QUAY LẠI VỚI CHIẾN LƯỢC HAI ĐẦU

Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tập Viphản Đề
Tập Viphản Đề

❊ ❊ ❊

Hãy nhớ lại câu chuyện chúng ta từng không có tên gọi cho “màu xanh” nhưng vẫn xoay xở khá tốt mà không cần đến tên gọi đó - suốt một thời gian dài trong quá khứ, ta mù màu về mặt văn hóa nhưng không mù màu về mặt sinh học. Và trước khi xây dựng một từ mới trong chương 1, ta cũng không có tên gọi cho “khả năng cải thiện nghịch cảnh”, nhưng các hệ thống vẫn dựa vào khả năng đó một cách hữu hiệu mà không cần đến sự can thiệp của con người. Có nhiều thứ không có tên gọi, những vấn đề ta biết và có thể hành động nhưng không thể mô tả một cách trực tiếp, không thể nắm bắt trong ngôn ngữ loài người hay trong phạm vi khái niệm nhân sinh hạn hẹp sẵn có. Hầu hết mọi thứ quan trọng quanh ta đều khó nắm bắt bằng ngôn ngữ, và thật ra, những thứ càng quyền năng, thì sự mô tả bằng ngôn ngữ càng không hoàn chỉnh.

Nhưng nếu ta không thể mô tả điều gì đó một cách chính xác, ta vẫn có thể nói nó không phải là gì - diễn đạt gián tiếp thay vì trực tiếp. Phương pháp “apophatic” tập trung vào những gì không thể nói trực tiếp bằng lời, xuất phát từ tiếng Hy Lạp apophasis. Phương pháp này bắt đầu bằng cách tránh mô tả trực tiếp, dẫn đến sự mô tả phủ định, mà tiếng Latinh gọi là via negativa, phương pháp phủ định, hay phản đề, theo sau các truyền thống thần học, nhất là trong Giáo hội chính thống phương Đông. Phản đề không cố gắng diễn đạt Chúa Trời là gì - điều đó dành cho nhóm nguyên thủy gồm các nhà tư tưởng và các ngụy triết gia với xu hướng khoa học thời ấy. Phương pháp này chỉ liệt kê Chúa Trời không phải là gì và tiến tới thông qua quá trình loại trừ. Ý tưởng này chủ yếu gắn liền với nhà thần học thần bí Pseudo-Dionyso (Dionysos Giả). Ông là người vùng Cận Đông ít tiếng tăm với cái tên Dionysos, viết những chuyên luận huyền thoại có ảnh hưởng, và suốt một thời gian dài người ta vẫn nhầm lẫn ông với Dionysos, thành viên của Hội đồng lập pháp và tư pháp tối cao Athens cổ đại, một pháp quan ở Athens, người được cải đạo qua sự thuyết giảng của Nhà truyền đạo Paul. Vì thế, người ta thường thêm chữ “Pseudo-” (“Giả”) vào tên ông để phân biệt.

Những người theo thuyết Plato mới là những người ủng hộ ý tưởng của Plato; chủ yếu họ nhấn mạnh vào các Hình thái của Plato, những đối tượng trừu tượng tự chúng có sự tồn tại rõ ràng. Dionysos Giả là tông đồ của Proclus, người theo thuyết Plato mới (bản thân ông này lại là học trò của Syrianus, cũng là một người theo thuyết Plato mới vùng Syria). Proclus nổi tiếng với việc nhắc đi nhắc lại phép ẩn dụ về việc tạc tượng bằng cách loại trừ. Tôi thường đọc một phiên bản gần đây hơn của ý tưởng này, với trò chơi chữ như sau. Đức giáo hoàng hỏi Michelangelo về bí mật thiên tài của ông, đặc biệt là làm sao ông tạc được bức tượng David, được xem là tuyệt tác trong mọi tuyệt tác. Ông đáp: “Rất đơn giản. Tôi chỉ bỏ đi những gì không phải là David.”

Độc giả có thể nhận ra logic hàm chứa trong chiến lược hai đầu. Hãy nhớ lại logic của chiến lược hai đầu rằng điều cần thiết là trước tiên phải bỏ đi tính mỏng manh.

Nên nhớ rằng những người chủ trương can thiệp thường tập trung vào những hành động khẳng định - phải làm gì đó. Hệt như các định nghĩa khẳng định, ta thấy những hành động theo phận sự thường được tôn trọng và vinh danh bởi những bộ óc ấu trĩ và dẫn đến sự can thiệp ngây thơ của chính phủ rồi kết thúc trong thảm họa, tiếp theo là những lời than phiền chung chung về sự can thiệp ngây thơ của chính phủ, như những hành động đã được chấp nhận và đã kết thúc trong thảm họa, rồi tiếp tục lại là sự can thiệp ngây thơ của chính phủ nhiều hơn nữa. “Không làm gì cả” không được xem là hành động, và không phải là một phần trong sứ mệnh của chúng ta. Bảng 3 cho thấy tác động này có thể được khái quát hóa như thế nào trong các lĩnh vực khác nhau, từ y học cho đến kinh doanh.

Tôi đã dành trọn đời cho một quy tắc suy nghiệm đơn giản thú vị: những kẻ bịp bợm được công nhận vì họ ban cho bạn những lời khuyên khẳng định, và chỉ những lời khuyên khẳng định, khai thác sự cả tin và xu hướng dại khờ của chúng ta trước những công thức gây ấn tượng ngay tức thời và hiển nhiên, rồi bốc hơi ngay sau khi ta quên đi. Cứ thử nhìn vào những quyển sách với những tiêu đề như “Mười bước để…” (điền vào chỗ trống: làm giàu, giảm cân, kết bạn, phát minh, được bầu, xây dựng cơ bắp, tìm chồng, điều hành một trại mồ côi vv…). Thế nhưng trên thực tế, chính phương pháp phủ định mới được sử dụng bởi những kẻ chuyên nghiệp, những người được chọn lọc thông qua quá trình tiến hóa: các kỳ thủ thường chiến thắng bằng cách không để bị thua; người ta trở nên giàu có vì không bị phá sản (nhất là khi những người khác phá sản); tôn giáo chủ yếu bao gồm những điều cấm; quá trình học hỏi trên đường đời chủ yếu là về những gì nên tránh. Bạn giảm được hầu hết rủi ro cá nhân ngẫu nhiên nhờ vào một số ít biện pháp.

Hơn nữa, ta bị mắc lừa bởi ngẫu nhiên là ở chỗ, trong hầu hết những tình huống đầy ngẫu nhiên, ta thường không thể biết chắc liệu một người thành công sẽ có kỹ năng hay là một người có kỹ năng sẽ thành công - nhưng ta có thể dự đoán được phản đề, nghĩa là một người hoàn toàn không có kỹ năng rốt cuộc sẽ thất bại.

Tri thúc phàn đề

Ta cũng áp dụng khái niệm trên cho tri thức. Đóng góp vĩ đại nhất và mạnh mẽ nhất cho tri thức bao gồm việc loại ra những gì ta nghĩ là sai lầm - nhận thức luận phản đề, hay nhận thức luận phủ định, hay nhận thức luận loại trừ (subtractive epistemology).

Trong cuộc sống, ta đạt được khả năng cải thiện nghịch cảnh bằng cách không trở thành một kẻ ngốc. Trong chuyên khảo Peri mystikes theologias, Dionysos Giả không sử dụng chính xác những lời lẽ này, mà cũng chẳng thảo luận về việc phủ định, cũng không xác nhận ý tưởng một cách rõ ràng, nhưng theo tôi, ông đã vạch ra nhận thức luận phản đề và tính phi đối xứng trong tri thức. Tôi gọi tình yêu dành cho các hình thái trừu tượng hoành tráng của Plato là “tình yêu lý tưởng thuần khiết” (Platonicity); đó là vạn vật và các hình thái lý thuyết khiến ta trở nên mù quáng trước thực tế hỗn độn và gây ra hiệu ứng Thiên Nga Đen. Rồi tôi nhận ra ở đây có tính chất phi đối xứng. Tôi thật sự tin vào các ý tưởng về tình yêu lý tưởng thuần khiết của Plato khi chúng xuất hiện dưới dạng nghịch đảo, như vạn vật phản đề (negative universals).

Vì thế, nguyên lý trọng tâm của nhận thức luận mà tôi cổ xúy là như sau: ta không biết nhiều về cái gì là đúng, nhưng ta biết nhiều hơn về cái gì là sai; hay nói theo sự phân loại giữa mỏng manh và mạnh mẽ, tri thức phản đề (cái gì sai, cái gì không có tác dụng) thì mạnh mẽ hơn và không sợ sai lầm như so với tri thức thuận đề (cái gì là đúng, cái gì có tác dụng). Vì thế, tri thức phát triển thông qua sự phủ định nhiều hơn so với sự khẳng định - những gì hiện nay ta cho là đúng hóa ra là sai, nhưng những gì ta biết là sai không thể hóa ra đúng, hay chí ít cũng không dễ dàng gì. Nếu tôi nhìn thấy một con thiên nga đen, tôi có thể hoàn toàn tin chắc rằng phát biểu “tất cả thiên nga đều trắng” là sai. Nhưng ngay cả nếu tôi chưa từng thấy một con thiên nga đen, tôi cũng không bao giờ chắc chắn phát biểu ấy là đúng. Nói cách khác: vì một quan sát nhỏ có thể phủ định một phát biểu, trong khi một triệu quan sát cũng không thể khẳng định cho phát biểu đó, nên việc phủ định mạnh mẽ hơn, vững chắc hơn so với việc khẳng định.

Ý tưởng này vào thời đại của chúng ta thường gắn liền với tên tuổi triết gia Karl Popper, và tôi từng nhầm tưởng rằng ông là người khai sinh ra nó (dù vậy, ông là người khai sinh ra một ý tưởng hiệu nghiệm hơn về việc ta không thể dự đoán được dòng lịch sử). Hóa ra khái niệm này đã có từ lâu đời, và là một trong những nguyên lý trọng tâm của trường phái y học kinh nghiệm hoài nghi thời hậu cổ đại ở đông Địa Trung Hải. Một nhóm học giả người Pháp thế kỷ 19 khám phá ra các công trình này. Và ý tưởng về sức mạnh của sự phủ định thấm nhuần trong phương thức hoạt động khoa học chính xác.

Như bạn có thể thấy, ta gắn liền điều này với bối cảnh chung về thuận đề (khẳng định, bổ sung, tăng cường) và phản đề (phủ định, loại trừ, tiết chế): tri thức phản đề thì vững chắc hơn, nhưng không hoàn hảo. Popper bị các triết gia phê phán vì ông xem việc phủ định là cứng nhắc, trắng đen rõ ràng; nhưng thật ra nó không rạch ròi dứt khoát: người ta không thể xác định dứt khoát liệu một thực nghiệm không mang lại những kết quả định trước theo lý thuyết - thế nên thực nghiệm sẽ “xuyên tạc” lý thuyết - là do thất bại của công cụ, do không may, hay do sự gian lận của nhà khoa học. Chẳng hạn bạn nhìn thấy một con thiên nga đen. Điều đó chắc chắn sẽ giúp bác bỏ ý tưởng cho rằng mọi con thiên nga đều trắng. Nhưng nếu bạn vừa uống rượu vang Libăng hay bị ảo giác do dành quá nhiều thời gian trên internet thì sao? Nếu do trời tối nên mọi con thiên nga đều trông xam xám thì sao? Ta nói rằng, nhìn chung, việc thất bại và phủ nhận thì mang lại nhiều thông tin hơn so với thành công và khẳng định, đó là lý do tôi nói “tri thức phủ định” sẽ “mạnh mẽ vững chắc hơn”.

Bây giờ, trước khi bắt đầu viết phần này, tôi đã dành chút thời gian lùng sục toàn bộ các tác phẩm của Popper, tự hỏi tại sao nhà tư tưởng vĩ đại, với cách tiếp cận “xuyên tạc lý thuyết” đầy ám ảnh của ông, lại bỏ sót hoàn toàn ý tưởng về tính mỏng manh. Tuyệt phẩm của ông, The Poverty of Historicism (Sự khốn cùng của chủ nghĩa lịch sử), trong đó ông trình bày hạn chế của việc dự báo, cho thấy chúng ta không thể mô tả tương lai. Nhưng ông bỏ sót quan điểm là nếu một bác sĩ bất tài tiến hành phẫu thuật não, người ta vẫn có thể dự đoán chắc chắn về mối nguy hiểm nghiêm trọng, thậm chí cái chết của bệnh nhân. Thế nhưng việc mô tả tương lai bằng phản đề vẫn hoàn toàn phù hợp với ý tưởng phủ định của ông, bước logic thứ hai. Điều ông gọi là sự “xuyên tạc lý thuyết,” trên thực tế, sẽ dẫn đến phá vỡ đối tượng áp dụng của lý thuyết đó.

Trong các hệ thống chính trị, cơ chế tốt là cơ chế giúp loại bỏ những kẻ xấu; chứ không phải là về việc ta phải làm gì hay phải đưa ai lên. Vì những kẻ xấu có thể gây thiệt hại nhiều hơn hành động tập thể của những người tốt. Jon Elters98 còn đi xa hơn; gần đây ông viết một quyển sách với tựa đề ấn tượng Preventing Mischief (Ngăn ngừa tai họa) trong đó ông đặt hành động phủ định dựa trên ý tưởng của Bentham99 rằng “hành động của cơ quan lập pháp chỉ giới hạn trong việc ngăn ngừa tất cả những thứ có thể cản trở phát triển sự tự do và tư duy của họ [các thành viên quốc hội].”

Và như dự kiến, phản đề cũng là một phần trong sự thông thái của người cổ đại. Theo học giả Ảrập và lãnh tụ tôn giáo Ali Bin Abi-Taleb (không có quan hệ với tôi), việc giữ khoảng cách với một người ngu dốt cũng tương đương với việc kết bạn với một người thông thái.

Cuối cùng, ta hãy xem xét phiên bản hiện đại hóa trong nhận định của Steve Jobs: “Người ta cứ tưởng xoáy vào trọng tâm có nghĩa là đồng ý với điều mà bạn phải tập trung chú ý tới. Nhưng đó hoàn toàn không phải là ý nghĩa của trọng tâm. Trọng tâm có nghĩa là sự phủ nhận hàng trăm ý tưởng khác hiện có. Bạn phải chọn lựa cẩn thận. Tôi thật sự tự hào về những gì chúng tôi đã không làm cũng hệt như về những gì chúng tôi đã làm. Phát minh có nghĩa là phải biết từ chối 1.000 thứ.”

Tri thức phủ định là một dạng chiến lược hai đầu. Điều quan trọng là nó có tính lồi. Khi bạn biết điều gì là sai, đó là một tri thức mạnh mẽ vững chắc, bởi vì, những gì bạn không biết thì mỏng manh và phỏng đoán, nhưng điều đó không quan trọng vì bạn chắc chắn nó sẽ không làm hại bạn khi hóa ra nó sai.

Bây giờ là một ứng dụng khác của phản đề nằm trong ý tưởng “càng đơn giản càng tốt”.

Càng đơn giản càng tốt

Ý tưởng “càng đơn giản càng tốt” trong việc hoạch định chính sách đã được Spyros Makridakis, Tobyn Dawes, Dan Goldstein, và Gerd Gigerenzer trình bày; các tác giả này nhận thấy, trong những bối cảnh khác nhau, những phương pháp dự báo và can thiệp càng đơn giản sẽ càng hiệu nghiệm hơn so với những phương pháp phức tạp. Các quy tắc kinh nghiệm đơn giản của họ không hoàn hảo, nhưng được thiết kế để không hoàn hảo; việc chấp nhận nhún nhường về trí tuệ và từ bỏ mục đích phát triển tinh vi có thể giúp mang lại những tác dụng mãnh liệt. Bộ đôi Goldstein và Gigerenzer hun đúc ra khái niệm quy tắc suy nghiệm “nhanh chóng và căn co”, giúp đưa ra những quyết định tốt bất chấp thời gian, tri thức và sức mạnh điện toán có hạn.

Tôi nhận ra suy nghiệm “càng đơn giản càng tốt” rơi đúng vào công việc của tôi trên hai phương diện. Thứ nhất, hiệu ứng cực độ: có những lĩnh vực mà trong đó biến cố hiếm hoi (dù xấu hay tốt) đóng vai trò không cân xứng và chúng ta có xu hướng không nhìn thấy nó, thế nên việc tập trung khai thác hay phòng ngừa biến cố hiếm hoi sẽ làm thay đổi rất nhiều mức độ gánh chịu rủi ro. Chỉ cần quan tâm đến gánh chịu rủi ro biến cố Thiên Nga Đen, và thế là cuộc sống thật dễ dàng.

Càng đơn giản càng tốt xem ra dễ tìm và dễ áp dụng lạ lùng - và “mạnh mẽ” trước mọi sai lầm hay sự thay đổi ý kiến. Có nhiều vấn đề thường không dễ dàng tìm ra nguyên nhân, nhưng lại thường có một giải pháp dễ dàng (không phải mọi vấn đề, nhưng cũng đủ nhiều), và giải pháp ấy có thể được nhận thấy ngay tức thời, đôi khi chỉ bằng mắt thường chứ không cần đến việc phân tích phức tạp hay tinh thần say mê khoa học mù quáng nhằm mưu cầu sự nghiệp, vốn có xu hướng sai lầm và hết sức mỏng manh.

Nhiều người chúng ta đã biết về nguyên tắc 80/20, dựa vào khám phá của Vilfredo Pareto hơn một thế kỷ trước đây, rằng 20 phần trăm người dân Ý sở hữu 80 phần trăm đất đai, và ngược lại. Trong số 20 phần trăm này, có 20 phần trăm (nghĩa là 4 phần trăm) sẽ sở hữu khoảng 80 phần trăm của 80 phần trăm (nghĩa là 64 phần trăm). Cứ thế tiếp tục, ta sẽ có chưa tới 1 phần trăm dân số sở hữu khoảng 50 phần trăm đất đai trong tổng số. Điều này mô tả hiệu ứng Ngẫu nhiên cực độ, “được ăn cả ngã về không”. Hiệu ứng này rất tổng quát, từ phân phối của cải cho đến việc bán sách của các tác giả.

Gần như không ai nhận ra rằng ta đang tiến tới sự phân phối ngày càng không đồng đều hơn, theo tỷ lệ 99/1 trong những sự việc từng áp dụng tỷ lệ 80/20 trước kia: 99 phần trăm lượng truy cập Internet được quy cho không đến 1 phần trăm trang web, 99 phần trăm doanh số bán sách xuất phát từ chưa đến 1 phần trăm các tác giả… và tôi phải dừng lại vì những con số này đang gây bức xúc tâm lý. Hầu hết mọi thứ hiện nay đều có hiệu ứng “được ăn cả ngã về không”, bao gồm các nguồn gốc gây ra thiệt hại và mang lại lợi ích. Cũng vì lẽ đó, như tôi sẽ chứng minh, chỉ cần chú trọng sửa đổi 1 phần trăm của hệ thống là đủ để giảm tính mỏng manh (hay tăng khả năng cải thiện nghịch cảnh) khoảng 99 phần trăm - và tất cả chỉ cần mất vài bước, thường là với chi phí thấp, để làm cho sự việc trở nên tốt hơn và an toàn hơn.

Ví dụ, một số ít người vô gia cư làm cho các tiểu bang tốn một tỷ lệ không cân xứng trong ngân sách, qua đó giúp ta thấy rõ ràng ta nên đi tìm tiền tiết kiệm ở đâu. Một số ít người lao động trong công ty gây ra hầu hết mọi vấn đề, làm hỏng thái độ làm việc chung - và ngược lại - vì thế thoát khỏi tỷ lệ nhỏ này là một giải pháp tuyệt vời. Một số ít khách hàng tạo ra một tỷ trọng lớn trong doanh thu. Tôi nhận được 95 phần trăm bài đăng bôi nhọ mình từ ba người ám ảnh nhất, tất cả đều tiêu biểu cho cùng một nguyên mẫu thất bại (tôi ước tính, một trong ba người này đã viết gần 100.000 từ trong các bài đăng - càng lúc gã càng cần viết nhiều hơn và tìm kiếm nhiều tư liệu chỉ trích cá nhân tôi và tác phẩm của tôi thì mới đạt được cùng mức tác dụng như cũ). Về lĩnh vực y tế, nhà đạo đức sinh học người Mỹ Ezekiel Emanuel chứng minh rằng một nửa dân số chiếm không đến 3 phần trăm chi phí y tế, trong khi 10 phần trăm đau ốm nhất hấp thu 64 phần trăm tổng chi phí y tế. Bent Fkyvbjerg (trong chương 18) trong cuốn Black Swan Management (Quản lý Thiên Nga Đen) đã trình bày ý tưởng rằng phần lớn chi phí phát sinh của các công ty chỉ đơn thuần là do các dự án công nghệ lớn - ngụ ý rằng đó chính là cái ta cần tập trung kiểm soát vào thay vì rao giảng và viết ra những bài báo phức tạp.

Như trong giới mafia thường nói, hãy lấy sạn ra khỏi giày.

Trong những lĩnh vực như bất động sản, các vấn đề và giải pháp được tóm tắt gọn gàng đẹp đẽ bằng một quy tắc suy nghiệm là, hãy lưu ý tới ba thuộc tính quan trọng nhất: “vị trí, vị trí và vị trí” - phần lớn những thuộc tính còn lại đều không đáng kể. Không phải hoàn toàn và luôn luôn đúng, nhưng nó cho thấy điều quan trọng mà ta quan tâm đến, còn những yếu tố còn lại sẽ tự chúng lo liệu lấy.

Thế nhưng người ta muốn có nhiều dữ liệu hơn để “giải quyết vấn đề.” Tôi có lần đã chứng thực trước Quốc hội nhằm phản bác một dự án tài trợ cho việc dự báo khủng hoảng. Những người tham gia dự án không nhìn thấy nghịch lý là, chúng ta chưa bao giờ có nhiều dữ liệu như bây giờ, thế mà khả năng dự đoán của ta lại kém cỏi hơn bao giờ hết. Nhiều dữ liệu hơn - như chú ý vào màu mắt của những người xung quanh mà ta tình cờ gặp ngoài phố - có thể làm cho bạn tông vào một chiếc xe tải. Khi bạn băng qua đường, bạn bỏ hết mọi dữ liệu, ngoại trừ mối đe dọa thiết yếu nhất.100 Như Paul Valély từng viết: que de choses il faut ignorer pour agir - nhiều điều ta cần phải bỏ qua để hành động.

Những ngành chính xác và đáng tin như vật lý có xu hướng ít sử dụng số liệu thống kê để hỗ trợ, trong khi khoa học chính trị và kinh tế, vốn chẳng bao giờ sản sinh ra thứ gì đáng lưu ý, lại đầy rẫy số liệu thống kê chi tiết và “bằng chứng” thống kê (và bạn biết rằng một khi bạn xua tan làn khói hư ảo, bằng chứng không còn là bằng chứng nữa). Tình hình trong khoa học cũng hệt như trong những cuốn tiểu thuyết trinh thám, trong đó người có bằng chứng ngoại phạm nhiều nhất hóa ra lại là kẻ có tội. Và bạn cũng không cần đến những ram giấy đầy số liệu thì mới có thể bác bỏ hàng triệu tấn giấy sử dụng số liệu thống kê trong kinh tế học: chỉ cần lập luận đơn giản rằng các biến cố Thiên Nga Đen và biến cố đuôi tác động đến thế giới kinh tế xã hội, và người ta không thể dự đoán được những biến cố này; thế là đủ để vô hiệu hóa số liệu thống kê của họ.

Chúng ta có bằng chứng về hiệu lực của quan niệm “càng đơn giản càng tốt” từ thực nghiệm sau đây. Christopher Chabris và Daniel Simons, trong quyển sách The Invisible Gorilla (Khỉ đột vô hình) cho thấy, khi người ta đang xem phim video về một trận bóng rổ, khi bị lôi cuốn vào những chi tiết thu hút sự chú ý như đếm những pha chuyền bóng chẳng hạn, họ có thể hoàn toàn không nhận thấy một con khỉ đột đang bước vào giữa sân.

Tôi phát hiện ra rằng tôi đã sử dụng bằng trực giác ý tưởng “càng đơn giản càng tốt” như một sự trợ giúp khi ra quyết định (trái với phương pháp liệt kê một loạt những yếu tố thuận và chống trên một màn hình máy tính). Ví dụ, nếu bạn có nhiều hơn một lý do để làm điều gì đó (chọn bác sĩ hay bác sĩ thú y, thuê người làm vườn hay nhân viên, kết hôn với ai, thực hiện một chuyến đi), thì thôi bạn đừng làm nữa. Điều đó không có nghĩa là một lý do thì tốt hơn hai lý do, mà chỉ có nghĩa là khi phải tìm kiếm đến hơn một lý do, bạn đang cố gắng tự thuyết phục mình hãy làm điều gì đó. Những quyết định hiển nhiên (đứng vững trước mọi sai lầm) không cần đến hơn một lý do. Hệt như quân đội Pháp có một quy tắc suy nghiệm là bác bỏ ngay những cái cớ cho tình trạng thường xuyên vắng mặt vì nhiều lý do, như bà mất, bị cảm, bị lợn lòi cắn. Nếu ai đó gièm pha một quyển sách hay một ý tưởng với nhiều hơn một lý do, bạn biết ngay điều đó không phải là sự thật: chẳng ai nói “hắn là một tên tội phạm, hắn giết nhiều người, phép lịch sự khi ăn uống của hắn cũng rất kém, hoi thở hắn hôi hám, và hắn là một tài xế dở tệ.”

Tôi thường áp dụng điều mà tôi gọi là lưõi dao cạo của Bergson: “Một nhà hiền triết chỉ nổi tiếng vì một ý tưởng duy nhất, không hơn” (tôi không thể nêu rõ nguồn tư liệu của Bergson, nhưng quy tắc này đủ hay rồi). Nhà viết tiểu luận kiêm nhà tho Pháp Paul Valéry từng hỏi Einstein xem ông có mang theo sổ ghi chép các ý tưởng hay không. Câu trả lòi là “Tôi chả bao giờ có ý tưởng” (thật ra ông chỉ không có những ý tưởng tầm phào). Như vậy, một quy tắc suy nghiệm: nếu ai đó có một lý lịch dài dòng, tôi sẽ làm ngơ hắn - trong một hội nghị, một người bạn mời tôi đi ăn trưa với một nhân vật khéo ứng xử mà lý lịch của hắn “có thể bao trùm hơn hai hay ba đời người”; tôi từ chối để ngồi vào bàn của những người được đào tạo trong hội nghị và các kỹ sư sân khấu.101 Tương tự, khi người ta bảo tôi ai đó có 300 bài báo học thuật và 22 bằng tiến sĩ danh dự, nhưng không có nổi một đóng góp thuyết phục hay một ý tưởng chính nào, tôi cũng tránh hắn như tránh bệnh dịch hạch.

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.