QUYỀN CHỌN VÀ TÍNH PHI ĐỐI XỨNG

Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12chùm Nho Chín Của Thales
Chương 12chùm Nho Chín Của Thales

❊ ❊ ❊

Nơi ta thảo luận về ý tưởng hành động thay cho những lời rao giảng tràng giang đại hải - Ý tưởng về một quyền chọn miễn phí - Có thể gọi triết gia là nhà giàu mới phất?

Có một giai thoại trong tác phẩm Politics (Chính trị học) của Aristotle liên quan đến triết gia thời tiền-Socrate kiêm nhà toán học Thales xứ Miletus. Câu chuyện này, chỉ vẻn vẹn nửa trang giấy, trình bày khả năng cải thiện nghịch cảnh lẫn việc xem thường nó và đưa ta đến với khả năng chọn lựa. Khía cạnh ấn tượng của câu chuyện này là, Aristotle, được xem là nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất mọi thời đại, đã làm cho quan điểm trọng tâm của ông về giai thoại này chính xác trở thành một bước lùi. Những người theo tư tưởng của ông cũng thế, nhất là sau thời đại Khai sáng và cách mạng khoa học. Tôi nói điều này không phải để xem thường Aristotle vĩ đại, mà để chứng minh rằng trí thông minh làm bạn coi thường khả năng cải thiện nghịch cảnh và bỏ qua sức mạnh của khả năng chọn lựa.

Thales là một triết gia người Ionia vùng Phoenicia nói tiếng Hy Lạp từ thành phố ven biển Miletus ở Tiểu Á, và cũng như một số nhà hiền triết khác, ông tận hưởng niềm vui trong hành động. Miletus là một chốt giao thương và có tinh thần trọng thương, tinh thần này vốn thường được quy cho các vùng định cư Phoenicia. Nhưng đặc trưng của Thales, trên cương vị một triết gia, lại là một người túng thiếu. Ông quá quen nghe bạn bè vốn có cuộc sống hoạt động thương mại nhẹ nhàng góp ý với ông “ai làm được thì làm, còn những người khác thì trở thành triết gia.” Ông đã có một hành động táo bạo sau đây: ông thanh toán trước để sử dụng theo mùa mọi phương tiện ép dầu ô liu trong vùng phụ cận Miletus và Chios, mà ông thuê được với giá thấp. Mùa thu hoạch ô liu hóa ra cực kỳ bội thu và nhu cầu đối với phương tiện ép dầu gia tăng, nên ông thỏa thuận thanh lý hợp đồng với các chủ phương tiện theo các điều khoản riêng của ông, kiếm được một khoản thu nhập béo bở trong quá trình này. Sau đó ông quay lại làm triết gia.

Lọi nhuận ông kiếm được khá bộn, có lẽ không đủ để ông trở nên vô cùng giàu có, nhưng cũng đủ để chứng minh với người khác, mà tôi cho rằng cả với chính ông, rằng những gì ông thuyết giảng là đúng đắn và thật sự còn hơn cả sự giàu có. Kiểu tiền bạc rủng rỉnh này tôi gọi là “đồng tiền chết tiệt” - một số tiền đủ lớn để đạt được hầu hết, nếu không muốn nói là toàn bộ lợi thế của sự giàu có (điều quan trọng nhất là trở nên độc lập và có khả năng dành tâm trí cho những gì mình yêu thích) nhưng cũng có những tác dụng phụ của nó, như phải tham dự một sự kiện từ thiện trang trọng và buộc phải lịch sự lắng nghe người ta trình bày chi tiết công việc tân trang ngôi nhà lát đầy đá cẩm thạch. Tác dụng phụ tệ nhất của của cải là việc giao du xã hội buộc phải xảy ra với nạn nhân của sự giàu có, như những người sống trong những ngôi nhà hoành tráng có xu hướng giao du với những người cũng có những ngôi nhà hoành tráng khác. Ngoài mức độ sang trọng và độc lập, những kẻ phong lưu này có xu hướng ngày càng kém duyên dáng hơn và các cuộc chuyện trò của họ ngày càng có xu hướng kém thú vị hơn.

Câu chuyện của Thales có nhiều bài học luân lý, tất cả đều gắn liền với tính phi đối xứng (và việc xây dựng kết quả có khả năng cải thiện nghịch cảnh). Bài học chính liên quan đến giải thích sau đây của Aristotle: “Nhưng từ tri thức của ông về thiên văn học, ông đã quan sát thấy rằng sắp có một vụ mùa ô liu bội thu trong khi vẫn còn mùa đông…” Như vậy, theo Aristotle, rõ ràng lý do nêu ra là tri thức ưu việt của Thales.

Tri thức ưu việt ư?

Thales đặt mình vào vị thế tranh thủ lợi thế của tình trạng thiếu tri thức - và thuộc tính về bí mật phi đối xứng. Mấu chốt của thông điệp về tính phi đối xứng giữa kết quả có lợi và kết quả có hại này là ở chỗ, ông không cần phải am hiểu quá nhiều điềm báo từ những vì sao.

Nói đơn giản, ông ký một họp đồng, vốn là nguyên mẫu của tính phi đối xứng mà bạn có thể tìm thấy dưới dạng thuần túy nhất. Đó là một họp đồng quyền chọn, người mua “có quyền nhưng không có nghĩa vụ”, và lẽ dĩ nhiên, người bán “có nghĩa vụ nhưng không có quyền”. Thales có quyền nhưng không có nghĩa vụ sử dụng phương tiện ép dầu ô liu trong trường họp nhu cầu tăng vọt; còn bên bán họp đồng quyền chọn có nghĩa vụ, nhưng không có quyền. Thales trả một mức giá không đáng kể cho đặc quyền này, với thua lỗ có giới hạn và lợi nhuận tiềm năng to lớn. Đó chính là họp đồng quyền chọn đầu tiên trong lịch sử.

Quyền chọn là đại diện của khả năng cải thiện nghịch cảnh.

Câu chuyện ép dầu ô liu xảy ra khoảng 600 năm trước khi Seneca viết các tác phẩm của ông trên những chiếc bàn có chân bàn bằng ngà voi, và 300 năm trước Aristotle.

Công thức trong chương 10 là: Khả năng cải thiện nghịch cảnh tương đương với việc có nhiều thứ để được hơn so với những thứ có thể mất, tương đương với kết quả có lợi nhiều hơn so với kết quả có hại, tương đương với phi đối xứng (thuận lợi), tương đương với yêu thích biến động. Và nếu những gì bạn kiếm được khi bạn đúng nhiều hơn so với những gì bạn thua lỗ khi bạn sai, thì trong dài hạn, bạn sẽ hưởng lợi từ sự biến động (và ngược lại). Bạn chỉ bị thiệt hại nếu bạn liên tục trả quá nhiều tiền để mua quyền chọn. Nhưng trong trường họp này, Thales rõ ràng đã có một doanh vụ hời, và ta sẽ thấy trong phần còn lại của tập IV rằng ta không phải trả tiền cho những quyền chọn mà tự nhiên và đổi mới công nghệ mang lại cho ta. Các quyền chọn tài chính có thể đắt đỏ bởi vì người ta biết chúng là quyền chọn và ai đó đang bán chúng lấy tiền - nhưng những quyền chọn thú vị nhất vốn miễn phí, hay trong điều kiện tệ nhất thì cũng vẫn rẻ.

Quan trọng là, chúng ta không cần phải biết những gì đang diễn ra khi ta mua rẻ quyền chọn, khi tính phi đối xứng vận hành quanh ta. Nhưng thuộc tính này không chỉ đơn thuần là việc mua rẻ: ta không cần phải am hiểu sự việc khi ta có một đặc quyền. Và đặc quyền từ khả năng chọn lựa sẽ mang lại kết quả có lợi nhiều hơn khi bạn đúng (so với thiệt hại khi bạn sai), cho nên không nhất thiết bạn phải thường xuyên đúng.

Quyền chọn mà tôi đang nói tới chẳng khác gì quyền chọn trong đời sống hàng ngày - khu nghỉ mát nào có nhiều quyền chọn nhất sẽ mang lại cho bạn hoạt động thỏa mãn thị hiếu của mình, và khu nghỉ mát nào có những quyền chọn hạn hẹp sẽ không thể đạt được điều đó. Vì thế, bạn cần ít thông tin hơn, nghĩa là ít hiểu biết hơn, về những khu nghỉ mát có nhiều quyền chọn.

Trong câu chuyện Thales còn có những quyền chọn ngầm ẩn khác. Sự độc lập tài chính, khi được sử dụng một cách khôn ngoan, có thể làm bạn trở nên mạnh mẽ; nó mang lại cho bạn quyền chọn và cho phép bạn thực hiện những chọn lựa đúng đắn. Tự do là quyền chọn tối thượng.

Hơn nữa, bạn sẽ không bao giờ biết về chính mình - những sở thích thật sự của mình - trừ khi bạn đứng trước các quyền chọn và các phương án chọn lựa. Nên nhớ rằng, biến động của cuộc đời giúp mang lại cho ta thông tin về những người khác đồng thời cũng mang lại thông tin về chính ta. Nhiều người nghèo kháng cự lại những ước muốn ban đầu của họ và chỉ trở nên mạnh mẽ bằng cách thêu dệt ra câu chuyện rằng chính họ chọn lựa sự nghèo nàn, cứ như thể họ có quyền chọn. Một số quả đúng thế thật; nhưng cũng có nhiều người thật sự không có quyền chọn, họ chỉ tự an ủi. Chùm nho xanh - như trong chuyện ngụ ngôn Aesop - là khi ai đó tự thuyết phục mình rằng chùm nho mà mình không với tới là chùm nho xanh. Nhà viết tiểu luận Michel de Montaigne55 xem câu chuyện Thales là chuyện về sự miễn nhiễm trước những chùm nho xanh: bạn cần biết liệu bạn không thích theo đuổi tiền bạc và của cải bỏi vì bạn thật sự không thích nó, hay chẳng qua bạn biện bạch cho tình trạng thiếu khả năng thành công bằng cách lập luận rằng của cải không phải là điều tốt vì nó xấu đối với hệ thống tiêu hóa của con người, hay vì nó làm bạn mất ngủ, hay những lập luận khác. Thế nên câu chuyện giúp ta hiểu rõ Thales về những chọn lựa riêng của ông trong cuộc sống - ông thực sự theo đuổi triết học. Ông có những quyền chọn khác. Và cũng đáng nhắc lại rằng, thông qua cho phép bạn đạt được kết quả có lợi nhiều hơn so với kết quả có hại, các quyền chọn là véc-tơ của khả năng cải thiện nghịch cảnh.56

Thales, thông qua tự tài trợ cho triết lý của riêng ông, trỏ thành vị Mạnh Thường Quân của chính mình, có lẽ với cương vị cao nhất mà người ta có thể đạt được: vừa độc lập vừa có năng lực trí tuệ. Ông thậm chí còn có nhiều quyền chọn hơn. Ông không cần phải nói với những người khác - những người tài trợ cho ông - ông sẽ đi đâu, vì có lẽ chính ông còn không biết mình sẽ đi đâu. Nhờ vào sức mạnh của quyền chọn, ông không cần phải làm thế.

Các đoản văn tiếp theo sẽ giúp chúng ta tìm hiểu sâu hơn khái niệm khả năng chọn lựa - thuộc tính có kết quả như quyền chọn và những tình huống như quyền chọn.

Tối thứ bảy ở Luân Đôn

Đó là một chiều thứ bảy ở Luân Đôn. Tôi đang đối phó với một nguồn căng thẳng lớn: đi đâu tối nay. Tôi thích kiểu bất ngờ mà người ta tìm thấy ở các bữa tiệc (việc đi dự tiệc cũng có khả năng chọn lựa, có lẽ đó là lời khuyên hay nhất dành cho những ai muốn hưởng lợi từ tình trạng bất định với kết quả có hại thấp). Nỗi sọ ngồi ăn một mình trong nhà hàng đồng thời đọc lại cùng một đoạn trong quyển sách Tusculan Discussions của Cicero mà nhờ kích thước bỏ túi của nó tôi đã mang theo suốt một thập kỷ (và đọc khoảng ba trang rưỡi một năm), đã được giải thoát nhờ một cú điện thoại. Một người quen nhưng không phải bạn thân, nghe nói tôi đang ở trong thành phố nên mời tôi dự tiệc ở Kensington, nhưng không yêu cầu tôi nhất định phải đến mà chỉ nói “ghé qua nếu cậu thích.” Đi dự tiệc thì vẫn thích hơn ngồi ăn một mình với Tusculan Discussions của Cicero, nhưng những người này không thú vị lắm (nhiều người làm trong thành phố, và nhiều người làm trong các tổ chức tài chính vốn hiếm khi thú vị và thậm chí khó ưa) và tôi biết tôi có thể xoay xở tốt hơn, nhưng tôi cũng không chắc lắm. Vì thế, tôi gọi điện loanh quanh: nếu tôi có thể làm gì đó hay hơn bữa tiệc Kensington, chẳng hạn như ăn tối với một người bạn thật sự, tôi sẽ làm thế. Bằng không tôi sẽ đón một chiếc taxi đen đến Kensington. Tôi có một quyền chọn, chứ không phải một nghĩa vụ. Quyền chọn đó không tốn chi phí vì tôi không nài xin để có. Vì thế, tôi có một kết quả thiệt hại nhỏ, hay nói đúng ra là không có thiệt hại, so với một kết quả có lợi lớn.

Đó là một quyền chọn miễn phí vì không tốn chi phí thực tế để có đặc quyền này.

Tiền thuê nhà

Ví dụ thứ hai: giả sử bạn là người thuê chính thức căn hộ có kiểm soát giá thuê ở thành phố New York với những kệ sách kín tường. Bạn có quyền chọn ở đó bao lâu tùy thích, nhưng không có nghĩa vụ bắt buộc phải ở đó. Nếu bạn quyết định chuyển đến Ulan Bator, Mông Cổ, và bắt đầu cuộc sống mới ở đó, bạn chỉ cần thông báo với chủ nhà trước một số ngày nhất định, rồi cảm ơn chào tạm biệt. Bằng không, chủ nhà có nghĩa vụ phải để cho bạn sống ở đó lâu dài, với mức giá thuê có thể đoán trước. Nếu tiền thuê nhà trong thành phố tăng vọt, và bất động sản bùng nổ như bong bóng, bạn nói chung vẫn được bảo vệ. Mặt khác, nếu giá thuê nhà trong thành phố giảm mạnh, bạn có thể dễ dàng đổi căn hộ và giảm tiền thuê hàng tháng - hay thậm chí mua một căn hộ mới với một khoản vay trả góp hàng tháng thấp hơn.

Vậy ta hãy xem xét tính phi đối xứng. Bạn hưởng lợi nếu giá thuê nhà trên thị trường giảm, nhưng không bị thiệt hại nếu giá thuê nhà trên thị trường tăng. Bằng cách nào? Vì ở đây, một lần nữa, bạn có một quyền chọn, chứ không phải một nghĩa vụ. Theo một cách nào đó, tình trạng bất định còn làm tăng giá trị của đặc quyền này. Nếu bạn đứng trước mức độ bất định cao về các kết quả tương lai, với những mức giảm mạnh hay tăng mạnh giá trị bất động sản có thể xảy ra, quyền chọn của bạn càng trở nên quí giá hơn. Tình hình càng bất định chừng nào, quyền chọn càng có giá trị chừng ấy.

Một lần nữa, đây là một quyền chọn có sẵn (embedded option) vì không phải tốn phí để được hưởng đặc quyền này.

Tính phi đối xứng

Ta hãy xem lại tính phi đối xứng của Thales cùng với tính phi đối xứng của một quyền chọn. Trong hình 5, trục hoành tiêu biểu cho tiền thuê phương tiện ép dầu, trục tung là lợi nhuận tương ứng tính bằng đồng thekel. Hình 5 trình bày tính phi đối xứng: trong tình huống này, kết quả có lợi lớn hơn (nếu bạn đúng, bạn sẽ thắng lớn) so với kết quả có hại (nếu bạn sai, bạn thua ít).

Trục tung trong hình 5 biểu thị một hàm số theo tiền thuê phương tiện ép dầu (kết quả của quyền chọn). Trong hình này, độc giả chỉ cần lưu ý đến tính phi tuyến (nghĩa là tính phi đối xứng, trong đó kết quả có lợi nhiều hơn kết quả có hại; tính phi đối xứng là một dạng của tính phi tuyến).

Image

HÌNH 5. Khả năng cải thiện nghịch cảnh của Thales. Ông trả một số tiền nhỏ để có tiềm năng hưởng lợi lớn. Ta có thể thấy tinh phi đối xứng giữa kết quả có lợi và kết quả có hại.

Nhũng sự việc thích phân tán

Một thuộc tính của quyền chọn: nó không quan tâm đến kết quả bình quân mà chỉ quan tâm đến các kết quả có lợi (vì kết quả có hại không vượt quá một điểm nhất định). So với số đông những người đánh giá cao tác phẩm của họ, thì một số ít người hâm mộ cuồng nhiệt sẽ giúp các tác giả, nghệ sĩ và ngay cả các triết gia khấm khá hơn nhiều. Số lượng người không thích tác phẩm của họ không quan trọng - không có cái gì đối nghịch với việc mua một quyển sách của bạn, hay tương đương với việc mất điểm trong một trận bóng đá, và tình trạng không có kết quả có hại trong việc bán sách này mang lại cho tác giả khả năng chọn lựa.

Hơn nữa, khi những người hâm mộ bạn vừa nhiệt tình vừa có ảnh hưởng thì lại càng có ích. Ví dụ, theo nhận định của những người mà ý kiến của họ không có tầm ảnh hưởng, Wittgenstein nhìn chung bị cho là một gã kỳ dị điên rồ, một người hành động nhảm nhí (gần như không có tác phẩm nào mang tên ông). Nhưng ông có một số ít người hâm mộ gần như cuồng tín, và một vài người trong đó rất có ảnh hưởng, như Bertrand Russell và J. M. Keynes.

Ngoài sách vở, ta hãy xem một quy tắc suy nghiệm sau đây: tác phẩm và ý tưởng của bạn, bất kể trong chính trị, nghệ thuật, hay các lĩnh vực khác, sẽ có khả năng cải thiện nghịch cảnh nếu thay vì có 100 phần trăm người cho rằng thông điệp của bạn là có thể chấp nhận được và có thể phê bình một cách nhẹ nhàng, bạn lại trở nên khấm khá hơn nhờ vào một tỷ lệ cao những người ghét bạn và thông điệp của bạn (thậm chí một cách dữ dội) kết hợp với một tỷ lệ thấp những người ủng hộ cực kỳ trung thành và nhiệt tình. Các quyền chọn ưa thích sự phân tán kết quả và không quá quan tâm đến giá trị bình quân.

Một lĩnh vực khác cũng không quan tâm đến giá trị bình quân, mà quan tâm đến sự phân tán xung quanh giá trị bình quân là ngành hàng xa xỉ, như nữ trang, đồng hồ, tác phẩm nghệ thuật, các căn hộ cao cấp đắt đỏ trong những khu vực đắc địa, rượu vang sưu tập đắt tiền, thức ăn chó có chứa lợi khuẩn nuôi trồng ở trang trại vv… Các lĩnh vực này chỉ quan tâm đến tổ hợp nguồn vốn sẵn có đối với những người rất giàu. Nếu dân chúng ở thế giới phương Tây có thu nhập bình quân 50.000 đôla mà không có chút cách biệt thu nhập nào, thì có lẽ những người bán hàng hóa xa xỉ sẽ không sống nổi. Nhưng nếu thu nhập bình quân vẫn như cũ nhưng có mức độ cách biệt giàu nghèo cao, một số người có thu nhập hơn 2 triệu đôla và một số người có tiềm năng thu nhập hơn 10 triệu đôla, thì việc kinh doanh hàng xa xỉ này sẽ có nhiều khách hàng, ngay cả nếu những mức thu nhập cao này bị bù trừ bỏi đại đa số dân chúng có thu nhập thấp hơn. “Cái đuôi” của hàm phân phối thống kê về phía những nấc thu nhập cao, phía cực đoan, được quyết định bởi sự thay đổi trong cách biệt giàu nghèo hơn là sự thay đổi trong thu nhập bình quân. Nó được lợi từ sự phân tán, vì thế nó có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Điều này giải thích cho bong bóng giá bất động sản ở khu trung tâm Luân Đôn, được xác định bởi tình trạng cách biệt giàu nghèo ở nước Nga và vùng vịnh Ảrập, và hoàn toàn độc lập với thị trường bất động sản năng động ở Anh. Một số căn hộ dành cho những người rất giàu bán với giá gấp 20 lần giá bình quân trên một mét vuông căn hộ cách đó vài khu nhà.

Nguyên chủ tịch Harvard Larry Summers gặp rắc rối trong việc giải thích (một cách vụng về) một dạng của vấn đề này và bị mất việc do bị phản ứng om sòm sau đó. Ông cố gắng nói rằng nam giới và phụ nữ có trí thông minh như nhau, nhưng quần thể nam giới có nhiều biến thiên và phân tán hơn (tính biến động), với nhiều nam giới rất đỗi kém thông minh hơn và cũng nhiều nam giới rất đỗi thông minh hơn so với phụ nữ. Đối với Summers, điều này giải thích lý do tại sao nam giới có mặt nhiều hơn trong cộng đồng tri thức và khoa học (và cũng là lý do khiến nam giới có mặt nhiều hơn trong các nhà tù hay sự thất bại). Số lượng các nhà khoa học thành công phụ thuộc vào “cái đuôi” của hàm phân phối thống kê, hay các cực độ, chứ không phụ thuộc vào giá trị bình quân. Cũng hệt như một quyền chọn không quan tâm đến các kết quả bất lợi, hay một tác giả không quan tâm đến những người ghét mình.

Hiện nay, không ai dám phát biểu điều hiển nhiên này: tăng trưởng xã hội xem ra không xuất phát từ sự nâng cao giá trị bình quân theo kiểu châu Á, mà xuất phát từ số lượng người ở “cái đuôi” của hàm phân phối thống kê, số lượng vô cùng ít ỏi những người dám chấp nhận rủi ro, đủ điên rồ để có những ý tưởng của riêng mình, những người thừa hưởng khả năng vô cùng hiếm hoi là trí tưởng tượng, thừa hưởng phẩm chất còn hiếm hoi hơn là lòng can đảm, và những người thúc đẩy sự việc xảy ra.

TRƯỜNG PHÁI THALES VÀ TRƯỜNG PHÁI ARISTOTLE

Bây giờ đến triết học. Như ta đã thấy ở phần trình bày về vấn đề Thiên Nga Đen trong chương 8, những người ra quyết định chú trọng đến kết quả đạt được, hệ quả của hành động (vì thế bao gồm tính phi đối xứng và hiệu ứng phi tuyến tính). Trường phái Aristotle tập trung vào đúng và sai, hay nói cách khác, tập trung vào logic nguyên thủy. Hai trường phái này thường ít giao nhau hơn bạn tưởng.

Aristotle tưởng lầm rằng hiểu biết về biến cố (vụ mùa tương lai, hay giá thuê phương tiện ép dầu, biến số trình bày trên trục hoành) và kiếm lợi nhuận từ đó (trục tung) là như nhau. Mà ở đây, do tính phi đối xứng, hai biến số này không như nhau, như thể hiện rõ ràng qua đồ thị. Như Tony Béo sẽ khẳng định trong chương 14, “chúng không phải là cùng một thứ” (nhưng vì nói ngọng nên anh phát âm thành “một tứ”).

Làm thế nào để ngu ngốc

Nếu bạn “có khả năng chọn lựa”, bạn không cần lắm đến cái mà người ta thường gọi là trí thông minh, tri thức, hiểu biết, kỹ năng và những thứ phức tạp đang diễn ra trong não bộ. Vì bạn không cần phải luôn luôn đúng. Tất cả những gì bạn cần chỉ là sự khôn khéo không làm những điều kém hiểu biết gây tổn thương cho chính mình (những hành động tiết chế nhất định) và nhận ra những kết quả thuận lợi khi chúng xuất hiện. (Mấu chốt là ở chỗ, bạn không cần phải đánh giá trước khi kết quả xảy ra, mà chỉ sau khi kết quả xảy ra.)

Thuộc tính này cho phép chúng ta có thể ngu ngốc, hay nói cách khác, cho phép ta nhận được những kết quả tốt hơn so với tri thức của ta, mà bây giờ tôi sẽ gọi là “hòn đá luyện đan” hay “độ lệch lồi” (convexity bias), kết quả của một thuộc tính toán học gọi là bất đẳng thức Jensen. Co chế sẽ được giải thích sau trong tập V trình bày về toán học, nhưng vào lúc này, ta chấp nhận rằng quá trình tiến hóa có thể sinh ra những đối tượng tinh vi một cách đáng kinh ngạc mà không thông minh, chỉ đơn giản nhờ kết họp khả năng chọn lựa và một dạng bộ lọc chọn lọc nào đó, cộng với đôi chút ngẫu nhiên, như ta sẽ thấy sau đây.

Tự nhiên và các quyền chọn

Nhà sinh vật học vĩ đại người Pháp Pranẹois Jacob đưa vào khoa học khái niệm quyền chọn (hay những đặc điểm giống như quyền chọn) trong các hệ thống tự nhiên, nhờ vào thử nghiệm và sửa sai, trong một biến thể mà tiếng Pháp gọi là bricolage. Bricolage là một hình thức thử nghiệm và sửa sai gần giống như việc giật gấu vá vai, cố gắng xoay xở với những phương tiện hiện có bằng cách tái chế những mảnh vá mà bằng không sẽ bỏ phí.

Jacob lập luận rằng ngay từ trong bụng mẹ, Tự nhiên cũng biết chọn lọc thế nào: khoảng một nửa phôi thai bị đào thải tự phát - làm như thế dễ dàng hơn là thiết kế một em bé hoàn hảo qua một bản thiết kế. Tự nhiên duy trì một cách đơn giản những gì nó thích nếu đáp ứng các tiêu chuẩn của nó, hoặc là “thất bại sớm ngay từ đầu” theo phong cách California - nó có một quyền chọn và sử dụng quyền chọn đó. Tự nhiên am hiểu khả năng chọn lọc giỏi hơn con người, và chắc chắn giỏi hơn so với Aristotle.

Tự nhiên là sự khai thác khả năng chọn lựa, cho thấy khả năng chọn lựa thay thế trí thông minh như thế nào.57

Ta sẽ gọi hoạt động thử nghiệm và sửa sai là hoạt động sửa chữa chắp vá (tinkering), tiêu biểu cho những sai lầm nhỏ và những mối lợi lớn. Tính phi đối xứng tích cực này được mô tả chính xác hơn bằng thuật ngữ “tính lồi” hay “mối quan hệ có dạng lồi” (convexity), và sẽ được giải thích chi tiết hơn trong chương 18. 58

Đồ thị trong hình 7 minh họa tốt nhất cho ý tưởng tiêu biểu ở California, và thể hiện qua nhận định của Steve Jobs trong một câu nói nổi tiếng: “Hãy cứ khát khao, hãy cứ dại khờ.” (Stay hungry, stay foolish). Có lẽ ý ông muốn nói “Hãy cứ điên rồ nhưng giữ lại tính duy lý của việc chọn lựa giới hạn trên khi bạn nhìn thấy nó.” Bất kỳ việc thử nghiệm và sửa sai nào cũng có thể được xem là biểu hiện của một quyền chọn, bao lâu mà người ta vẫn còn có khả năng nhận ra một kết quả thuận lợi và khai thác nó, như ta sẽ thấy sau đây.

Image

HÌNH 6. Cơ chế thử nghiệm và sửa sai tương tự như quyền chọn (mô hình thất bại nhanh), còn gọi là sự sửa chữa chắp vá với mối quan hệ có dạng lồi. Các sai lầm chỉ có chi phí thấp, mà ta biết trước tổn thất tối đa của nó, và có lợi ích tiềm năng lớn (không giới hạn). Đặc điểm chính của các biến cố Thiên Nga Đen tích cực: lợi ích không giới hạn (không như trúng số), hay đúng hơn, ta không biết giới hạn của nó; nhưng tổn thất từ sai lầm thì có giới hạn và biết trước.

Image

HÌNH 7. Tình huống tương tự như trong hình 6, nhưng trong Ngẫu nhiên cực độ, kết quả có thể khổng lồ.

Tính duy lý

Để đúc kết, ta mô tả quyền chọn như sau:

Quyền chọn = Phi đối xứng + Tính duy lý

Tính duy lý một phần nằm ở chỗ giữ lại cái tốt và bỏ đi cái xấu, biết nắm lấy lợi nhuận. Như ta đã thấy, Tự nhiên có một bộ lọc để giữ lại những em bé khỏe mạnh và bỏ đi những em bé yếu. Sự khác biệt giữa khả năng cải thiện nghịch cảnh và tính mỏng manh nằm ở đó. Những đối tượng mỏng manh thì không có quyền chọn. Nhưng những đối tượng có khả năng cải thiện nghịch cảnh cần chọn lọc những gì tốt nhất - quyền chọn tốt nhất.

Điều đáng khẳng định là, thuộc tính tuyệt vòi nhất của Tự nhiên là tính duy lý, qua đó Tự nhiên chọn các quyền chọn và chọn cho mình những gì tốt nhất - nhò vào quá trình thử nghiệm gắn liền với sự tiến hóa. Không như các nhà nghiên cứu lo sợ làm điều gì đó khác biệt, Tự nhiên nhìn thấy quyền chọn - tính phi đối xứng - khi nó hiện hữu. Vì thế, Tự nhiên thực hiện quyền chọn, các hệ thống sinh học được khóa vào một trạng thái tốt hơn so với trước kia, thuộc tính phụ thuộc vào lộ trình mà tôi đã đề cập trên đây. Trong quá trình thử nghiệm và sửa sai, tính duy lý cũng bao hàm trong việc không bác bỏ những gì tốt hơn rõ rệt so với những gì bạn từng có trước đây.

Như tôi từng nói, trong kinh doanh, người ta trả tiền để có quyền chọn khi họ xác định được nó và quy định nó trong các hợp đồng, vì thế giá mua những quyền chọn công khai thường có xu hướng đắt đỏ, hệt như mua các họp đồng bảo hiểm. Chúng thường được quảng cáo quá mức. Nhưng hiểu biết của chúng ta thường bị giới hạn trong những lĩnh vực nhất định, ta không nhận ra quyền chọn ở những nơi khác, khi quyền chọn có xu hướng bị định giá quá thấp hay miễn phí hoàn toàn.

Tôi học về tính phi đối xứng của quyền chọn trong lớp học ở trường Wharton, trong bài giảng về các quyền chọn tài chính, từng quyết định sự nghiệp của tôi, và ngay lập tức tôi nhận ra rằng chính vị giáo sư cũng không nhận ra hàm ý của nó. Nói đơn giản, ông không hiểu tính phi tuyến và khả năng chọn lựa xuất phát từ tính phi đối xứng! Nhận thức của con người thường bị giới hạn trong những lĩnh vực nhất định: ông không nhận ra nó ở những nơi mà sách giáo khoa không đề cập đến tính phi đối xứng - ông am hiểu khả năng chọn lựa về mặt toán học, nhưng không thật sự am hiểu nó bên ngoài các phương trình. Ông không nghĩ rằng sự thử nghiệm và sửa sai là các quyền chọn. Ông không nghĩ sai số mô hình là các quyền chọn tiêu cực. Và ba mươi năm sau, trớ trêu thay, hiểu biết về tính phi đối xứng của những người đang giảng dạy về quyền chọn gần như cũng không có gì thay đổi.59

Quyền chọn có thể lẩn trốn ở nơi ta không muốn nó lẩn trốn. Tôi sẽ nhắc lại rằng các quyền chọn mang lại lợi ích nhờ vào sự biến thiên, nhưng cũng mang lại lợi ích từ những tình huống trong đó cái giá của sai lầm không đáng kể. Vì thế, những sai lầm này cũng giống như các quyền chọn - trong dài hạn, những sai lầm có chi phí thấp (sai lầm hạnh phúc) mang lại lợi ích, những sai lầm có chi phí cao (sai lầm bất hạnh) mang lại tổn thất. Đó chính xác là những gì Tony Béo đang tranh thủ lợi dụng: các mô hình nào đó chỉ có thể có những sai lầm bất hạnh, nhất là các mô hình chứng khoán phái sinh và các tình huống gây ra tính mỏng manh khác.

Điều làm tôi chú ý là con người và giới trí thức gần như không nhìn thấy các quyền chọn. Như ta sẽ thấy trong chương tiếp theo, các quyền chọn hiện diện ngoài kia một cách dễ dàng nhìn thấy.

Cuộc đời là gamma trường

Quả thật là dễ dàng nhìn thấy.

Một ngày kia, bạn tôi Anthony Glickman, một học giả Do Thái và Do Thái giáo cổ đại trở thành một nhà giao dịch quyền chọn, rồi lại quay lại làm học giả Do Thái và Do Thái giáo cổ đại (cho đến giờ), sau khi thảo luận về việc áp dụng khả năng chọn lựa vào mọi sự việc quanh ta như thế nào, có thể sau một tràng đả kích của tôi về chủ nghĩa khắc kỷ, đã trầm tĩnh nói: “Cuộc đời là một gamma trường.” (Nhắc lại, trong thuật ngữ tài chính, “trường” có nghĩa là “hưởng lợi từ” và “đoản” có nghĩa là “bị thiệt hại bỏi”, và “gamma” là tên gọi tính phi tuyến của các quyền chọn, vì thế “gamma trường” có nghĩa là “hưởng lợi từ sự biến động và biến thiên.” Anthony thậm chí còn có địa chỉ email là “@longgammacom.”)

Có vô vàn tư liệu học thuật ra sức thuyết phục chúng ta rằng việc sở hữu quyền chọn là không họp lý vì một số quyền chọn bị định giá quá cao, và xem ra chúng bị định giá quá cao căn cứ theo các phương pháp tính toán rủi ro của các trường kinh doanh mà không tính đến khả năng xảy ra các biến cố hiếm hoi. Hơn nữa, các nhà nghiên cứu viện dẫn cái gọi là “độ lệch trường vị” hay hiệu ứng xổ số, nghĩa là người ta cố gắng căng mình ra và chi trả quá cao cho các triển vọng kiếm lời (thế trường vị) trong các sòng bạc và các tình huống cờ bạc. Lẽ dĩ nhiên, các kết quả này là trò bịp bọm trá hình dưới lớp vỏ bọc khoa học, với những người không dám chấp nhận rủi ro theo kiểu như Triffat, những người mà khi muốn suy nghĩ về rủi ro, họ chỉ nghĩ tới sòng bạc. Cũng giống như trong những phương pháp khác của các nhà kinh tế học để xử lý tình huống bấp bênh bất trắc, các phương pháp này bị hỏng bởi đánh đồng giữa tính ngẫu nhiên của cuộc đời với tính ngẫu nhiên có thể theo dõi được trong các sòng bạc, mà tôi gọi là “ngụy biện cờ bạc” (ludic fallacy, với từ nguyên ludes có nghĩa là “cờ bạc” trong tiếng Latinh) - sự đánh đồng mà ta đã thấy của gã chơi bài xì dách trong chương 7. Thật ra, chỉ trích mọi trò cá cược về các biến cố hiếm hoi dựa vào sự kiện là các tấm vé số bị định giá quá cao thì cũng xuẩn ngốc hệt như chỉ trích mọi sự chấp nhận rủi ro trên cơ sở sòng bạc kiếm tiền từ các con bạc trong dài hạn, mà quên mất rằng chúng ta ở đây vì việc chấp nhận rủi ro bên ngoài các sòng bạc. Ngoài ra, trong các trò cá cược của sòng bạc và xổ số, ta biết trước về kết quả có lợi tối đa; còn trong đời sống thực tế, lợi ích tối đa gần như không có giới hạn, và sự khác nhau giữa hai trường hợp có thể rất đáng kể.

Chấp nhận rủi ro không phải là đánh bạc, và khả năng chọn lựa không phải là những tấm vé số.

Thêm vào đó, các lập luận về “triển vọng hưởng lợi” này cũng được chọn dữ liệu có lợi loại bỏ dữ liệu bất lợi một cách lố lăng. Nếu bạn liệt kê những doanh nghiệp đã tạo ra của cải nhiều nhất trong lịch sử, bạn sẽ thấy rằng tất cả họ đều có khả năng chọn lựa. Đáng tiếc thay, có những trường hợp mà người ta đánh cắp quyền chọn từ những người khác và từ những người nộp thuế (như ta sẽ thấy trong phần thảo luận về đạo lý trong tập VII), như các giám đốc công ty luôn luôn đạt được kết quả có lợi cho chính bản thân mình mà không có kết quả có hại. Nhưng những công ty tạo ra của cải nhiều nhất trong lịch sử Hoa Kỳ trước tiên là các công ty bất động sản (các nhà đầu tư có quyền chọn bằng tổn thất của các ngân hàng) và thứ hai là các công ty công nghệ (chủ yếu hoàn toàn dựa vào việc thử nghiệm và sửa sai). Hơn nữa, những doanh nghiệp mà khả năng chọn lựa của họ có giá trị âm (nghĩa là trái ngược với việc có khả năng chọn lựa) như ngành ngân hàng, đã có kết quả hoạt động kinh khủng xuyên suốt lịch sử: các ngân hàng cứ định kỳ lại thua lỗ hết mọi đồng xu mà họ kiếm được trong lịch sử do những vụ đổ vỡ.

Nhưng tất cả những điều này được giảm thiểu nhờ vào vai trò của khả năng chọn lựa trong hai quá trình tiến hóa: tiến hóa tự nhiên và tiến hóa khoa học công nghệ, mà ta sẽ xem xét trong tập IV.

Chính trị La Mã ưa thích khả năng chọn lựa

Ngay cả các hệ thống chính trị cũng tuân theo một hình thức chỉnh sửa hợp lý, vì con người có lý trí, nên họ chọn lấy quyền chọn tốt hơn: người La Mã xây dựng hệ thống chính trị thông qua chỉnh sửa, chứ không phải bằng cách “lập luận duy lý.” Polybius trong tác phẩm Histories đã so sánh giữa một bên là nhà làm luật Hy Lạp Lycurgus, người xây dựng hệ thống chính trị đồng thời “không được rèn luyện bởi nghịch cảnh,” và một bên là người La Mã kinh nghiệm hơn, mà vài thế kỷ sau, “không đạt được nó [hệ thống chính trị] bằng bất kỳ quá trình lập luận duy lý nào, mà thông qua kỹ cương trật tự của những trận chiến và khó khăn, và luôn luôn chọn lấy đối tượng tốt nhất dưới ánh sáng kinh nghiệm học được trong thảm họa.”

Kế tiếp

Cho phép tôi tóm tắt lại. Trong chương 10, chúng ta đã thấy tính phi đối xứng triệt để thể hiện qua ý tưởng của Seneca: kết quả có lợi nhiều hơn so với kết quả có hại và ngược lại. Chương này giải thích thêm luận điểm đó và trình bày biểu hiện của tính phi đối xứng dưới hình thức quyền chọn, qua đó người ta có thể đạt được kết quả có lợi nếu thích, mà không có kết quả có hại. Quyền chọn là vũ khí của khả năng cải thiện nghịch cảnh.

Một luận điểm khác của chương này và tập IV là: quyền chọn thay thế cho tri thức - thật ra tôi không hoàn toàn am hiểu tri thức khô khan là gì, vì nó quả thật mo hồ và khô khan. Vì thế tôi mạnh dạn phỏng đoán rằng nhiều thứ chúng ta tưởng được suy ra bằng kỹ năng, hóa ra chủ yếu xuất phát từ các quyền chọn, nhưng là những quyền chọn được sử dụng khéo léo, như tình huống của Thales, và như Tự nhiên, chứ không phải xuất phát từ những gì ta cho là mình am hiểu.

Ý nghĩa đó chẳng phải tầm thường. Vì nếu bạn nghĩ rằng giáo dục mang lại sự phồn vinh, chứ không phải là kết quả của phồn vinh, hay nếu bạn nghĩ rằng những hành động thông minh và những khám phá là kết quả của tư tưởng thông minh, bạn sẽ ngạc nhiên đấy. Ta hãy xem đó là kiểu ngạc nhiên gì.

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.