TRƯỜNG HỢP Y HỌC

Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15lịch Sử Được Viết Bởi Những Kẻ Thất Bại
Chương 15lịch Sử Được Viết Bởi Những Kẻ Thất Bại

❊ ❊ ❊

Chim có thể lắng nghe - Kết hợp sự chất phác với trí khôn thay vì ngược lại - Nơi ta đi tìm mũi tên khám phá - Xác minh cho hoạt động thử nghiệm và sửa sai

Do tràn ngập định kiến, các sử gia lệ thuộc vào các hiện tượng phụ và các ảo tưởng khác về nguyên nhân và kết quả. Để tìm hiểu lịch sử công nghệ, bạn cần đến cách giải thích của những người không phải sử gia, hay những sử gia có trạng thái tâm lý đúng đắn, xây dựng ý tưởng thông qua xem xét sự hình thành công nghệ, thay vì chỉ đọc các bản mô tả công nghệ. Trên đây tôi có đề cập tới việc nhà khoa học thực hành Terence Kealey đã bóc trần cái gọi là mô hình tuyến tính.70Các nhà khoa học thí nghiệm thực hành hay các kỹ sư có thể chứng kiến hoạt động tạo ra các phát minh dược lý hay động cơ phản lực trong đời thường, và vì thế có thể tránh rơi vào hiện tượng phụ, trừ khi họ đã được tẩy não trước khi bắt đầu thực hành.

Tôi từng chứng kiến tận mắt bằng chứng về những kết quả không nhờ khoa học hàn lâm, mà đúng hơn, nhờ vào hoạt động chỉnh sửa tiến hóa, nhưng bị ngụy tạo và bị cho là xuất phát từ giới học thuật.

BẢNG 5. HIỆU ỨNG DẠY-CHIM-CÁCH-BAY TRONG CÁC LĨNH VỰC:

VÍ DỤ VỀ SỰ QUY KẾT SAI THÀNH TỰU TRONG CÁC SÁCH GIÁO KHOA

LĨNH VỰC

NGUỒN GỐC VÀ PHÁT TRIỂN THEO

QUẢNG BÁ CỦA CÁC GIẢNG VIÊN ĐIỂU CẦM

NGUỒN GỐC VÀ PHÁT TRIỂN THẬT SỰ

Động cơ phản lực

Các nhà vật lý

(bị Scranton vạch trần)

Các kỹ sư chỉnh sửa mà không hiểu “tại sao nó hoạt động được”

Kiến trúc

Hình học Euclid, toán học (bị Beaujouan vạch trần)

Quy tắc suy nghiệm và các công thức bí mật (các phường hội)

Điều khiển học

Norbert Wiener (bị Mindell vạch trần)

Các nhà lập trình theo kiểu wiki (nhiều người đóng góp dần dần)

Các công thức định giá chứng khoán phái sinh

Black, Scholes, và fragilista Merton (bị Haug và Taleb vạch trần)

Các nhà giao dịch và những người thực hành, Regnauld, Bachelier, Thorp

Y học

Tri thức sinh học (bị hàng loạt bác sĩ vạch trần)

May rủi, thử nghiệm và sửa sai, tác dụng phụ của các loại thuốc khác, hay đôi khi là sự nhiễm độc (hơi mù tạc)

Cách mạng công nghiệp

Tăng trưởng tri thức, cách mạng khoa học (bị Kealey vạch trần)

Những người phiêu lưu, những người có sở thích riêng

Công nghệ

Khoa học hình thức

Công nghệ, các doanh nghiệp

Từ lâu trước khi tôi biết các kết quả trong bảng 5 về những học giả khác đã bóc trần hiệu ứng dạy chim cách bay, vấn đề đã bắt đầu thôi thúc tôi vào khoảng năm 1998 như sau. Tôi đang ngồi trong một nhà hàng Chicago với Fred A. quá cố, một nhà kinh tế học và là một người lịch thiệp chu đáo. Ông là trưởng kinh tế gia của một trong các sàn giao dịch địa phương và phải tư vấn cho họ về các sản phẩm tài chính phức tạp mới và muốn biết ý kiến của tôi về những vấn đề này, vì tôi chuyên về lĩnh vực đó và đã xuất bản một quyển sách về bán khống cái gọi là “các quyền chọn nước ngoài” (exotic options) vô cùng phức tạp. Ông nhận ra rằng nhu cầu đối với các sản phẩm này sắp tới sẽ rất lớn, nhưng ông tự hỏi “làm sao các nhà giao dịch có thể xử lý các quyền chọn nước ngoài phức tạp nếu họ không thông hiểu định lý Girsanov.” Định lý Girsanov khá phức tạp về mặt toán học và lúc bấy giờ chỉ có một số ít người biết. Và chúng tôi nói về những nhà giao dịch tầng trệt, những người mà như ta vừa thấy trong chương trước, chắc chắn sẽ nhầm Girsanov là nhãn hiệu của một loại rượu vodka. Các nhà giao dịch thường không có trình độ và thường được xem là có trình độ quá cao nếu họ có thể viết đúng chính tả địa chỉ nhà họ, trong khi vị giáo sư quả thật có ấn tượng sai lầm (hiện tượng phụ) rằng các nhà giao dịch sẽ nghiên cứu toán học để định giá quyền chọn. Tôi đã tự tìm hiểu thông qua thử nghiệm và sửa sai và thăm dò tài trí của những người có kinh nghiệm về cách họ chơi các loại chứng khoán phức tạp này trước khi tôi nghe về các định lý này.

Tôi chợt nhận ra một điều gì đó. Không ai lo lắng rằng một đứa trẻ vốn chẳng biết gì về các định lý khí động lực và chẳng thể giải một phương trình chuyển động sẽ không biết chạy xe đạp. Vậy thì tại sao ông không dịch chuyển ý tưởng từ một lĩnh vực này sang một lĩnh vực khác? Tại sao ông không nhận ra rằng các nhà giao dịch tầng trệt trên sàn Chicago này phản ứng trước cung và cầu, phản ứng nhiều hơn một chút trong cuộc cạnh tranh kiếm tiền, mà chẳng cần biết tới định lý Girsanov, cũng hệt như một nhà buôn quả hồ trăn ở chợ Damascus không cần giải phương trình cân bằng tổng quát để ấn định giá bán sản phẩm của mình?

Trong một phút, tôi tự hỏi phải chăng mình đang sống trên một hành tinh khác, hay là tấm bằng tiến sĩ và sự nghiệp nghiên cứu của con người lịch thiệp này đã làm ông mù quáng và mất đi nhận thức thông thường một cách kỳ lạ đến thế, hay là những người không có khả năng thực hành thường xoay xở để dồn công sức và sự quan tâm vào việc đạt được tấm bằng tiến sĩ trong một thế giới kinh tế học đầy những phương trình hư cấu. Phải chăng có một định kiến chọn lọc?

Tôi thoáng thấy nghi ngờ và trở nên cực kỳ phấn khích, nhưng nhận ra rằng nếu có ai đó có thể giúp tôi, người ấy phải vừa là một nhà nghiên cứu vừa là một người thực hành, với hoạt động thực hành trước hoạt động nghiên cứu. Tôi chỉ biết một người, một nhà giao dịch chuyển sang nghiên cứu, Espen Haug, anh ắt hẳn phải nhận thấy cơ chế này. Cũng như tôi, anh nhận bằng tiến sĩ sau khi trải qua một thời gian trong các phòng giao dịch. Vì thế, chúng tôi ngay lập tức bắt đầu tìm hiểu về nguồn gốc công thức định giá quyền chọn mà chúng ta đang sử dụng: loại người nào đã sử dụng trước? Có phải nhờ vào giới học thuật suy ra công thức mà giờ đây chúng ta có thể sử dụng, hay là công thức xuất phát từ quá trình khám phá tiến hóa có khả năng cải thiện nghịch cảnh dựa vào thử nghiệm và sửa sai, hiện bị giới học thuật chiếm đoạt? Tôi đã có một manh mối khi tôi còn làm việc trên cương vị nhà giao dịch tầng trệt trên sàn giao dịch Chicago và quan sát thấy các nhà giao dịch kỳ cựu từ chối động đến các công thức toán học, chỉ sử dụng suy nghiệm và nói “những con người chân chính không sử dụng các bảng tính”; “bảng tính” ở đây là các bảng kết quả từ các công thức phức tạp in ra từ máy tính. Thế nhưng họ vẫn tồn tại. Họ định giá chứng khoán tinh vi và hiệu quả hơn so với tính bằng công thức, và rõ ràng là việc định giá của họ có trước công thức máy tính. Ví dụ như định giá cho các hệ thống Ngẫu nhiên cực độ và “đuôi béo”, mà các công thức tiêu chuẩn chưa có.

Haug có những mối quan tâm khác với mối quan tâm của tôi: anh say mê tài chính và nôn nóng thu thập các bài báo lịch sử của những người thực hành. Anh tự gọi mình là “nhà sưu tập”, thậm chí sử dụng nó như một chữ ký, khi anh thu gom và sưu tập sách vở và các bài báo về lý thuyết quyền chọn được viết từ trước Chiến tranh thế giới I, và từ đó, chúng tôi xây dựng một hình ảnh rất chính xác về những gì đã diễn ra. Trong nỗi phấn khích của mình, chúng tôi có hết bằng chứng này đến bằng chứng khác cho thấy rằng các nhà giao dịch thực hành có tư duy tinh tế hơn rất nhiều so với công thức. Và sự phát triển tinh tế của họ có trước các công thức chí ít cả thế kỷ. Lẽ dĩ nhiên, điều này đạt được thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên, sự tồn tại, học việc với những nhà thực hành có kinh nghiệm, và tài chuyên môn riêng.

Các nhà giao dịch hoạt động giao dịch Các nhà giao dịch

tìm ra các kỹ thuật và sản phẩm Các học giả kinh tế tìm

công thức và yêu cầu các nhà giao dịch sử dụng công thức

Các nhà giao dịch mới tin vào các học giả Nổ tung (do tính

mỏng manh mà lý thuyết gây ra)

Bài báo của chúng tôi phải mất gần bảy năm mới được đăng trên một tạp chí kinh tế hàn lâm - cho đến khi đó, một hiện tượng kỳ lạ xảy ra: nó trở thành một trong những bài báo được tải xuống nhiều nhất trong lịch sử kinh tế học, nhưng không hề được trích dẫn suốt những năm đầu tiên. Không ai muốn khuấy động nó lên.71

Các nhà thực hành không viết mà chỉ làm. Chim bay, và những người giảng dạy cho chim là những người viết chuyện về chim. Vì thế, ta dễ dàng thấy rằng lịch sử quả thật được viết bỏi những kẻ thất bại vốn có nhiều thời gian và có địa vị học thuật được bảo vệ.

Điều trớ trêu nhất là, chúng tôi còn trực tiếp nhìn thấy quá trình tường thuật tư tưởng hình thành như thế nào, vì chúng tôi đủ may mắn để đối mặt với một kịch bản chiếm đoạt tri thức rành rành khác. Chúng tôi nhận được thư mời đăng câu chuyện nhìn từ góc độ của chúng tôi, các nhà thực hành quyền chọn, trong Bách khoa toàn thư Wiley về tài chính định lượng. Vì thế, chúng tôi viết lại một phiên bản khác của bài báo trên, có bổ sung thêm các kinh nghiệm riêng của mình. Thật là sốc: chúng tôi bắt quả tang nhà biên tập mục lịch sử, một giáo sư trường cao đẳng Barnard, đang cố gắng sửa đổi lập luận của chúng tôi. Là một nhà sử học về tư tưởng kinh tế, gã bắt đầu viết lại câu chuyện của chúng tôi để hạ thấp nó, nếu không muốn nói là đảo ngược thông điệp của nó và thay đổi mũi tên hình thành tri thức. Đây là lịch sử khoa học trong quá trình xây dựng. Gã này ngồi trong văn phòng trường cao đẳng Barnard đang ra lệnh cho chúng tôi về những gì chúng tôi nhìn thấy trên cương vị những người giao dịch - với logic của mình, gã không đếm xỉa đến những gì chính mắt chúng tôi nhìn thấy.

Tôi đâm ra chú ý đến những sự đảo ngược tương tự trong quá trình xây dựng tri thức. Ví dụ, trong quyển sách viết vào cuối thập niên 1990, giáo sư fragilista trường Berkeley từng được chứng nhận đàng hoàng Mark Rubinstein cho rằng các kỹ thuật và quy tắc suy nghiệm mà những người thực hành chúng tôi vô cùng quen thuộc (thường là dưới những hình thức tinh xảo hơn) là nhờ vào các ấn bản của các giáo sư tài chính từ thập niên 1980, khi tôi đã tham gia vào hoạt động kinh doanh này.

Không, chúng tôi không đưa lý thuyết vào thực tiễn. Chúng tôi tạo ra lý thuyết từ thực tiễn. Đó là câu chuyện của chúng tôi, và thật dễ dàng suy luận ra từ đó, và từ những câu chuyện tương tự, rằng sự nhầm lẫn đã bị khái quát hóa. Lý thuyết là con đẻ của việc điều trị chứ không phải ngược lại - ex cura theoria nascitur.

Hóa ra các kỹ sư cũng bị các sử gia ăn chặn.

Ngay sau vụ việc buồn nôn trên đây, tôi trình bày một bài báo tôi viết cùng với Haug về ý tưởng dạy chim cách bay và về cách làm thế nào để bay lên trong tài chính tại trường Kinh tế Luân Đôn, trong buổi hội thảo về xã hội học khoa học. Lẽ dĩ nhiên, tôi bị chất vấn (nhưng cho đến lúc ấy tôi đã là người có trình độ xuất sắc về việc bị chất vấn bởi các nhà kinh tế học). Lúc ấy, thật là ngạc nhiên: Kết thúc phiên thảo luận, những người tổ chức thông báo với tôi rằng, chính xác một tuần trước đó, Phil Scranton, một giáo sư từ Rutgers đã công bố một câu chuyện hoàn toàn tương tự, nhưng không phải về công thức quyền chọn tài chính, mà về động cơ phản lực.

Scranton chứng minh rằng chúng ta đã xây dựng và sử dụng động cơ phản lực theo cách thức thử nghiệm và sửa sai hoàn toàn, mà không ai thật sự am hiểu về lý thuyết. Những người xây dựng cần có những kỹ sư

biết cách phối hợp các yếu tố để làm cho động cơ hoạt động. Lý thuyết đến sau, một cách khập khiễng, để thỏa mãn những kẻ đo lọ nước mắm đếm củ dưa hành. Nhưng đó không phải là điều bạn đọc được trong lịch sử công nghệ tiêu chuẩn: con trai tôi vốn nghiên cứu về thiết kế công trình không gian vũ trụ mà còn không biết được điều này. Scranton lịch sự và chỉ tập trung vào những tình huống trong đó phát minh đổi mới có tính chất hỗn độn, “phân biệt với các phương pháp phát minh phân tích và tổng hợp quen thuộc hơn”, cứ như thể phương pháp tổng hợp là chuẩn mực, trong khi rõ ràng là không phải.

Tôi đi tìm thêm các mẩu chuyện, và sử gia công nghệ David Edgerton cho tôi thấy thêm một cú sốc nữa. Chúng tôi từng nghĩ điều khiển học (cybernetics) dẫn đến “điều khiển” trong không gian điều khiển là do Norbert Wiener phát minh vào năm 1948. Sử gia thiết kế công trình David Mindell vạch trần câu chuyện; ông chứng minh rằng Wiener chỉ trình bày mạch lạc những ý tưởng về kiểm soát phản hồi và điện toán kỹ thuật số vốn dĩ đã được thực hành từ lâu trong thế giới thiết kế công trình. Thế nhưng mọi người - ngay cả các kỹ sư ngày nay - có ảo tưởng rằng chúng ta mang ơn tư duy toán học của Wiener trong lĩnh vực này.

Rồi tôi chợt nhận ra ý tưởng sau đây. Tất cả chúng ta đều học hình học từ những cuốn sách giáo khoa dựa vào các tiên đề, chẳng hạn như Sách về các yếu tố (Book of Elements) của Euclid, và có xu hướng nghĩ rằng nhờ vào những kiến thức này mà ngày nay chúng ta có những khối hình học xinh đẹp trong các tòa nhà, từ nhà ở cho đến giáo đường; ai nghĩ ngược lại sẽ bị nguyền rủa. Vì thế, ngay lập tức tôi phỏng đoán rằng người cổ đại quan tâm đến hình học Euclid và các loại toán học khác vì họ đã sử dụng các phương pháp này rồi, suy ra từ hoạt động chỉnh sửa và tri thức dựa trên kinh nghiệm, bằng không họ sẽ không phải bận tâm chút nào. Điều này tương tự như câu chuyện chiếc bánh xe: nên nhớ rằng động cơ hơi nước đã được người Hy Lạp khám phá và triển khai khoảng hai thiên niên kỷ trước cuộc Cách mạng công nghiệp. Vấn đề đơn giản là, các hoạt động áp dụng có xu hướng sinh ra từ thực tiễn, chứ không phải từ lý thuyết.

Bây giờ ta hãy xem xét các công trình kiến trúc xung quanh ta: xem ra thật tinh xảo về mặt hình học, từ các kim tự tháp cho đến các nhà thờ xinh đẹp ở châu Âu. Vấn đề chép sử của những kẻ thất bại khiến ta có xu hướng tin rằng toán học dẫn đến những kiến trúc xinh đẹp này, với một vài ngoại lệ đâu đó như các kim tự tháp, vì chúng xuất hiện trước kiến thức toán học chính thức mà chúng ta chỉ có sau Euclid và các lý thuyết gia Hy Lạp khác. Một vài sự kiện thực tế: các kiến trúc sư (các bậc thầy về công trình kiến trúc) đã dựa vào việc thử nghiệm và sửa sai, các phương pháp thực nghiệm, và các công cụ, và gần như không ai biết gì về toán học - căn cứ theo sử gia khoa học Trung cổ Guy Beaujouan, trước thế kỷ 13, trên toàn châu Âu, không có hơn năm người biết làm toán chia. Chẳng có định lý gì cả. Nhưng những người xây dựng vẫn có thể tìm hiểu về sức bền vật liệu mà không cần đến các phương trình như ta có ngày nay, và xây dựng được những công trình vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Kiến trúc sư Pháp thế kỷ 13 Villard de hơnnecourt dẫn chứng bằng hàng loạt bản vẽ và ghi chú bằng tiếng Picard (ngôn ngữ vùng Picardie ở Pháp) về cách thức xây dựng các giáo đường: các quy tắc do suy nghiệm, các nguyên tắc và các thủ thuật nhỏ, về sau được Philibert de l’Orme lập bảng trong các chuyên luận kiến trúc của ông. Ví dụ, một tam giác được hình dung như một cái đầu ngựa. Hoạt động thực nghiệm có thể giúp con người cẩn thận hơn so với lý thuyết.

Hơn nữa, chúng ta khá chắc chắn rằng người La Mã, các kỹ sư đáng khâm phục, đã xây dựng các cống dẫn nước mà không cần đến toán học (chữ số La Mã không giúp cho việc phân tích định lượng trở nên dễ dàng). Nếu như hồi ấy có toán học, tôi tin rằng, những thành tựu đó sẽ không còn tồn tại đến ngày nay, vì tác dụng phụ rõ ràng của toán học là làm cho con người tối ưu hóa quá đáng và làm tắt, gây ra tính mỏng manh. Chỉ cần nhìn vào những công trình mới đây, ngày càng mau hỏng hóc sớm lụi tàn hơn so với những công trình cũ là đủ rõ.

Và cứ xem thử sổ tay hướng dẫn kiến trúc của Vitruvius, De architectura (Kiến trúc), kinh thánh của các kiến trúc sư, được viết khoảng 300 năm sau Sách về các yếu tố của Euclid. Không có hình học chính quy trong đó, và lẽ dĩ nhiên, không đề cập gì đến Euclid, mà chủ yếu là các quy tắc suy nghiệm, loại tri thức xuất phát từ các bậc thầy trong nghề, hướng dẫn cho những người học việc. (Đáng chú ý, kết quả toán học duy nhất mà ông đề cập đến là định lý Pythagore, hết sức ngạc nhiên rằng người ta có thể tạo ra đúng góc độ “mà không cần đến các công cụ của người thợ.”) Toán học ắt chỉ được gói gọn trong những bài toán tinh thần mãi cho đến thời kỳ Phục hưng.

Tôi không có ý muốn nói rằng lý thuyết hay khoa học hàn lâm là hoàn toàn tụt hậu sau các công nghệ thực hành trực tiếp suy ra từ khoa học cho ứng dụng sau cùng của chúng (chứ không phải cho một số ứng dụng hời hợt) - những gì mà nhà nghiên cứu Joel Mokyr gọi là “cơ sở tri thức” (epistemic base), hay tri thức mang tính lý thuyết (propostional knowledge), một kiểu kho tàng “tri thức” chính quy, bao trùm các khám phá lý thuyết và thực nghiệm, và đại loại trở thành sách vở tiêu chuẩn, được dùng để tạo ra nhiều tri thức và ứng dụng hơn (theo suy nghĩ của ông). Nói cách khác, những lý thuyết từ đó có thể trực tiếp suy ra nhiều lý thuyết hơn.

Nhưng đừng trở thành những kẻ bị lừa: tuân theo ông Mokyr có thể làm cho người ta muốn nghiên cứu địa lý học kinh tế để dự đoán giá tỷ giá hối đoái (tôi muốn giới thiệu ông với nhà chuyên môn về gỗ xanh). Trong khi tôi thừa nhận khái niệm nền tảng tri thức, điều tôi hoài nghi là vai trò thật sự của nó trong lịch sử công nghệ. Ta không có bằng chứng về ảnh hưởng mạnh mẽ của nó, và tôi đang chờ xem ai đó có thể chứng minh cho tôi thấy. Mokyr và những người cổ xúy cho quan niệm này không đưa ra bằng chứng cho thấy nó không phải là hiện tượng phụ - mà xem ra họ cũng không hiểu ý nghĩa của hiệu ứng phi đối xứng. Vai trò của khả năng chọn lựa ở đâu?

Có nhiều bí quyết được truyền từ các bậc thầy thực hành sang những người học việc, và chỉ lưu truyền theo cách đó - và các loại bằng cấp chỉ cần thiết như một quá trình chọn lọc hay để làm cho nghề nghiệp được tôn trọng hơn, hay có ích ở nơi này nơi khác, nhưng không có tính chất hệ thống. Và vai trò của tri thức chính thức được đề cao quá đáng chính xác là vì nó vô cùng dễ thấy.

Có giống như công việc nốu nướng hay không?

Nấu nướng xem ra là công việc hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng chọn lựa. Bạn cho thêm một thành phần nguyên liệu và có quyền chọn giữ nguyên kết quả nếu nó phù hợp với khẩu vị của Tony Béo, hay quên nó đi nếu không phù hợp. Chúng ta cũng có sự thử nghiệm hợp tác theo “kiểu wiki” (nhiều người đóng góp dần dần) dẫn đến một tập hợp các công thức nấu ăn. Các công thức này được suy ra hoàn toàn không có sự phỏng đoán về hóa học hay khẩu vị, không có vai trò của “cơ sở tri thức” để tạo ra những lý thuyết này từ những lý thuyết kia. Cho đến giờ, không ai bị quá trình này lừa. Như Dan Ariely72 từng quan sát, chúng ta không thể suy luận ra hương vị món ăn bằng cách xem xét bảng thành phần dinh dưỡng. Và chúng ta có thể quan sát thấy các suy nghiệm của tổ tiên phát huy tác dụng: các thế hệ sửa chữa chắp vá tập thể dẫn đến sự tiến hóa của các công thức nấu nướng. Các công thức nấu ăn này thấm nhuần trong văn hóa. Các trường dạy nấu ăn hoàn toàn dựa trên cơ sở học việc.

Mặt khác, ta có ngành vật lý thuần túy, trong đó những lý thuyết này được sử dụng để tạo ra những lý thuyết khác với ít nhiều xác định giá trị thực nghiệm. Ở đây, “cơ sở tri thức” có thể đóng một vai trò nhất định. Phát hiện của Higgs Boson là trường hợp hiện đại về việc phát hiện ra một loại hạt hoàn toàn được kỳ vọng từ nguồn gốc lý thuyết (hạt của Chúa). Thuyết tương đối của Einstein cũng thế. (Trước Higgs Boson, một phát hiện ngoạn mục với một số ít dữ liệu bên ngoài hiện hữu là việc suy ra sự tồn tại của hành tinh Neptune (Hải vương tinh) của nhà thiên văn học người Pháp Le Verrier. Ông làm điều này trên cơ sở tính toán hoàn toàn, từ động thái của các hành tinh xung quanh. Khi người ta thật sự nhìn thấy hành tinh này, ông từ chối nhìn nó, cảm thấy vô cùng sảng khoái với kết quả của mình. Đây là các ngoại lệ, và có xu hướng diễn ra trong vật lý và các lĩnh vực khác mà tôi gọi là “tuyến tính”, trong đó, các sai lầm xuất phát từ hệ thống Ngẫu nhiên bình thường, chứ không phải từ hệ thống Ngẫu nhiên cực độ.)

Bây giờ, ta hãy sử dụng ý tưởng nấu nướng làm nền tảng để nắm bắt các sự việc khác: các hoạt động khác có tương tự như vậy hay không? Nếu xem xét kỹ các công nghệ, ta sẽ thấy rằng hầu hết đều giống với hoạt động nấu nướng nhiều hơn là vật lý, nhất là trong những lĩnh vực phức hợp.

Thậm chí y học ngày nay vẫn là một mô hình học việc với khoa học lý thuyết là hậu cảnh, nhưng được làm cho có vẻ hoàn toàn như khoa học. Và nếu rời bỏ mô hình học việc, y học sẽ hướng tới phương pháp “dựa vào bằng chứng”, qua đó ít dựa vào các lý thuyết sinh học hơn, và dựa nhiều hơn vào việc sắp xếp những tình huống bất thường về thực nghiệm, hay ngành hiện tượng học mà tôi đã giải thích trong chương 7. Tại sao khoa học đến rồi đi trong khi công nghệ vẫn ổn định?

Bây giờ, ta có thể thấy vai trò khả dĩ của khoa học cơ bản, nhưng không phải theo cách thức mà người ta dự kiến.73 Đon cử ví dụ về một loạt ứng dụng không dự trù trước, ta hãy bắt đầu với Giai đoạn 1, máy tính. Theo câu chuyện người ta thường kể, ngành toán tổ hợp, ở đây là khoa học cơ bản, được suy ra từ tri thức mang tính lý thuyết, dẫn đến việc xây dựng các máy tính. (Và lẽ dĩ nhiên, xin nhắc độc giả về việc chọn lựa dữ liệu có lợi, ta cần lưu ý tri thức lý thuyết chẳng đi đến đâu cả.) Nhưng ngay từ đầu, không ai có ý tưởng sẽ làm gì với các hộp khổng lồ đầy các mạch điện vì chúng cồng kềnh, đắt đỏ, và ứng dụng không rộng rãi, ngoài việc quản lý cơ sở dữ liệu, chúng chỉ tốt cho việc xử lý số lượng dữ liệu. Cứ như thể người ta cần phát minh ra một ứng dụng để tạo ra sự chấn động công nghệ. Những người thuộc thế hệ sinh ra sau Chiến tranh thế giới II ắt còn nhớ về những tấm bìa đục lỗ dùng cho những cỗ máy tính khổng lồ này. Rồi sau đó, có người du nhập bảng điều khiển để nhập liệu với sự trợ giúp của một màn hình, thông qua sử dụng bàn phím. Lẽ dĩ nhiên, điều này dẫn đến việc xử lý văn bản, và máy tính cất cánh nhờ phù hợp với công việc xử lý văn bản, nhất là máy vi tính vào đầu thập niên 1980. Thật là thuận tiện, nhưng vẫn chưa có gì nhiều hơn, mãi cho đến khi có những kết quả không lường trước khác xảy ra và được đưa vào máy tính. Bây giờ đến Giai đoạn 2, internet. Internet vốn được thiết lập làm một mạng lưới truyền thông quân sự bền bỉ, được triển khai bỏi một đơn vị nghiên cứu của Bộ Quốc phòng, gọi là DARPA và được quảng bá rầm rộ vào thời kỳ Ronald Reagan đang bị ám ảnh với Liên Xô. Nó nhằm giúp Hoa Kỳ tồn tại trước một cuộc tấn công quân sự tổng quát. Ý tưởng tuyệt vời, nhưng máy tính cá nhân cộng với Internet mang lại cho ta các mạng xã hội, những cuộc hôn nhân tan vỡ, sự lên ngôi của chứng cuồng khoa học, tình trạng con người thời kỳ hậu Xô viết với nỗi khó khăn trong việc tìm một người bạn đời tương xứng. Tất cả đều nhờ vào những đồng tiền thuế ban đầu của người Mỹ (hay đúng hơn là nhờ vào tình trạng thâm hụt ngân sách) trong chiến dịch chống Xô viết của Reagan.

Vì thế, giờ đây ta nhìn vào mũi tên hướng về phía trước và chẳng chỉ cố định vào đâu cả, cho dù khoa học vẫn được sử dụng ít nhiều suốt quá trình, bởi vì công nghệ máy tính dựa vào khoa học trong hầu hết các khía cạnh; và khoa học hàn lâm cũng chẳng phục vụ vào đâu cả trong việc ấn định chiều hướng, mà đúng hơn, nó đóng vai trò nô lệ của những phát hiện tình cờ trong một môi trường mù mờ nhá nhem, mà gần như không có ai ngoài những người bỏ học đại học nửa chừng và những học sinh phổ thông lớn nhanh. Quá trình này vẫn mang tính chất tự định hướng và không thể dự đoán trong mọi giai đoạn. Và sự ngụy biện to lớn là làm cho nó nghe có vẻ phi lý - sự phi lý nằm ở chỗ người ta không nhìn thấy một quyền chọn miễn phí khi nó ở ngay trước mắt ta.

Trung Quốc có lẽ là một câu chuyện khá thuyết phục, thông qua nghiên cứu của một nhà quan sát thiên tài, Joseph Needham,74 người bóc trần phần nào niềm tin phương Tây và cho thấy sức mạnh của khoa học Trung Quốc. Khi Trung Quốc trở thành một chính thể quan liêu từ trên xuống dưới (nghĩa là nhà nước được quản lý bỏi các lãnh đạo tập quyền kiểu Xô viết-Harvard, như Ai Cập trước kia), dân chúng phần nào mất đi niềm đam mê chỉnh sửa, nỗi khao khát thử nghiệm và sửa sai. Simon Winchester, người viết tiểu sử Needham, trích dẫn mô tả của nhà Hán học Mark Elvin, rằng người Trung Quốc không còn cái mà ông gọi là “lòng ham mê chỉnh sửa và cải tiến.” Họ có mọi phương tiện để triển khai một cỗ máy dệt, nhưng “không ai thử làm” - một ví dụ khác về tri thức làm hại khả năng chọn lựa. Có lẽ họ cần có ai đó như Steve Jobs - may mắn không có trình độ đại học nhưng có tính khí năng nổ tháo vát - đưa các yếu tố đi đến kết luận tự nhiên. Như ta sẽ thấy trong phần tiếp theo, chính xác loại người không gì cản trở được này đã giúp cho cuộc Cách mạng công nghiệp xảy ra.

Tiếp theo chúng ta sẽ xem xét hai trường hợp; thứ nhất là Cách mạng công nghiệp và thứ hai là y học. Vì thế, ta sẽ bắt đầu bằng cách bóc trần bí ẩn nhân quả về cuộc Cách mạng công nghiệp, việc thổi phồng vai trò của khoa học trong đó.

Cách mạng công nghiệp

Sự hình thành tri thức, ngay cả tri thức lý thuyết, phải mất thời gian, phải có chút buồn chán, và tinh thần tự do có được nhờ người ta vốn có một việc làm khác, do đó, cho phép người ta thoát khỏi sức ép theo kiểu nhà báo của giới học thuật hiện đại, những người cần phải có tác phẩm công bố rồi lụi tàn, để chế tạo ra những tri thức giả hiệu, hệt như những chiếc đồng hồ hàng nhái người ta mua ở khu phố Tàu ở thành phố New York, loại mà bạn biết đó là hàng nhái cho dù nó trông hệt như hàng thật. Có hai nguồn gốc chính của tri thức ứng dụng (technical knowledge) và sự cách tân ở thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20: những người có niềm đam mê riêng và các mục sư người Anh, cả hai nhóm người này nói chung đều có những tình huống theo kiểu chiến lược hai đầu.

Một tỷ lệ lớn khác thường các phát minh đã ra đời từ giới mục sư, các cha đạo người Anh không vướng bận âu lo, uyên thâm, sống trong những ngôi nhà rộng lớn hay chí ít cũng tiện nghi, có người giúp việc, có trà và bánh nướng phết kem, và có vô vàn thời gian rỗi. Và lẽ dĩ nhiên, họ cũng có khả năng chọn lựa. Đó là những kẻ nghiệp dư được khai sáng. Đức cha Thomas Bayes (như trong xác suất Bayes) và Thomas Malthus (như trong lý thuyết tăng trưởng dân số Malthus) là những người nổi tiếng nhất. Nhưng còn có nhiều câu chuyện ngạc nhiên hơn, được liệt kê trong Home của Bill Bryson, trong đó tác giả nhận thấy các mục sư và giới tu sĩ để lại dấu ấn cho hậu thế nhiều hơn gấp mười lần so với các nhà khoa học, vật lý học, kinh tế học và ngay cả các nhà phát minh. Ngoài hai đức cha vĩ đại trên đây, tôi còn lập ngẫu nhiên một danh sách cống hiến khoa học của giới tu sĩ: đức cha Edmund Cartwright phát minh ra máy dệt, góp phần vào cuộc Cách mạng công nghiệp; đức cha Jack Rusell gây giống chó sục; đức cha William Buckland, người đầu tiên mô tả về khủng long; đức cha William Greenwell sáng lập ra khảo cổ học hiện đại; đức cha Octavious Pickard-Cambridge là người có công nghiên cứu đầu tiên về loài nhện; đức cha George Garrett phát minh ra tàu ngầm; đức cha Gilbert White là nhà tự nhiên học đáng kính nhất vào thời của ông; đức cha M. J. Berkeley là chuyên gia hàng đầu về nấm; đức cha John Michell giúp khám phá ra hành tinh Uranus (Thiên vương tinh); và nhiều người khác nữa. Lưu ý rằng, cũng như với câu chuyện của chúng tôi được Haug dẫn chứng bằng tư liệu, rằng khoa học có tổ chức có xu hướng bỏ qua những con người hành động, cho nên danh sách đóng góp khả kiến của những người có sở thích riêng và những người hành động chắc chắn sẽ ngắn hơn so với thực tế, vì giới học thuật có thể đã chiếm đoạt phát minh của những người đi trước.75

Cho phép tôi đưa vào chút âm hưởng tho ca. Sự uyên bác nhờ tự định hướng còn có một phương diện thẩm mỹ. Trong một thời gian dài, tôi đã nghiên cứu trích dẫn sau đây của Jacques Le Goff, nhà Trung cổ học vĩ đại người Pháp, người tin rằng thời Phục hưng xuất phát từ những nhà nghiên cứu khoa học nhân văn độc lập, chứ không phải giới hàn lâm chuyên môn. Ông xem xét sự tương phản ấn tượng trong những bức tranh thời kỳ này, các bản vẽ, và so sánh các thành viên trường đại học Trung cổ và các nhà nghiên cứu khoa học nhân văn độc lập:

Bên này là vị giáo sư bị vây quanh và chất vấn bỏi đông đảo sinh viên. Bên kia là một học giả đơn độc, ngồi bình yên và riêng tư trong phòng, cảm thấy thoải mái trong gian phòng khang trang và tiện nghi, nơi tư tưởng của ông có thể tự do bay bổng. Ở bên này, ta bắt gặp cảnh xáo động của nhà trường, bụi bặm của các lớp học, sự bàng quan trước cái đẹp ở những nơi xô bồ tập thể, Ở bên kia là trật tự và vẻ đẹp,

Luxe, calme et volupté

Cũng như đối với những người có niềm đam mê riêng, bằng chứng cho thấy họ (cùng với những người khao khát phiêu lưu mạo hiểm và những nhà đầu tư tư nhân) là trọng tâm của cuộc Cách mạng công nghiệp. Kealey, người mà chúng ta từng nhắc tới, không phải là một sử gia, may quá, cũng chẳng phải một nhà kinh tế học, trong cuốn Quy luật kinh tế về nghiên cứu khoa học (The Economic Laws of Scientific Research) đã đặt nghi vấn về “mô hình tuyến tính” thông thường (nghĩa là niềm tin rằng khoa học hàn lâm dẫn đến công nghệ) - đối với ông, các trường đại học phát đạt như một hệ quả của sự phồn vinh của đất nước, chứ không phải ngược lại. Ông thậm chí còn đi xa hơn và cho rằng, hệt như sự can thiệp ngây tho, cũng có hiện tượng gây hại do cố gắng giúp đỡ, dẫn đến sự đóng góp có giá trị âm. Ông chứng minh rằng ở những nước mà chính phủ can thiệp thông qua tài trợ nghiên cứu bằng tiền thuế, đầu tư sẽ tư nhân sẽ giảm sút. Ví dụ, ở Nhật Bản, Bộ Công nghệ và Đầu tư (MITI) đầy quyền lực có một thành tích đầu tư vô cùng kinh khủng. Tôi không sử dụng ý tưởng của ông để biện hộ cho một chương trình chính trị chống lại việc tài trợ khoa học, mà chỉ để vạch trần mũi tên nhân quả trong việc phát minh ra những thành tựu quan trọng.

Để “giải khát” một chút, ta bắt đầu với cuộc Cách mạng công nghiệp, vốn xuất phát từ “các nhà thực hành đi xây dựng công nghệ” hay như ông gọi là “khoa học đam mê”. Thử xem lại câu chuyện động cơ hơi nước, mà hơn bất cứ ví dụ nào, được xem là hiện thân của cuộc Cách mạng công nghiệp. Như ta thấy, ta có một bản vẽ về cách thức xây dựng động cơ hơi nước từ Hero xứ Alexandria. Thế mà lý thuyết không làm cho ai cảm thấy hứng thú suốt hai thiên niên kỷ. Vì vậy, hoạt động thực hành và sự tái khám phá ắt phải là nguyên nhân dẫn đến sự quan tâm đến bản vẽ của Hero, chứ không phải chiều ngược lại.

Kealey trình bày một lập luận vô cùng thuyết phục rằng động cơ hơi nước ra đòi từ công nghệ đã có từ trước và được sáng tạo bỏi những người không được đào tạo, thường hoạt động độc lập, áp dụng nhận thức thực tiễn phổ thông và trực giác để giải quyết những vấn đề cơ khí vây quanh họ, và giải pháp của họ được đền đáp rõ ràng về mặt kinh tế.

Bây giò đến câu chuyện thứ hai, công nghệ dệt. Một lần nữa, theo Kealey, những công nghệ chính dẫn đến bước nhảy vào thế giới hiện đại ngày nay cũng không phải nhờ ơn khoa học. Ông viết: “Năm 1733, John Kay phát minh ra máy dệt thoi, giúp cơ giới hóa hoạt động dệt, và năm 1770, James Hargreaves phát minh ra máy xe sợi, mà như tên gọi của nó cho thấy nó giúp cơ giới hóa hoạt động xe sợi. Các diễn biến phát triển chính trong ngành dệt này, cũng như phát minh của Wyatt và Paul (máy kéo sợi và quấn vào suốt, năm 1758), và Arkwight (guồng quay nước, 1769), điềm báo trước cho cuộc Cách mạng công nghiệp, thế nhưng những phát minh này không mang ơn khoa học, mà là diễn biến phát triển thực nghiệm dựa vào hoạt động thử nghiệm, sửa sai và thí nghiệm của những người thợ lành nghề cố gắng cải tiến năng suất và lợi nhuận của nhà máy họ.”

Sử gia David Edgerton đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa khoa học hàn lâm và thịnh vượng kinh tế, với ý tưởng cho rằng người ta tin vào “mô hình tuyến tính” (nghĩa là khoa học hàn lâm là nguồn gốc của công nghệ) trong quá khứ. Dân chúng vào thế kỷ 19 và 20 không phải là những kẻ bị lừa; ngày nay, chúng ta cho rằng họ tin vào mô hình tuyến tính nói trên, nhưng thật ra họ không tin như vậy. Thật ra, mãi cho đến thế kỷ 20, giới học thuật chủ yếu chỉ là những nhà giáo, chứ không phải những nhà nghiên cứu.

Bây giờ, thay vì xem xét các tài liệu của một học giả để tìm hiểu liệu ông có đáng tin cậy hay không, tốt nhất ta nên xem thử những người gièm pha ông nói gì - họ sẽ phát hiện những gì tệ nhất trong lập luận của ông. Vì thế, tôi tìm kiếm những người gièm pha Kealey, hay những người chống đối ý tưởng của ông để xem thử liệu họ có nói đến bất cứ điều gì có lý hay không và xem thử họ xuất phát từ đâu. Ngoài một vài bình luận của Joel Mokyr, người mà như tôi đã nói, chưa phát hiện ra khả năng chọn lựa, và sự tấn công của một nhà kinh tế học thuộc loại không có giá trị, ứng với sự xuống giá của nghề kinh tế học, thì lập luận chủ yếu chỉ trích Kealey, đăng trong tạp chí có ảnh hưởng Nature, cho rằng ông sử dụng dữ liệu từ những cơ quan được chính phủ tài trợ như OECD trong lập luận chống lại việc tài trợ nghiên cứu bằng tiền thuế. Cho đến giờ, vẫn không có bằng chứng đáng kể cho thấy Kealey sai. Nhưng, ta hãy lật lại gánh nặng bằng chứng: không có bằng chứng cho thấy điều trái với quan điểm của ông là đúng. Gần như đây là một niềm tin mù quáng vào sức mạnh vô điều kiện của khoa học có tổ chức, thay thế cho niềm tin mù quáng vô điều kiện vào tôn giáo có tổ chức.

Chính phủ nên chi tiêu cho hoạt động chỉnh sửa phi mục đích luận, chù không phái cho hoạt động nghiên cùu

Lưu ý, tôi không tin rằng lập luận đưa ra ở đây về mặt logic sẽ đi đến kết luận rằng chính phủ không nên chi tiêu ngân sách. Lập luận này chống lại thuyết mục đích luận, chứ không phải chống lại hoạt động nghiên cứu nói chung. Phải có một hình thức chi tiêu nào đó phát huy tác dụng. Thông qua sự xoay vần biến cố có lợi, chính phủ đã đạt được những kết quả to lớn từ hoạt động nghiên cứu, nhưng không phải theo cách thức dự định; chẳng hạn như với Internet. Và hãy xem thử những kết quả ta đạt được từ chi tiêu quân sự qua các phát minh đổi mới, và như ta cũng sẽ thấy, trong lĩnh vực điều trị y khoa. Tương tự, khi tìm hiểu sự việc, các quan chức thường mang tư tưởng mục đích luận quá đáng (nhất là người Nhật), và các công ty lớn cũng thế. Hầu hết các công ty lớn cũng là kẻ thù của chính họ, như trong ngành dược khổng lồ.

Ta hãy xem hoạt động nghiên cứu không có mục tiêu rõ ràng, dựa vào sự mày mò và lòng hiếu kỳ (blue sky research), trong đó tiền viện trợ và ngân sách nghiên cứu được trao cho con người, chứ không phải cho dự án, và được chia thành những khoản tiền nhỏ cho nhiều nhà nghiên cứu. Nhà xã hội học khoa học Steve Shapin đã dành thời gian quan sát các nhà đầu tư vốn mạo hiểm ở California và tường thuật rằng các nhà đầu tư có xu hướng hỗ trợ các nghiệp chủ, chứ không phải hỗ trợ các ý tưởng. Các quyết định chủ yếu là vấn đề quan niệm được củng cố bằng những khái niệm như “người mà bạn đã biết là ai” và “người đã nói điều gì”; theo ngôn ngữ của các nhà đầu tư vốn mạo hiểm, bạn đánh cá dựa vào người cưõi ngựa, chứ không phải dựa vào con ngựa. Tại sao? Bỏi vì hoạt động phát minh đổi mới có tính chất trôi giạt tình cờ, và người ta cần những khả năng tương tự như những người đi phượt, để liên tục nắm bắt những cơ hội phát sinh, chứ không phải khóa chặt vào một khuôn đúc quan liêu cứng nhắc. Shapin chứng minh rằng, các quyết định đầu tư vốn mạo hiểm quan trọng được đưa ra mà không có những kế hoạch kinh doanh thực tế. Vì thế, nếu có bất kỳ sự “phân tích” nào, bản chất của phân tích đó là để dự phòng, để khẳng định lại mà thôi. Chính tôi đã có thời gian hoạt động cùng với các nhà đầu tư vốn mạo hiểm ở California, trong đó họ xem xét chính tôi trên cương vị một nhà đầu tư, và đủ chắc chắn rằng đó là một khuôn mẫu điển hình.

Rõ ràng, đồng tiền nên dành cho những người chỉnh sửa năng nổ xốc vác mà bạn tin rằng sẽ biết khai thác các quyền chọn.

Cho phép tôi sử dụng lập luận thống kê và toán học trong phần này. Thành quả từ hoạt động nghiên cứu là từ Ngẫu nhiên cực độ; chúng có phân phối thống kê theo quy tắc lũy thừa, trong đó, kết quả có lợi thì lớn và gần như vô hạn, đồng thời, nhờ khả năng chọn lựa, nên kết quả có hại có giới hạn. Vì thế, kết quả từ hoạt động nghiên cứu nhất thiết sẽ có quan hệ tuyến tính theo số lượng phép thử, chứ không phải theo tổng số tiền liên quan trong các phép thử. Như trong hình 7, vì người thắng cuộc sẽ đạt một kết quả vô cùng to lớn, không giới hạn, cho nên cách tiếp cận đúng đắn đòi hỏi phải theo kiểu tài trọ một cách mù mờ hú họa. Điều đó có nghĩa chính sách đúng đắn sẽ là cái gọi là “một chia cho n” hay “1/N”, dàn trải nỗ lực cho càng nhiều phép thử càng tốt: nếu bạn đứng trước n quyền chọn, thì hãy đầu tư vào tất cả quyền chọn những số tiền bằng nhau.76 Một số tiền nhỏ cho mỗi phép thử, ứng với nhiều phép thử, sẽ dàn trải rộng khắp hơn bạn mong muốn. Tại sao? Vì trong hệ thống Ngẫu nhiên cực độ, điều quan trọng là đầu tư vào mỗi quyền chọn với một giá trị nhỏ còn hơn là bỏ lỡ nó. Như một nhà đầu tư vốn mạo hiểm từng bảo tôi: “Kết quả có thể lớn đến mức bạn không thể không đầu tư vào mọi thứ.”

Không như công nghệ, y học có một lịch sử thuần hóa chuyện may rủi từ lâu đòi; y học hiện đã chấp nhận tính ngẫu nhiên trong thực hành. Nhưng không hoàn toàn.

Dữ liệu y học cho phép ta đánh giá kết quả của những nghiên cứu có mục đích so với các phát minh hình thành một cách ngẫu nhiên. Chính phủ Hoa Kỳ cho ta một bộ dữ liệu lý tưởng: các hoạt động của Viện Ung thư quốc gia ra đòi từ “cuộc chiến chống ung thư” của Nixon vào đầu thập niên 1970. Morotn Meyers, bác sĩ thực hành kiêm nhà nghiên cứu, đã viết trong quyển sách tuyệt vòi Những tình cờ hạnh phúc: Khả năng cầu may trong đột phá y học hiện đại (Happy Accidents: Serendipity in Modern Medical Breakthroughs): “Trên 20 năm sàng lọc hơn 144.000 mẫu thực vật, tiêu biểu cho khoảng 15.000 loài, không có lấy một loại thảo dược chống ung thư nào được phê duyệt. Thất bại này tương phản hoàn toàn với phát minh vào cuối thập niên 1950 của một nhóm thảo dược chống ung thư, Vinca Alcaloids, một khám phá tình cờ chứ không phải thông qua nghiên cứu theo chỉ đạo.”

John LaMatina, một người trong ngành đã mô tả những gì ông thấy sau khi ròi ngành dược, trình bày số liệu thống kê minh họa khoảng cách giữa nhận thức công chúng về đóng góp của giới hàn lâm và sự thật: trong 10 loại thuốc thì có đến chín loại được phát triển từ hoạt động tư nhân. Ngay cả Viện Y tế quốc gia được tài trợ bằng tiền thuế cũng nhận thấy rằng trong số 46 loại thuốc trên thị trường với doanh số đáng kể, chỉ có khoảng ba loại liên quan đến ngân sách liên bang.

Chúng ta không thấu hiểu sự thực là việc điều trị ung thư đã ra đòi từ những nhánh nghiên cứu khác. Bạn đi tìm những loại thuốc không phải để chống ung thư (hay không phải thuốc) và tìm thấy những gì bạn không định tìm (và ngược lại). Nhưng điều thú vị là khi một kết quả thoạt đầu được một nhà nghiên cứu hàn lâm phát hiện, ông ta có thể xem thường kết quả đó vì nó không phải là những gì ông ta muốn tìm - giới học thuật phải tuân theo một kịch bản hay một kế hoạch định trước. Vì thế, nói theo ngôn ngữ quyền chọn, ông ta không thực hiện quyền chọn bất chấp giá trị của nó, vi phạm nghiêm trọng tính duy lý (bất kể bạn định nghĩa tính duy lý như thế nào), hệt như ai đó tham lam nhưng lại không nhặt lấy một số tiền lớn tìm được trong vườn nhà mình. Meyers cũng chứng minh hiệu ứng dạy-chim-cách-bay khi các phát minh sau đó được tường thuật là thuộc về giới nghiên cứu hàn lâm, góp phần vào ảo tưởng của chúng ta.

Trong một số trường hợp, do nguồn gốc phát minh là quân đội, ta không biết chính xác những gì đang diễn ra. Đon cử liệu pháp hóa trị để trị ung thư, như thảo luận trong sách của Meyers. Một chiếc tàu Mỹ chở hoi mù tạc ròi Bari ở Ý bị quân Đức đánh bom vào năm 1942. Điều này giúp phát minh ra liệu pháp hóa trị nhờ vào ảnh hưởng của hoi độc đối với tình trạng sức khỏe của những binh sĩ bị ung thư bạch cầu. Nhưng hoi mù tạc bị cấm theo Công ước Geneva, vì thế câu chuyện được giữ bí mật - Churchill kiểm duyệt mọi hồ sơ của Anh đề cập đến chuyện này, và ở Hoa Kỳ, thông tin cũng bị ngăn chặn, tuy vậy, việc nghiên cứu về ảnh hưởng của hợp chất nito dùng điều trị bệnh ung thư (nitrogen mustard) không bị ngăn chặn.

James Le Fanu, bác sĩ và tác giả viết về y khoa, viết rằng sự tiến hóa phép chữa bệnh, hay thời kỳ sau chiến tranh đã chứng kiến nhiều liệu pháp hiệu nghiệm không được khoi mào bằng sự thấu hiểu khoa học. Nó xuất phát từ điều ngược lại: “các bác sĩ và các nhà khoa học công nhận rằng người ta không nhất thiết phải am hiểu chi tiết điều gì là sai, nhưng hóa học tổng hợp một cách mù mờ và ngẫu nhiên đã mang lại những phương thức điều trị mà nhiều thế kỷ qua các bác sĩ vẫn chưa tìm ra được.” (Ông sử dụng ví dụ chủ yếu về thuốc sulfonamides do Gerhard Domagk phát hiện.)

Hơn nữa, sự gia tăng hiểu biết lý thuyết - sử dụng thuật ngữ của Mokyr là “cơ sở tri thức” - còn đi kèm với sự giảm sút số lượng thuốc mới. Đây là điều mà Tony Béo hay anh chàng chuyên gia gỗ xanh có thể kể cho chúng ta nghe. Bây giờ, ta có thể lập luận rằng ta đã vạch trần những trường hợp dễ thấy, nhưng tôi sẽ đi xa hơn, với nhiều gọi ý từ những phần khác (như kết quả từ Dự án Bản đồ gene người hay sự khựng lại của điều trị y khoa trong hai thập niên vừa qua ứng với chi tiêu ngân sách nghiên cứu gia tăng) - tri thức, hay cái mà người ta gọi là “tri thức”, trong những lĩnh vực phức hợp, đã làm cản trở nghiên cứu.

Hay nói cách khác, việc nghiên cứu thành phần hóa học không giúp bạn trở thành đầu bếp giỏi mà cũng chẳng trở thành chuyên gia nếm giỏi - thậm chí còn làm cho bạn tệ hơn trên cả hai cương vị. (Việc nấu nướng đặc biệt trở nên dở tệ bỏi những người theo tư tưởng mục đích luận.)

Ta có thể lên danh sách những loại thuốc ra đời theo kiểu Thiên Nga Đen từ khả năng cầu may và so sánh với danh sách những loại thuốc tìm được theo thiết kế. Tôi sắp sửa lập ra một danh sách như vậy thì chợt nhận ra rằng những ngoại lệ đáng kể, nghĩa là những loại thuốc được phát hiện theo phương thức có mục đích, thì quá ít - chủ yếu là thuốc AZT trị AIDS. Thuốc theo thiết kế có một thuộc tính chính: đó là thuốc được thiết kế, (và do đó theo phương thức có mục đích). Nhưng nếu xét đến tác dụng phụ của thuốc, thì xem ra chẳng có vẻ gì là ta có thể thiết kế được một loại thuốc. Đó là vấn đề về tương lai của các loại thuốc thiết kế. Càng có nhiều loại thuốc được lưu hành, khả năng tương tác với một loại thuốc khác càng lớn - vì thế dẫn đến nhiều khả năng tương tác thuốc hơn ứng với mọi loại thuốc mới được giới thiệu. Nếu có 20 loại thuốc không liên quan, loại thuốc thứ 21 cần phải xem xét đến 20 mối tương tác, chẳng phải chuyện gì lớn lao lắm. Nhưng nếu có 1.000 loại thuốc, ta sẽ dự đoán việc xem xét khả năng tương tác ít hơn con số 1.000. Và hiện nay có đến hàng chục nghìn loại thuốc. Hơn nữa, có những nghiên cứu cho thấy rằng xem ra chúng ta đang đánh giá quá thấp sự tương tác giữa các loại thuốc hiện có, những loại thuốc hiện đang lưu hành trên thị trường, với hệ số đánh giá thấp vào khoảng bốn lần, thì tập hợp thuốc nên được giảm xuống thay vì tăng lên.

Việc sáng chế thuốc có một khả năng trôi giạt tình cờ, vì người ta có thể phát minh ra một loại thuốc cho một căn bệnh này, nhưng lại tìm được những ứng dụng mới của loại thuốc đó, điều mà nhà kinh tế học John Kay gọi là tính quanh co (obliquity) - ví dụ như aspirin, thay đổi nhiều lần trong các ứng dụng; hay ý tưởng của Judah Folkman77 về việc hạn chế cung cấp máu cho khối u (chất ngăn sự hình thành mạch) đã dẫn đến việc điều trị bệnh thoái hóa điểm vàng (bevacizumab, còn gọi là Avastin), một tác dụng thậm chí hiệu nghiệm hơn so với dự định ban đầu.

Bây giờ, thay vì trình bày danh sách dài thậm thượt của tôi (quá bất lịch sự), tôi sẽ giới thiệu sách để độc giả tham khảo, ngoài sách của Meyers, còn có các tác phẩm của Claude Bohuon và Claude Monneret, Fabuleux hasards, histoire de la découverte des medicaments, và của Jie Jack Li, Laughing Gas, Viagra and Lipitor.

Lập luận chống mục đích luận của Matt Ridley

Nhà triết học theo chủ nghĩa hoài nghi vĩ đại thời Trung cổ nói tiếng Ảrập Algazel, còn gọi là Al-Ghazali, từng cố gắng đả phá thuyết mục đích luận và chủ nghĩa duy lý của Averroes, đã có một ẩn dụ nổi tiếng về chiếc đinh ghim - mà hiện nay người ta quy cho Adam Smith một cách sai lầm. Không có một nhà phát minh duy nhất nào sáng chế ra chiếc đinh ghim, mà có đến 25 người có liên quan; tất cả họ đều cộng tác với nhau và không có một người lập kế hoạch tập trung - sự cộng tác được dẫn dắt bởi bàn tay vô hình, vì không một người đơn độc nào biết cách tự mình chế tạo ra chiếc đinh ghim.

Dưới con mắt của Algazel, vốn là một người theo tín ngưỡng luận hoài nghi (nghĩa là người theo chủ nghĩa hoài nghi nhưng có niềm tin tôn giáo), tri thức không nằm trong tay con người mà nằm trong tay Chúa Trời, trong khi Adam Smith gọi đây là quy luật thị trường và một số lý thuyết gia hiện đại xem đó là hiện tượng tự tổ chức. Nếu độc giả thắc mắc tại sao tín ngưỡng luận, về mặt nhận thức, lại tương đương với tinh thần hoàn toàn hoài nghi tri thức con người và đón nhận logic ngầm ẩn của sự việc, thì độc giả chỉ cần thay thế Chúa Trời bằng tự nhiên, số mệnh, hay sự vô hình, vô minh, không thể tiếp cận, và sẽ kết quả gần giống như vậy. Logic của sự việc nằm bên ngoài chúng ta (trong bàn tay của Chúa hay của tự nhiên hay của các áp lực tự phát); và biết rằng ngày nay không ai có thể giao tiếp trực tiếp với Chúa, ngay cả ở Texas, thì gần như không có gì khác biệt giữa Chúa và tính vô minh. Không một cá nhân nào có manh mối gì về quá trình tổng quát, và đó là vấn đề chính.

Tác giả Matt Ridley có một lập luận thuyết phục nhờ vào kiến thức chuyên môn về sinh học. Sự khác biệt giữa con người và loài vật nằm ở khả năng cộng tác, tham gia vào hoạt động kinh doanh, kết nối các ý tưởng với nhau. Sự cộng tác mang lại kết quả có lợi to lớn, điều mà trong toán học gọi là hàm siêu cộng (supperadditive function), nghĩa là 1 cộng 1 bằng nhiều hơn 2, và 1 cộng 1 cộng 1 bằng nhiều hơn 3. Đó là tính phi tuyến hoàn toàn với lợi ích tăng vọt; chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết hơn về cách hưởng lợi từ hòn đá luyện đan. Điều quan trọng là, đây là lập luận về tính không thể dự đoán của các biến cố Thiên Nga Đen: vì bạn không thể dự đoán sự cộng tác và không thể chỉ đạo nó, bạn không thể biết thế giới sẽ đi về đâu. Tất cả những gì bạn có thể làm là tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự cộng tác, và đặt nền tảng cho sự thịnh vượng. Và bạn cũng không thể lập kế hoạch tập trung cho hoạt động phát minh đổi mới, người ta đã cố làm điều đó ở nước Nga.

Lưu ý thêm một chút triết học với ý tưởng của Algazel, ở đây, ta có thể thấy ảnh hưởng của tôn giáo trong việc giúp con người đỡ phụ thuộc vào sai lầm của các lý thuyết nhân sinh; Adam Smith và Algazel đã gặp nhau theo ý nghĩa này. Đối với Adam Smith, bàn tay vô hình là thị trường, còn đối với Algazel, bàn tay vô hình là Chúa Trời. Thật khó để người ta có thể hiểu rằng, về mặt lịch sử, chủ nghĩa hoài nghi chủ yếu là sự hoài nghi đối với tri thức của các chuyên gia chứ không phải hoài nghi về những thực thể trừu tượng như Chúa Trời, và tất cả những người hoài nghi hầu hết là những người có tín ngưỡng, hay chí ít cũng ủng hộ tôn giáo (nghĩa là ủng hộ những người khác có tín ngưỡng).

Mục đích luận trong bối cành công ty

Khi tôi còn theo học ở trường kinh doanh, tôi hiếm khi tham dự những bài giảng về cái gọi là quy hoạch chiến lược, một môn học bắt buộc, và khi tôi có mặt trên lớp, tôi cũng không lắng nghe lấy một giây nào những gì được rao giảng ở đó, mà thậm chí cũng không mua sách. Có điều gì đó thuộc về cảm nhận chung của văn hóa sinh viên; chúng tôi biết rằng đó hoàn toàn là nói nhảm. Tôi vượt qua các môn học bắt buộc về quản trị bằng cách làm các giáo sư bối rối, tung hứng những logic phức tạp, và cảm thấy không trung thực về mặt trí tuệ khi đăng ký nhiều môn học hơn cần thiết.

Các công ty thường yêu thích ý tưởng về kế hoạch chiến lược. Họ phải tốn tiền để tìm hiểu xem họ sẽ đi đến đâu. Thế nhưng không có bằng chứng gì cho thấy việc lập kế hoạch chiến lược sẽ có tác dụng - chúng ta thậm chí còn có bằng chứng bác bỏ điều đó. Một học giả về quản trị, William Starbuck, đã có những bài báo vạch trần hiệu quả của việc lập kế hoạch - nó làm cho công ty không nhìn thấy các quyền chọn, bị trói buộc vào chiều hướng hành động, không khai thác được những cơ hội mở ra.

Hầu như mọi thứ lý thuyết quản trị, từ chủ nghĩa Taylor cho tới mọi câu chuyện về năng suất, khi được kiểm nghiệm thực tế, đều bị bóc trần như một thứ giả khoa học - và cũng như hầu hết các lý thuyết kinh tế, cũng sống trong một thế giới song song với bằng chứng. Matthew Stewart, vốn được đào tạo làm một triết gia nhưng hoạt động như một nhà tư vấn quản trị, đã kể một câu chuyện nội bộ kinh tởm nực cười trong tác phẩm The Management Myth (Bí ẩn quản trị). Nó tương tự như cách tiếp cận tự phục vụ của những ông chủ ngân hàng. Abrahamson và Friedman, trong quyển sách xinh đẹp A Perfect Mess (Sự lộn xộn hoàn hảo), cũng bóc trần nhiều cách tiếp cận mục đích luận có bề ngoài hoành tráng chặt chẽ. Hóa ra, lập kế hoạch chiến lược chỉ là một trò nói nhảm mê tín.

Đon cử vài ví dụ minh họa về sự trôi giạt tình cờ có tính chất cơ hội chủ nghĩa và duy lý trong hoạt động kinh doanh. Thức uống Coca-Cola từng bắt đầu như một dược phẩm. Tiffany & Co., công ty bán đồ trang sức kim hoàn, từng khởi nghiệp là một cửa hàng tạp hóa. Hai ví dụ trên cũng đủ rồi, nhưng ta cứ xem xét tiếp: Công ty Raytheon chế tạo ra hệ thống hướng dẫn tên lửa, từng là một nhà sản xuất tủ lạnh (một trong những nhà sáng lập không ai khác hơn là Vannevar Bush, người nghĩ ra mô hình tuyến tính khoa học mục đích luận mà ta đã xem xét trên đây). Và còn tệ hơn: Nokia là nhà chế tạo điện thoại di động hàng đầu, từng khởi nghiệp là một nhà máy giấy (trong một giai đoạn nào đó họ còn tham gia vào việc kinh doanh giày cao su). Dupont hiện nổi tiếng là nhà sản xuất chảo không dính Teflon, vật liệu bề mặt Corian, và sợi tổng hợp lâu bền Kevlar, thật ra từng ra đời là một công ty thuốc nổ. Công ty mỹ phẩm Avon khởi nghiệp với hoạt động bán sách trực tiếp. Và lạ kỳ nhất, Oneida Silversmiths là một cộng đồng giáo phái nhưng vì lý do quản lý điều tiết họ cần sử dụng một công ty liên doanh làm vỏ bọc.

ĐỪNG TRỞ THÀNH GÀ TÂY

Giờ là lúc tìm hiểu sâu xa hơn những gì tôi đang nói tới - nhận thức luận về các báo cáo thống kê. Thảo luận sau đây sẽ cho thấy những gì bạn không biết có thể chứa đựng tin tức tốt lành trong trường hợp này nhưng có thể ngụ ý tin dữ trong trường hợp khác. Và trong thế giới Ngẫu nhiên cực độ, sự việc thậm chí còn bộc lộ rõ rệt hơn.

Xin nhắc lại (cần phải nhắc lại vì giới trí thức có xu hướng hay quên), bằng chứng về sự không có không phải là sự không có bằng chứng, một nhận định đơn giản với ý nghĩa sau đây: đối với những đối tượng có khả năng cải thiện nghịch cảnh, tin tốt có xu hướng không xuất hiện trong dữ liệu quá khứ, còn đối với những đối tượng mỏng manh, chính tin xấu mới không dễ dàng bộc lộ.

Thử tưởng tượng bạn đến Mexico với một cuốn sổ tay và cố gắng tìm hiểu về mức độ giàu có bình quân của dân số bằng cách chuyện trò với những người bạn tình cờ gặp gỡ. Vấn đề nằm ở chỗ, nếu không có nhà tỷ phú Carlos Slim trong những người đó, bạn sẽ có ít thông tin. Trong số khoảng một trăm triệu người Mexico, tôi ước lượng, Slim sẽ giàu hơn so với từ 70 đến 90 triệu người nghèo nhất hợp lại. Vì thế, nếu bạn lấy mẫu 50 triệu người mà trong đó không bao gồm “biến cố hiếm hoi”, xem ra mẫu của bạn sẽ không có của cải gì đáng kể và bạn sẽ ước lượng quá thấp tổng mức phồn vinh.

Hãy nhớ lại các đồ thị trong hình 6 và 7 minh họa kết quả từ hoạt động thử nghiệm và sửa sai. Khi tham gia vào hoạt động chỉnh sửa, bạn phát sinh nhiều thiệt hại nho nhỏ, rồi đến một lúc nào đó bạn tìm thấy một kết quả tương đối đáng kể. Phương pháp luận này thể hiện những thuộc tính khó chịu khi nhìn từ bên ngoài: phẩm chất tốt bị che giấu, còn khiếm khuyết thì bộc lộ.

Trong trường hợp có khả năng cải thiện nghịch cảnh (hay phi đối xứng tích cực, hay những hoạt động liên quan đến Thiên Nga Đen tích cực), như hoạt động thử nghiệm và sửa sai, thành tích quá khứ của mẫu sẽ có xu hướng ước lượng quá thấp giá trị bình quân dài hạn; nó sẽ che giấu những phẩm chất tốt chứ không phải những khiếm khuyết.

(Phần phụ lục sẽ bao gồm một đồ thị dành cho những người thích xem xét quan điểm này bằng đồ thị.)

Hãy nhớ lại sứ mệnh của chúng ta là “đừng trở thành gà tây”. Cốt lõi là, khi đứng trước một mẫu đông đúc phụ thuộc vào vấn đề gà tây, người ta có xu hướng ước lượng số lượng biến cố bất lợi thấp hơn - nói đơn giản, các biến cố bất lợi thì hiếm hoi, và có xu hướng không bộc lộ trong mẫu quá khứ, và biết rằng biến cố hiếm hoi thì gần như luôn luôn tiêu cực, cho nên ta có một bức tranh lạc quan hơn so với thực tế. Nhưng ở đây, ta đứng trước một hình ảnh qua gương, tình huống ngược lại. Trong những trường hợp phi đối xứng tích cực, nghĩa là trong những trường hợp có khả năng cải thiện nghịch cảnh, biến cố “không thấy trước” là biến cố tích cực. Vì thế, “bằng chứng thực nghiệm” có xu hướng bỏ qua những biến cố tích cực và ước lượng quá thấp tổng lợi ích.

về vấn đề gà tây kinh điển, ta có quy luật như sau:

Trong trường hợp phi đối xứng tiêu cực có tính mỏng manh (vấn đề gà tây), thành tích quá khứ của mẫu sẽ có xu hướng ước lượng quá cao giá trị bình quân dài hạn; nó sẽ che giấu những khiếm khuyết và phoi bày những phẩm chất tốt.

Các hệ quả của quy luật này sẽ giúp cho cuộc sống trở nên đơn giản hơn. Nhưng vì phương pháp luận tiêu chuẩn không xem xét đến tính phi đối xứng, nên gần như bất kỳ ai nghiên cứu thống kê thông thường mà không tìm hiểu sâu về đề tài (chỉ lý thuyết hóa trong khoa học xã hội hay giảng dạy sinh viên) sẽ mắc phải sai lầm về vấn đề gà tây. Tôi có một quy tắc đơn giản rằng những người giảng dạy ở Harvard được kỳ vọng là sẽ hiểu biết sự việc ít hơn so với một tài xế taxi hay những người không biết về các phương pháp can thiệp đóng gói sẵn (đây là một quy tắc suy nghiệm, nó có thể sai, nhưng nó có tác dụng: tôi chú ý đến nó vì trường Kinh doanh Harvard đã từng bao gồm fragilista Rober C. Merton trong đội ngũ thành viên).

Vì thế, ta hãy chọn ra những giáo sư trường Kinh doanh Harvard xứng đáng được đề cập một chút. Trường hợp đầu tiên (sai lầm của việc bỏ qua tính phi đối xứng tích cực), một giáo sư trường Kinh doanh Harvard, Gary Pisano, viết về tiềm năng công nghệ sinh học, đã có một sai lầm gà tây nghịch đảo cơ bản, không nhận ra rằng trong một doanh nghiệp với thua lỗ có hạn và tiềm năng vô hạn (trái ngược với hoạt động ngân hàng), những gì bạn không nhìn thấy có thể đáng kể và không bộc lộ trong quá khứ. Ông viết: “Bất chấp thành công thương mại của một vài công ty và sự tăng trưởng tuyệt vời về doanh thu của ngành, hầu hết các công ty công nghệ sinh học không có lợi nhuận.” Điều này có thể đúng, nhưng suy luận từ điều này thì sai trên hai phương diện, thậm chí có thể là một bước lùi, và nó giúp nhắc lại logic vì tầm quan trọng các hệ quả. Thứ nhất, “hầu hết các công ty” trong hệ thống Ngẫu nhiên cực độ không có lợi nhuận - biến cố hiếm hoi chi phối, và một số ít công ty có lợi nhuận. Và bất luận ông có quan điểm gì, ứng với tính phi đối xứng và khả năng chọn lựa mà ta thấy trong hình 7, điều này không thể mang lại một kết luận dứt khoát, vì thế tốt hơn nên viết về một đề tài khác, đỡ có hại hơn mà có thể gây hứng thú cho các sinh viên Harvard, như làm thế nào để thực hiện một bài thuyết trình bằng PowerPoint thuyết phục, hay sự khác nhau về văn hóa quản lý giữa người Nhật và người Pháp. Một lần nữa, ông có thể đúng về tiềm năng tội nghiệp của hoạt động đầu tư công nghệ sinh học, nhưng không phải dựa trên cơ sở dữ liệu ông trình bày.

Vậy thì tại sao những tư duy theo kiểu của giáo sư Pisano là nguy hiểm? Không phải là vấn đề liệu ông có ngăn cản hoạt động nghiên cứu công nghệ sinh học hay không. Vấn đề là, sai lầm như vậy sẽ ngăn cản mọi thứ trong đời sống kinh tế mà có khả năng cải thiện nghịch cảnh (theo ngôn ngữ toán học là “lệch phải” [right-skewed]). Và nó sẽ gây ra tính mỏng manh thông qua thiên vị những hoạt động mang tính chất “cá cược ăn chắc”.

Đáng chú ý, một giáo sư Harvard khác, Kenneth Froot, cũng có một sai lầm y hệt, nhưng theo chiều hướng ngược lại, với tính phi đối xứng tiêu cực. Xem xét các công ty tái bảo hiểm, (những công ty bảo hiểm các biến cố thảm họa), ông tưởng rằng ông đã tìm thấy một sự khác thường: Các công ty này có lợi nhuận quá nhiều ứng với những rủi ro họ đã chấp nhận, vì các thảm họa dường như xảy ra kém thường xuyên hơn so với mức phản ánh trong phí bảo hiểm. Ông đã bỏ qua vấn đề là các biến cố thảm họa chỉ tác động đến họ một cách tiêu cực (không có biến cố tích cực), và có xu hướng không thể hiện trong số liệu quá khứ (một lần nữa, vì chúng là những biến cố hiếm hoi). Nên nhớ vấn đề gà tây. Một biến cố duy nhất, nghĩa vụ bồi thường độc hại a-mi-ăng của công ty bảo lãnh phát hành Lloyd, đã làm mất đi thu nhập tạo ra qua nhiều thế hệ. Chỉ một biến cố duy nhất.

Chúng ta sẽ quay lại với hai kết quả khác biệt này, với “giới hạn trái” (thua lỗ có hạn, như vụ cá cược của Thales) và “giới hạn phải” (lợi ích có hạn, như trong hoạt động bảo hiểm hay ngân hàng). Sự phân biệt này là quan trọng, vì hầu hết kết quả trong cuộc sống rơi vào một trong hai loại này.

Thất bại bảy lần, cộng hay trừ hai

Cho phép tôi dừng lại để trình bày các quy tắc dựa vào chương này cho đến giờ: (i) Tìm kiếm khả năng chọn lựa; thật ra là sắp xếp sự việc căn cứ theo khả năng chọn lựa, (ii) Những kết quả có kết thúc mở được ưa thích hơn những kết quả có kết thúc đóng; (iii) Không đầu tư vào các kế hoạch kinh doanh mà đầu tư vào con người, vì thế, tìm kiếm những người có thể thay đổi sáu hay bảy lần trong sự nghiệp của mình, hay nhiều hơn (ý tưởng này vốn là một phần trong phương thức hành động của nhà đầu tư vốn mạo hiểm Marc Andreessen); ta miễn nhiễm trước những lời lẽ hoa mỹ đầy cạm bẫy của các kế hoạch kinh doanh bằng cách đầu tư vào con người; làm vậy sẽ mạnh mẽ hơn; (iv) Bảo đảm rằng bạn có chiến lược hai đầu, bất kể đó là gì trong công việc của bạn.

LANG BĂM, GIỚI HỌC THUẬT, VÀ SƠN ĐÔNG MÃI VÕ

Tôi kết thúc chương này bằng một nhận xét đáng buồn: sự vô ơn của chúng ta đối với những người đã giúp ta ở đây ngày hôm nay, giúp tổ tiên ta sống sót.

Sự hiểu lầm về hoạt động chỉnh sửa có tính lồi, khả năng cải thiện nghịch cảnh, và cách thức thuần hóa ngẫu nhiên đã được thêu dệt thành các thể chế của chúng ta, cho dù không cố ý và công khai. Có một loại người mà trong y học gọi là những người chữa bệnh theo kinh nghiệm (empirics), hay những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm hoài nghi, những người hành động, và chúng ta không biết nhiều đến tên tuổi của họ vì họ không viết nhiều sách vở. Công lao của họ đã bị hủy hoại hay bị che giấu trong ý thức văn hóa của chúng ta, hay bị rơi rớt một cách tự nhiên trong tư liệu lưu trữ, và hồi ức về họ bị lịch sử đối xử tệ bạc. Các lý thuyết gia và những nhà tư tưởng chính thức có xu hướng hay viết sách; những người dựa vào trực giác có xu hướng là những người thực hành, thường ưa thích sự phấn khích, kiếm tiền hay thua lỗ, và tranh cãi trong các quán rượu. Kinh nghiệm của họ thường được chính thức hóa bởi giới học thuật; thật vậy, lịch sử được viết bởi những người muốn bạn tin rằng hoạt động lý luận là độc quyền hay gần như độc quyền trong việc sản xuất ra tri thức.

Vì thế, luận điểm sau cùng ở đây là về những người bị gọi là lang băm. Một số người quả là lang băm thật, những người khác đỡ hơn; một số người khác không phải lang băm; và nhiều người lừng khừng ở giữa. Trong một thời gian dài, y khoa chính thức phải cạnh tranh với đông đảo những kẻ son đông mãi võ lòe loẹt, những kẻ lừa bịp, những kẻ khoác lác, những lão phù thủy và các mụ phù thủy, đủ các kiểu thực hành không giấy phép. Một số người đi hết nơi này đến nơi khác, từ thành này đến tỉnh kia mang theo đồ nghề chữa bệnh giữa đám đông. Khi có dịp, họ cũng mổ xẻ đồng thời liên tục niệm thần chú.

Loại này cũng bao gồm những thầy lang không đăng ký với trường phái y học duy lý Hy Lạp-Ảrập, được xây dựng trong thế giới Helenistic vùng Tiểu Á và về sau phát triển bởi trường phái ngôn ngữ Ảrập. Người La Mã là những người thực dụng phản lý thuyết; người Ảrập yêu thích mọi thứ triết học và “khoa học”, và tôn thờ Aristotle, người mà mãi tới lúc ấy, dường như chẳng mấy ai quan tâm. Ví dụ, ta biết rất ít về trường phái kinh nghiệm hoài nghi của Menodotus xứ Nicomedia - nhưng ta biết nhiều hơn về Galen, nhà tư tưởng duy lý. Đối với người Ảrập, y học là một sự nghiệp học thuật ra đời theo logic của Aristotle và hoạt động theo phương pháp của Galen; họ ghét kinh nghiệm.78 Những người thực hành y khoa được gọi là Những Kẻ Khác.

Việc quản lý điều tiết cơ sở y khoa nhằm đáp lại nỗi lo lắng về những người thực hành vì những lý do kinh tế cho rằng cạnh tranh sẽ làm giảm thu nhập. Vì thế, chẳng lạ gì họ bị đánh đồng với kẻ trộm, như thể hiện qua tựa đề dài ngoằng của một luận án thời Elizabeth: Một tham luận ngắn, hay việc phanh phui những thủ đoạn nhất định, trong đó những kẻ chữa bệnh theo kinh nghiệm ở Luân Đôn rõ ràng đã chống lại và luôn luôn chiếm đoạt túi tiền của những bệnh nhân khốn khổ.

“Lang băm” (charlatan) được cho là đồng nghĩa với những người chữa bệnh bằng kinh nghiệm (empirick). Từ “chữa bệnh bằng kinh nghiệm” được gán cho những người dựa vào thực nghiệm và kinh nghiệm để khẳng định những gì đúng đắn. Nói cách khác, họ dựa vào thử nghiệm và sửa sai và sửa chữa chắp vá. Họ bị cho là thứ cấp trên phương diện nghề nghiệp, xã hội và trí tuệ. Họ vẫn không được xem là rất “thông minh.”

Nhưng may thay cho ta, những người chữa bệnh theo kinh nghiệm vẫn được dân chúng ủng hộ mãnh liệt và không bị tiêu diệt. Bạn không nhìn thấy công việc của họ, nhưng họ để lại dấu ấn to lớn trong y học.

Lưu ý sự gia tăng hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què sau quá trình hàn lâm hóa và thể chế hóa y học với sự ra đời của tính hiện đại. Hiện tượng này mới chỉ được cứu vãn gần đây. Đồng thòi, giới học thuật chính thức, dưới ánh sáng của lịch sử, không giỏi giang gì hơn những người mà họ gọi là lang băm - họ chỉ che giấu sự lừa đảo của họ dưới sức nặng của những lập luận duy lý thuyết phục. Họ chỉ là những kẻ lang băm có tổ chức. Tôi hy vọng rằng điều đó sẽ thay đổi.

Bây giờ, tôi đồng ý rằng hầu hết những người thực hành y khoa khám chữa bệnh phi học thuật là những kẻ du thủ du thực, khoác lác, lang băm, và thường tệ hơn thế nữa. Nhưng khoan vội lao vào những kết luận sai lầm. Những người theo chủ nghĩa hình thức, để bảo vệ lãnh thổ của họ, luôn luôn lợi dụng ngụy biện logic rằng nếu những kẻ lang băm được tìm thấy trong số những người phi học thuật, thì tất cả những người phi học thuật đều là lang băm. Họ không ngừng làm thế: nhận định mọi thứ không tôn nghiêm đều là phi học thuật (giả định người ta là những kẻ dễ bị lừa và tin vào nhận định này) không có nghĩa là mọi thứ phi học thuật đều không tôn nghiêm. Cuộc chiến giữa các bác sĩ “chính thống” và Những Kẻ Khác giúp khai sáng cho ta, nhất là khi ta thấy rằng các bác sĩ âm thầm (và miễn cưỡng) sao chép một số phương thức điều trị mà Những Kẻ Khác triển khai và phát triển. Họ phải làm thế vì những lý do kinh tế. Họ hưởng lợi từ hoạt động thử nghiệm và sửa sai tập thể của Những Kẻ Khác. Và quá trình đó dẫn đến những phương thức điều trị hiện được hòa nhập vào y khoa.

Bây giờ, chúng ta hãy dành một phút để tỏ lòng tôn kính họ. Hãy xem lại thái độ vô ơn của chúng ta đối với những người đã đưa ta đến đây, những người đã bị chúng ta xem thường, và thậm chí còn không biết họ là những vị anh hùng.

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.