữa đám đông và gào thét ầm ĩ trong một phiên đấu giá liên tục), tôi đã biết rằng tiếng ồn người ta gây ra thì trái ngược với địa vị cấp bậc của người đó: cũng như các ông trùm mafia, những chuyên viên giao dịch có quyền lực nhất là những người nói khó nghe nhất. Ta nên có đủ tự chủ để làm cho khán giả phải cố gắng lắng nghe, làm cho họ phải chuyển sang trạng thái gắng sức về mặt tinh thần. Nghịch lý về sự chú ý này đã được người ta nghiên cứu đôi chút: có những bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của tình trạng “không lưu loát”. Nỗ lực tinh thần đưa ta lên những tốc độ làm việc cao hơn, kích hoạt não bộ ta mạnh mẽ hơn và phân tích tốt hơn.12 Bậc thầy quản lý Peter Drucker và nhà phân tâm học Jaques Lacan, hai người mê hoặc đám đông nhất trong lĩnh vực hoạt động của họ, là hình ảnh đối nghịch của những diễn giả phô trương bóng mượt và những phát ngôn viên truyền hình được đào tạo du dương.

Cơ chế đạt kết quả cao vượt bậc y hệt hay tương tự như vậy sẽ giúp ta tập trung hơn khi có một chút tiếng ồn ngẫu nhiên làm nền, như thể hành động chống lại tiếng ồn sẽ giúp ta cải thiện sự tập trung tinh thần. Hãy nghĩ về khả năng đáng kể này: người ta phải sàng lọc tiếng ồn trong các hàng quán vào giờ khuyến mãi giá rẻ và phân biệt tín hiệu giữa nhiều cuộc chuyện trò ồn ào khác. Vì thế, chẳng những chúng ta bị ép phải đạt được kết quả cao vượt bậc, mà đôi khi ta còn cần tiếng ồn. Cũng như nhiều tác giả khác, tôi thích ngồi làm việc trong những quán cà phê, như người ta nói, chống lại sự đối kháng. Nhớ lại xem, vào lúc đi ngủ ta thường thích tiếng xào xạc của lá cây hay tiếng rì rào của biển cả: thậm chí còn có những chiếc máy dùng điện tạo ra “độ nhiễu trắng’”13 giúp người ta ngủ ngon hơn. Những yếu tố nho nhỏ gây xao lãng này, cũng như các phản ứng của liệu pháp Hormesis, sẽ có tác dụng đến một điểm nào đó. Tôi chưa thử điều này, nhưng tôi chắc chắn rằng sẽ khó viết được một bài tham luận trên đường băng sân bay Heathrow.

Có điều gì đó chợt lóe sáng lên khi tôi nghe nói về “hậu chấn thương” trong chuyến viếng thăm Luân Đôn đó. Nó tác động đến tôi ngay lúc ấy và rồi ý tưởng về phản ứng cải thiện nghịch cảnh theo kiểu liệu pháp Hormesis chỉ là một hình thức của sự dư thừa, cùng với toàn bộ ý tưởng về Mẹ Thiên Nhiên cùng ùa về tâm trí tôi. Đó hoàn toàn là về sự dư thừa. Thiên nhiên thích tự bảo hiểm quá mức cho mình.

Các lớp dư thừa là đặc điểm quản lý rủi ro chính của các hệ thống tự nhiên. Con người chúng ta có hai quả thận (ngay cả các nhà kế toán cũng thế), những bộ phận dự trữ, và công suất dư thừa trong rất nhiều thứ (chẳng hạn như phổi, hệ thống thần kinh, hệ thống động mạch) trong khi thiết kế nhân tạo có xu hướng ngược lại: chúng ta có thành tích lịch sử là mang công mắc nợ, trái ngược với dư thừa (50 nghìn đôla tiền mặt trong ngân hàng hay giấu dưới nệm là dư thừa; vay ngân hàng số tiền tương đương, nghĩa là nợ, là trái ngược với dư thừa). Sự dư thừa có tính mơ hồ vì nó có vẻ như lãng phí nếu không có gì khác thường xảy ra. Trừ khi có gì bất thường xảy ra - mà sự bất thường cũng là lẽ thường.

Hơn nữa, dư thừa không nhất thiết có nghĩa là có hại, mà có thể cực kỳ có lợi. Ví dụ, bạn dự trữ phân bón trong nhà kho chẳng hạn, chỉ để an toàn, rồi tình cờ xảy ra thiếu hụt trên thị trường do đổ vỡ từ Trung Quốc, bạn có thể bán hàng tồn kho dư thừa với giá chênh lệch cao. Hay nếu bạn dự trữ dầu, bạn có thể bán với lợi nhuận cao trong thời kỳ khan hiếm.

Bây giờ, hóa ra cùng một logic y hệt áp dụng cho việc đạt được kết quả vượt bậc; nó hệt như một dạng dư thừa. Một cái đầu mọc thêm của rắn thần Hydra chẳng khác gì một quả thận dư thừa của con người - nghĩa là có vẻ dư thừa - và không gì khác hơn công suất dư thừa để chống lại một yếu tố gây căng thẳng bất ngờ. Nếu bạn ăn vào bụng 15 miligam chất độc chẳng hạn, cơ thể bạn có thể chuẩn bị cho 20 miligam hay nhiều hơn, và sẽ trở nên mạnh hơn như một tác dụng phụ. 5 miligam chất độc dư thừa mà bạn có thể chịu đựng này không gì khác hơn kho dự trữ hàng hóa quan trọng hay cần thiết, ví dụ như tiền mặt dư thừa trong ngân hàng hay thực phẩm để dành dưới tầng hầm. Và quay lại các động lực phát minh đổi mới: những lượng kích thích và nghị lực tăng thêm xuất phát từ khó khăn có thể được xem là công suất dư thừa, chẳng khác gì những hộp thực phẩm để dành.

Một hệ thống đạt kết quả vượt bậc nhất thiết phải ở trạng thái quá mức, xây dựng sức mạnh và công suất dư thừa để lường trước một kết quả tệ hơn và phản ứng trước những thông tin về khả năng xảy ra nguy hại. Và lẽ dĩ nhiên sức mạnh hay công suất dư thừa này có thể trở nên hữu ích tùy vào cơ hội. Chúng ta đã thấy rằng sự dư thừa mang tính chất cơ hội, vì thế sức mạnh dư thừa có thể được sử dụng để hưởng lợi ngay khi không có mối nguy hại. Hãy nói với nhà phân tích có bằng cao học quản trị kinh doanh hay vị giáo sư trường kinh doanh mà bạn ngẫu nhiên gặp rằng sự dư thừa này không có tính chất phòng vệ; nó giống như đầu tư chứ không phải bảo hiểm. Và nói với họ rằng điều họ gọi là “phi hiệu quả” thường rất hiệu quả.

Quả thật, cơ thể ta khám phá ra các xác suất một cách vô cùng tinh xảo và đánh giá rủi ro tốt hơn nhiều so với các nhà trí thức. Đơn cử một ví dụ, các chuyên gia quản lý rủi ro xem xét quá khứ để tìm thông tin về cái gọi là tình huống xấu nhất rồi dùng nó để ước lượng rủi ro tương lai - phương pháp này gọi là “kiểm định sức ép”. Họ coi đợt suy thoái tồi tệ nhất, cuộc chiến tranh tàn khốc nhất, biến động lãi suất tệ hại nhất, hay tỷ lệ thất nghiệp thảm họa nhất trong lịch sử là ước lượng chính xác về kết quả tương lai xấu nhất. Nhưng họ không bao giờ lưu ý tính không nhất quán sau đây: cái gọi là biến cố trong tình huống xấu nhất, khi xảy ra, đã vượt qua trường hợp tệ hại nhất lúc bấy giờ.

Tôi gọi khiếm khuyết trí tuệ này là vấn đề Lucretius, theo tên nhà triết học thi sĩ Latinh từng viết, kẻ ngốc tin rằng ngọn núi cao nhất trên thế giới là ngọn núi cao nhất ông ta từng nhìn thấy. Chúng ta coi đối tượng to lớn nhất mà chúng ta từng nhìn thấy trong đòi hay nghe nói tới là đối tượng to lớn nhất có thể hiện hữu. Và chúng ta cứ làm thế hàng thiên niên kỷ nay. Ở Ai Cập dưới thời các pharaon, tình cờ cũng là nhà nước tập quyền hoàn chỉnh từ trên xuống dưới đầu tiên, được cai quản bởi các quan chức, các bộ lạc theo dõi mực nước cao của sông Nile và dùng nó làm ước lượng cho tình huống tệ hại nhất trong tương lai.

Ta có thể thấy điều y hệt như thế trong lò phản ứng hạt nhân Fukushima, nơi trải qua thảm họa tàn khốc vào năm 2011 khi sóng thần xảy ra. Nó được xây dựng để chịu đựng được trận động đất tồi tệ nhất lịch sử quá khứ, với những người xây dựng không hình dung ra một biến cố tồi tệ hơn nhiều, và không nghĩ rằng biến cố tồi tệ nhất trong quá khứ đã là một bất ngờ, vì trước đó chưa từng có. Tương tự, nguyên chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, vị tiến sĩ fragilista Alan Greenspan, trong lòi xin lỗi Quốc hội, cũng đưa ra câu biện bạch kinh điển: “Điều đó chưa từng xảy ra trước đây.” Thế đấy, không như fragilista Greenspan, thiên nhiên đã chuẩn bị cho những gì chưa từng xảy ra trước đây, cho rằng vẫn có thể xảy ra tai họa tồi tệ hơn thế nữa.14

Nếu con người chiến đấu với cuộc chiến sau cùng, thì thiên nhiên đấu tranh cho cuộc chiến sắp tới. Cơ thể bạn có óc tưởng tượng phong phú hơn so với chính bạn. Thử nghĩ xem người ta rèn luyện như thế nào để nhấc vật nặng: cơ thể ta phản ứng mạnh và chuẩn bị vượt bậc (dĩ nhiên là cho đến điểm giới hạn sinh học) trước tác hại. Đây là cách để cơ thể trở nên mạnh hơn.

Sau cuộc khủng hoảng ngân hàng, tôi nhận được đủ kiểu đe dọa, và tờ The Wall Street Journal khuyên tôi “thuê nhiều vệ sĩ”. Tôi cố gắng tự nhủ mình đừng lo lắng, giữ bình tĩnh, những lời đe dọa này đến từ các ông chủ ngân hàng bực mình; bất luận thế nào, người ta bị đánh trước, rồi sau đó bạn mới đọc thấy điều ấy trên báo chí, chứ không phải trình tự ngược lại. Nhưng lý luận này không có tác dụng trong tâm thức tôi, và khi ở New York hay Luân Đôn, tôi không thể thư giãn, thậm chí sau khi uống trà hoa cúc. Tôi bắt đầu cảm thấy hoang tưởng ở những nơi công cộng, dò xét người khác để chắc chắn tôi không bị theo dõi. Tôi bắt đầu xem xét đề nghị tìm vệ sĩ một cách nghiêm túc, và cảm thấy hấp dẫn hơn (và có tính kinh tế hơn nhiều) khi chính mình trở thành một người như thế, hay tốt hơn là trông giống như thế. Tôi tìm được Lenny “Bánh Ngọt”, một huấn luyện viên, cân nặng 150 kilogam, làm thêm công việc bảo vệ ngoài giờ. Biệt danh và cân nặng của anh xuất phát từ niềm đam mê bánh ngọt. Lenny “Bánh Ngọt” là người có dáng dấp đe dọa về mặt thể chất nhất trong năm bang, và anh sáu mươi tuổi. Như vậy, thay vì nhận bài giảng, tôi xem anh rèn luyện. Anh áp dụng kiểu rèn luyện “áp lực tối đa” và thề rằng qua đó, như anh nhận thấy, sẽ hiệu quả nhất và đỡ mất thì giờ nhất. Phương pháp này bao gồm những đợt ngắn trong phòng tập, trong đó người ta chỉ tập trung vào việc cải thiện khả năng tối đa trước đây của mình trong một lần nâng tạ, quả tạ nặng nhất mà ta có thể gắng sức, kiểu như mức nước cao nhất. Công việc luyện tập giới hạn trong việc vượt qua mức này một hay hai lần, thay vì dành thời gian cho việc lặp đi lặp lại mất thì giờ và chán ngắt. Bài tập đưa tôi đến với hình thức tự nhiên của việc nâng tạ, phù hợp với tư liệu nghiên cứu dựa vào bằng chứng: luyện tập tối đa, rồi dành thời gian còn lại nghỉ ngơi và phung phí cho những miếng bít tết cỡ khủng. Tôi cố gắng đẩy mình lên giới hạn tận cùng suốt bốn năm nay; và thật kinh ngạc khi thấy cái gì đó trong cơ thể sinh học của tôi đã dự đoán một mức độ cao hơn mức tối đa trong quá khứ - cho đến khi đạt tới trần giới hạn. Khi tôi nâng một thanh tạ cỡ 150 kg lên ngang thắt lưng, rồi nghỉ, tôi có thể dự kiến một cách an toàn rằng tôi sẽ bồi đắp một mức sức mạnh tăng thêm nhất định vì cơ thể tôi dự đoán rằng lần tới tôi có thể cần phải nhấc cỡ 152 kg. Ngoài việc xua đi bệnh hoang tưởng của tôi và cảm giác bình yên mới tìm thấy ở những nơi công cộng, lợi ích đạt được còn bao gồm những tiện lợi bất ngờ nho nhỏ. Khi tôi bị những gã tài xế limo quấy rầy ở sảnh đến cửa sân bay Kennedy cứ khăng khăng mời tôi đi xe và tôi điềm tĩnh bảo họ “xéo ngay”, họ biến ngay lập tức. Nhưng cũng có những hạn chế nghiêm trọng: một vài độc giả tôi gặp trong các hội nghị có lúc thấy khó khăn khi giao tiếp với một nhà trí thức có bề ngoài của một vệ sĩ - các nhà trí thức có thể mảnh mai hay mềm yếu và không khỏe mạnh (khi họ mặc một chiếc áo khoác vải tuýt) nhưng người ta không nghĩ họ có thể trông hệt như một gã hàng thịt.

Aaron Brown, bạn tôi, nhà phân tích rủi ro và cũng là đối thủ trí tuệ ưa thích của tôi, từng đưa ra một nhận định có thể mang lại cho những người theo thuyết tiến hóa của Darwin chút công việc nghiên cứu: thuật ngữ “fitness” (sự vừa vặn, thích nghi, đồng thời cũng có nghĩa là tình trạng khỏe mạnh, sức khỏe) xem ra không chính xác và thậm chí mơ hồ, đó là lý do khiến nhận định cho rằng khả năng cải thiện nghịch cảnh là cái gì đó còn hơn cả tình trạng sức khỏe bình thường sẽ giúp giải thích sự mơ hồ này. “Fitness” có nghĩa là gì? Điều chỉnh chính xác ứng với lịch sử quá khứ của một môi trường cụ thể nào đó, hay ngoại suy đến một môi trường với những yếu tố căng thẳng cường độ cao hơn? Nhiều người xem ra sẽ chỉ vào loại điều chỉnh đầu tiên, bỏ quên khái niệm khả năng cải thiện nghịch cảnh. Nhưng nếu ta muốn trình bày mô hình chọn lọc tiêu chuẩn bằng toán học, ta sẽ đạt được kết quả cao vượt bậc chứ không chỉ đơn thuần là “sự thích nghi vừa vặn.”15

Thậm chí những nhà tâm lý học nghiên cứu phản ứng cải thiện nghịch cảnh của sự tăng trưởng hậu chấn thương, và chứng minh số liệu về nó, cũng không hoàn toàn lĩnh hội được toàn bộ khái niệm, vì khi sử dụng từ ngữ, họ lại sa vào khái niệm “khả năng hồi phục”.

VỀ KHẢ NĂNG CẢI THIỆN NGHỊCH CẢNH CỦA CÁC CUỘC BẠO LOẠN, TÌNH YÊU, VÀ NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÁC HƯỞNG LỢI BẤT NGỜ TỪ TÌNH TRẠNG CĂNG THẲNG

Một khi ta cố gắng vượt qua sự hạn chế nhận thức vào một lĩnh vực nhất định, ta sẽ thấy hiện tượng đạt kết quả vượt bậc xuất hiện khắp mọi noi.

Những người am hiểu về sự kháng thuốc của vi khuẩn trong lĩnh vực sinh học nhiều khi lại hoàn toàn không hiểu nhận định của Seneca trong tác phẩm De clemencia nói về tác dụng ngược của sự trừng phạt. Ông viết: “Sự trừng phạt lặp đi lặp lại, trong khi dập tắt lòng căm thù của một ít người, lại khuấy động lòng căm thù của tất cả… hệt như cây khi bị đốn ngọn sẽ lại mọc lên vô số nhánh mới.” Các cuộc nổi dậy bị đàn áp càng phát triển nhanh hơn khi người ta đúng là đã đốn cụt nó bằng cách tiêu diệt những người biểu tình. Có một bài ca cách mạng Ireland nói tới tác dụng này:

Ngươi dựng lên rào cản càng cao, ta càng trở nên hùng mạnh hơn.

Đến một lúc nào đó, mù quáng bỏi lòng căm thù và oán hận, tiếp thêm sức mạnh bỏi thái độ anh hùng của một ít người sẵn lòng hy sinh cuộc đời cho sự nghiệp (cho dù họ không hoàn toàn xem đó là hy sinh), đám đông sẽ chuyển biến và khao khát quyền được trở thành những kẻ tử vì đạo. Đó chính là lúc mà các phong trào phản kháng và các cuộc nổi dậy trỏ nên có khả năng cải thiện nghịch cảnh cao độ, và canh bạc của kẻ ngốc là cố gắng đàn áp các phong trào này bằng vũ lực thô bạo thay vì vận động, nhượng bộ, hay dùng những mưu mẹo tinh khôn như Hercules đã làm với rắn thần Hydra.

Nếu khả năng cải thiện nghịch cảnh là những gì được đánh thức, phản ứng vượt bậc và mang lại kết quả vượt bậc trước những yếu tố gây căng thẳng và gây hại, thì một trong những thứ có khả năng cải thiện nghịch cảnh nhất bạn nhìn thấy bên ngoài đời sống kinh tế là một kiểu tình yêu (hay thù ghét) dai dẳng nào đó, dường như càng trở nên mãnh liệt hơn trước những trở ngại như khoảng cách, sự môn đăng hộ đối của gia đình và mọi nỗ lực có ý thức để giết chết tình yêu đó. Văn học đầy rẫy những nhân vật rơi vào một dạng đam mê mãnh liệt với khả năng cải thiện nghịch cảnh, dường như chống lại ý chí của họ. Trong tiểu thuyết của Marcel Proust À la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất), Swann, một nhà buôn tranh Do Thái tinh tế về mặt xã hội, gục ngã trước Odette, một kỹ nữ, một kiểu phụ nữ “phải canh chừng”, kiểu người có đến một nửa hay một phần tư là gái làng chơi; ả cư xử tệ bạc với chàng. Hành vi khó nắm bắt của ả lại càng kích thích nỗi ám ảnh của chàng, khiến chàng phải hạ mình để được ban thưởng chút thời gian cạnh ả. Chàng công khai đeo bám ả, đi theo ả trong những buổi hẹn hò của ả với những gã đàn ông khác, không biết xấu hổ nấp mình sau cầu thang, điều đó dĩ nhiên càng làm cho ả lảng tránh chàng hơn. Tương truyền câu chuyện là sự phóng tác từ hoàn cảnh khó xử của Proust với gã tài xế của ông. Hay như tiểu thuyết bán tự truyện của Dino Buzzati Un amore (Chuyện tình) kể về một người đàn ông trung niên ở Milan tình cờ gục ngã vì một vũ nữ ở Scala về đêm là một gái điếm. Lẽ dĩ nhiên, ả cũng đối xử tệ bạc với ông, bóc lột ông, lợi dụng ông, vắt kiệt ông, và ả càng xử tệ với ông, ông càng tự nạp mình cho ả lợi dụng để thỏa mãn nỗi thèm khát chút phút giây ở cạnh ả - một nỗi thèm khát có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Nhưng ở đây có một kiểu kết thúc có hậu: theo hồi ký của ông, Buzzati cuối cùng đã kết hôn ở tuổi 60 với Almerina, một cựu vũ nữ tuổi đời mới 25, dường như là nhân vật trong truyện; khi ông mất không lâu sau đó, nàng trở thành người chăm sóc tốt di sản văn chương của ông.

Thậm chí khi những tác giả như Lucretius (cũng chính là triết gia kiêm thi sĩ nói về những ngọn núi cao trên đây trong chương này) chê trách sự phụ thuộc, sự giam cầm và xa lánh của tình yêu, đối xử với nó như một căn bệnh (có thể phòng ngừa), cuối cùng họ cũng nói dối chúng ta hay tự dối lòng. Tương truyền rằng, Lucretius, vị tu sĩ chống lại tính lãng mạn có lẽ đã rơi vào một cơn mê đắm không thể kiểm soát - cơn mê đắm có khả năng cải thiện nghịch cảnh.

Hệt như tình yêu khổ lụy, nhiều ý nghĩ có khả năng cải thiện nghịch cảnh đến mức khi cố gắng thoát khỏi chúng, bạn càng làm cho chúng giày xéo mình hơn, biến chúng thành những nỗi ám ảnh. Các nhà tâm lý học đã chứng minh sự trớ trêu của quá trình kiểm soát ý nghĩ: bạn càng tốn nhiều năng lượng cố gắng kiểm soát ý tưởng của bạn và những gì bạn nghĩ tới, các ý tưởng đó cuối cùng sẽ kiểm soát bạn nhiều hơn.

Vui lòng cấm phát hành quyển sách của tôi: Khả năng cải thiện nghịch cảnh của thông tin

Thông tin có khả năng cải thiện nghịch cảnh; thông tin được nuôi dưỡng bằng những nỗ lực ngăn chặn hơn là bằng những nỗ lực quảng bá. Ví dụ, nhiều người làm hỏng danh tiếng của họ chỉ bằng cách cố gắng bảo vệ thanh danh.

Người dân Venice khôn ngoan biết truyền bá thông tin thông bằng cách vờ như đó là một điều bí mật. Bạn hãy thử kiểm chứng bằng thử nghiệm sau đây trong việc lan truyền tin đồn: nói với ai đó một bí mật và nhất quyết khẳng định rằng đó là bí mật, van nài người nghe “đừng kể ai nghe”; bạn càng nhất quyết là bí mật bao nhiêu, thì nó càng lan truyền nhiều bấy nhiêu.

Hết thảy chúng ta đều biết từ rất lâu trong đời rằng sách vở và ý tưởng có khả năng cải thiện nghịch cảnh và càng sinh sôi nảy nở hơn từ những trận tấn công - mượn lời hoàng đế La Mã Marcus Aurelius (một trong những tác giả khắc kỷ hành động): “ngọn lửa được nuôi dưỡng bằng những chướng ngại vật”. Những cuốn sách cấm có một sức hút, đó là khả năng cải thiện nghịch cảnh của chúng trước sự cấm đoán. Quyển sách đầu tiên tôi đọc trong thời thơ ấu là The Power and the Glory (Quyền lực và vinh quang) của Graham Green, tôi chọn nó chẳng vì lý do gì ngoài việc nó bị đưa vào danh mục sách cấm của Vatican. Tương tự, hồi còn thiếu niên, tôi đọc ngấu nghiến những quyển sách của tác giả xa xứ Henry Miller - quyển sách chính của ông bán được một triệu bản trong một năm nhờ bị cấm ở 23 bang. Tương tự với Madame Bovary (Bà Bovary) hay Lady Chetterley’s Lover (Người tình của quý bà Chetterley).

Sự chỉ trích đối với một quyển sách là biểu hiện rành rành của sự chú ý, báo hiệu rằng nó không chán ngắt; và chán ngắt là điều duy nhất tệ hại nhất đối với một quyển sách. Hãy xem hiện tượng Ayn Rand: các quyển sách của bà Atlas ShurggedThe Foutainhead (Suối nguồn) được đọc hơn một nửa thế kỷ bỏi hàng triệu người, bất chấp, hay gần như nhờ vào, sự chỉ trích kịch liệt tàn tệ và nỗ lực bôi nhọ bà. Thông tin quan trọng nhất là cường độ: điều quan trọng là nỗ lực chỉ trích của các nhà phê bình nhằm ra sức ngăn người khác đọc quyển sách, hay nói khái quát hơn trong cuộc sống, chính nỗ lực gièm pha ai đó mới là quan trọng, chứ những gì họ nói không quan trọng lắm. Vì thế, nếu bạn thực sự muốn ai đó đọc một quyển sách, hãy nói với họ rằng quyển sách đã được “đánh giá quá cao” với ý nghĩa xúc phạm (và dùng đặc điểm “đánh giá quá thấp” cho tác dụng ngược lại).

Balzac kể lại cách thức các nữ diễn viên đền đáp cho nhà báo (thường là bằng hiện vật) để viết bài có lợi cho mình - nhưng những người khôn ngoan nhất sẽ khiến họ viết những nhận xét không thuận lợi, biết rằng điều đó sẽ làm tăng thêm phần hấp dẫn.

Tôi vừa mua quyển sách của Tom Holland về sự vươn lên của thế giới Hồi giáo chỉ bỏi lý do duy nhất là anh bị Glen Bowersock, người được xem là học giả sống nổi tiếng nhất về vùng Levant thuộc La Mã, công kích. Mãi đến lúc ấy, tôi vẫn cho rằng Tom Holland chỉ là một kẻ mị dân, và chắc sẽ chẳng bao giờ nhìn nhận anh khác đi. Thậm chí tôi còn cố gắng không đọc bài phê bình của Bowersock. Vì thế, đây là quy tắc suy nghiệm đơn giản (thử nghiệm và sửa sai): để ước lượng chất lượng của một nghiên cứu, hãy xem tầm cỡ của những người chê bai cao nhất, hay tầm cỡ của những người gièm pha thấp nhất mà tác giả trả lời họ bằng giấy trắng mực đen - bất luận cái nào thấp hơn.

Bản thân sự chỉ trích cũng có thể có khả năng cải thiện nghịch cảnh trước sự đàn áp, khi người bới móc nhược điểm muốn được tấn công đáp trả nhằm đạt được sự công nhận. Jean Fréron, được cho là một nhà tư tưởng rất đố kỵ, với tính chất tầm thường của những nhà tư tưởng đố kỵ, xoay xở để đóng một vai trong lịch sử tri thức chỉ bằng cách trêu tức Voltaire lỗi lạc đến mức khiến ông phải viết những bài thơ mỉa mai chống lại Fréron. Voltaire, bản thân là một người thích châm chọc và chuyên gia chỉ trích người khác để hưởng lợi từ phản ứng của họ, lại quên mất sự việc có tác dụng như thế nào khi xảy ra với chính mình. Có lẽ sức mê hoặc của Voltaire là ở chỗ ông không biết làm thế nào dành dụm sự dí dỏm của mình. Vì thế, chính những khả năng cải thiện nghịch cảnh tiềm ẩn này cũng áp dụng cho những trận công kích ý tưởng và con người: chúng ta sợ và không thích dư luận tiêu cực, nhưng những chiến dịch bôi nhọ, nếu bạn có thể vượt qua, sẽ giúp ích vô cùng, nếu người ta tỏ ra cực kỳ kích động và vô cùng giận dữ - như khi bạn nghe một người phụ nữ gièm pha một người phụ nữ khác trước mặt một người đàn ông (hay ngược lại). Có một định kiến chọn lọc rõ ràng: tại sao ông ta tấn công bạn thay vì ai khác, một trong hàng triệu người đáng tội nhưng không đáng bõ công tấn công? Chính năng lượng của ông ta trong trận công kích hay gièm pha sẽ làm nên tên tuổi bạn, theo kiểu khả năng cải thiện nghịch cảnh.

Ông cố ngoại tôi Nicolas Ghosn là một chính khách khôn ngoan từng xoay xở để nắm quyền lực lâu dài và giữ vững địa vị trong chính phủ bất chấp vô số kẻ thù (nổi tiếng nhất là kẻ thù không đội trời chung, ông kỵ nội tôi về phía gia tộc Taleb). Khi ông ngoại tôi, tức con trai cả của ông, bắt đầu sự nghiệp hành chính và hy vọng cũng là sự nghiệp chính trị của mình, người cha gọi con đến bên giường khi hấp hối. Ông nói: “Con trai, cha rất thất vọng về con. Cha không bao giờ nghe ai nói gì sai trái về con. Xem ra con không có khả năng tự mình tạo ra sự ghen ghét.”

Kiếm một việc làm khác

Như đã thấy qua câu chuyện Voltaire, chúng ta không thể dập tắt sự chỉ trích; nếu nó hãm hại bạn, hãy bỏ đi. Dễ hơn nữa là thay đổi công việc để kiểm soát thanh danh hay nhận thức công chúng về bạn.

Một số công việc và nghề nghiệp có tính chất mỏng manh trước tai tiếng, cái mà trong thời đại Internet này vốn không thể kiểm soát nổi - những công việc này chẳng đáng có. Bạn không thể “kiểm soát” thanh danh của mình; bạn không thể làm thế bằng cách kiểm soát dòng thông tin. Thay vì thế, hãy tập trung vào việc thay đổi mức độ liên lụy của mình, chẳng hạn như đặt mình vào một trạng thái miễn nhiễm trước tai tiếng. Hay thậm chí đặt mình vào tình huống hưởng lợi từ khả năng cải thiện nghịch cảnh của thông tin. Hiểu theo nghĩa đó, nghề viết lách sẽ có khả năng cải thiện nghịch cảnh, nhưng sau đây ta sẽ thấy, những nghề nghiệp hiện đại nhất thường không có khả năng cải thiện nghịch cảnh.

Tôi đến Milan, ra sức giải thích về khả năng cải thiện nghịch cảnh cho Luca Formenton, nhà xuất bản tiếng Ý (với sự trợ giúp tuyệt vời của ngôn ngữ tay chân và cơ thể). Tôi ở đó một phần vì món rượu tráng miệng Moscato, một phần vì một hội nghị trong đó một diễn giả chính khác là một nhà kinh tế học fragilista nổi tiếng. Vì thế, chợt nhớ ra mình là một tác giả, tôi trình bày với Luca một thực nghiệm tư duy như sau: nếu tôi đánh bại nhà kinh tế học trước công chúng, điều gì sẽ xảy ra với tôi (ngoài cuộc thử nghiệm công khai khiến người ta chú ý đến khái niệm mới về fragilitaantifragilita)? Bạn biết đấy, nhà kinh tế học này có bộ mặt được gọi là tête à baffe, một bộ mặt nhìn muốn tát, hệt như chiếc bánh ngọt Ý nhìn muốn cắn. Luca suy nghĩ trong một giây… thế đấy, không có vẻ gì là ông muốn tôi làm thế, nhưng bạn biết mà, điều đó không gây tổn hại cho việc bán sách. Trên cương vị một tác giả, không điều gì tôi làm mà khiến cho nó lên trang nhất của tờ báo Corriere della Sera lại gây trở ngại cho quyển sách của tôi. Gần như không một vụ bê bối nào có thể gây tổn hại cho một nghệ sĩ hay một nhà văn.16

Bây giờ giả sử tôi là quản lý cấp trung của một công ty nào đó niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Luân Đôn, loại người không bao giờ chấp nhận cơ hội ăn mặc xoàng xĩnh, luôn luôn đóng bộ vét và thắt cà vạt (thậm chí trên bãi biển). Điều gì sẽ xảy ra cho tôi nếu tôi tấn công một fragilista? Lý lịch bị sa thải và bị bắt giữ của tôi sẽ hại đời tôi mãi mãi. Tôi sẽ là nạn nhân tuyệt đối của khả năng cải thiện nghịch cảnh của thông tin. Nhưng ai đó hưởng lương ở mức gần với mức lương tối thiểu, chẳng hạn như một công nhân xây dựng hay tài xế taxi, sẽ không phụ thuộc quá nhiều vào danh tiếng của mình và sẽ thoải mái bộc lộ quan điểm riêng. Những người này sẽ chỉ mạnh mẽ mà thôi, trong khi người nghệ sĩ mới có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Một nhân viên ngân hàng bậc trung với một khoản vay thế chấp sẽ mỏng manh trước hoàn cảnh cực đoan. Thật ra, gã hoàn toàn là tù nhân của một hệ thống giá trị cám dỗ gã tha hóa cho tới cốt lõi - vì sự phụ thuộc vào kỳ nghỉ hàng năm ở Barbados (vùng Caribê). Với một công chức chính phủ ở Washington cũng thế. Hãy thử quy tắc suy nghiệm dễ áp dụng này (nhắc lại định nghĩa, đó là một quy tắc suy nghiệm đơn giản) để tìm tính độc lập và sự mạnh mẽ của ai đó trước danh tiếng; những người mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao này rất mỏng manh trước thông tin về họ.

Các công ty lớn và chính phủ dường như không hiểu sức mạnh bật lại này của thông tin cũng như khả năng kiểm soát của nó đối với chính những người cố gắng kiểm soát thông tin. Khi bạn nghe một công ty hay một chính phủ nợ nần chồng chất đang cố gắng “khôi phục niềm tin” thì bạn biết rằng họ rất mỏng manh, vì thế họ sắp chịu số phận bi đát. Thông tin rất tàn nhẫn: một cuộc họp báo để “trấn an” và rồi các nhà đầu tư sẽ bỏ chạy, dẫn đến cái chết nhanh chóng hay làm người ta đổ xô đến ngân hàng rút tiền. Đó là lý do khiến tôi có một quan điểm ám ảnh chống lại tình trạng nợ nần của chính phủ, như một người ủng hộ trung thành cho cái gọi là chủ nghĩa bảo thủ ngân sách. Khi bạn không mắc nợ, bạn sẽ chẳng lo lắng gì về tiếng tăm của mình trong giới kinh tế học - và bằng cách nào đó, chỉ khi bạn không lo lắng gì về tiếng tăm của mình thì bạn mới có xu hướng đạt được tiếng thơm. Cũng hệt như trong vấn đề cám dỗ, chính những người ít cần tiền nhất lại là những người mà người ta muốn cho họ vay nhất.

Và chúng ta mù mờ về khả năng cải thiện nghịch cảnh của thông tin thậm chí trong nhiều lĩnh vực hơn. Nếu tôi đánh gục một đối thủ dưới thời cha ông ta, tôi sẽ làm ông ta bị thương, làm ông ta suy yếu, có thể loại trừ ông ta vĩnh viễn, và được rèn luyện thể lực trong quá trình đó. Nếu tôi thuê một nhóm du đãng để lấy đầu ông ta, ông ta sẽ đi tong. Nhưng nếu tôi tổ chức một đợt công kích bằng thông tin trên các trang web và báo chí, xem ra tôi chỉ giúp ích cho ông ta và làm tổn thương chính mình.

Vì thế tôi kết thúc phần này bằng một suy nghĩ. Thật là rắc rối ở chỗ, những người mà ta hưởng lợi từ họ nhiều nhất không phải là những người cố gắng giúp ta (chẳng hạn như bằng cách “tư vấn”) mà đúng ra lại là những người ra sức làm hại ta, nhưng cuối cùng họ bị thất bại.

Tiếp theo tôi sẽ chuyển sang sự phân biệt chủ yếu giữa những đối tượng yêu thích căng thẳng và những đối tượng không yêu thích căng thẳng.

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.