NỬA ĐỜI KHÔNG TÊN

Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 36 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1giữa Thanh Gươm Damocles Và Rắn Thần Hydra
Chương 1giữa Thanh Gươm Damocles Và Rắn Thần Hydra

❊ ❊ ❊

Vui lòng chặt đầu tôi đi - Bằng một phép màu nào mà màu sắc trở thành những sắc màu - Làm thế nào nâng tạ ở Dubai

Bạn đang ở bưu điện, chuẩn bị gửi đi một gói quà chất đầy những chiếc ly uống champagne cho một người em họ ở trung tâm Siberia. Vì gói hàng có thể vỡ trên đường vận chuyển, nên bạn phải đóng dấu trên gói hàng bằng mực đỏ: “hàng dễ vỡ”, hay “hàng mỏng manh”, hay “vui lòng nhẹ tay”. Giờ thì cái gì chính xác trái ngược với tình huống đó, chính xác trái ngược với “mỏng manh dễ vỡ”?

Gần như mọi người đều trả lòi rằng trái ngược với “mỏng manh” là “mạnh mẽ”, “bền bỉ,” “cứng rắn” hay đại loại thế. Nhưng sự bền bỉ, mạnh mẽ (và đại loại thế) là những thứ không bao giờ vỡ mà cũng chẳng bao giờ cải thiện, vì thế bạn không cần viết gì trên đó - bạn có bao giờ thấy một gói hàng với dòng chữ “hàng mạnh mẽ” được đóng dấu bằng mực xanh? Theo logic, chính xác trái ngược với một gói hàng “dễ vỡ” phải là một gói hàng trên đó người ta viết “vui lòng nặng tay” hay “vui lòng ngược đãi”. Món hàng này chẳng những không vỡ, mà còn được lợi từ những cú sốc và hàng loạt chấn thương. Hàng dễ vỡ là gói hàng chỉ trong điều kiện tốt nhất mới duy trì được tình trạng không hư hỏng, chứ không hơn; còn hàng cứng rắn trong điều kiện tốt nhấttrong điều kiện xấu nhất đều không bị hư hỏng. Vậy trái ngược của hàng dễ vỡ sẽ là gói hàng mà điều kiện xấu nhất là không bị hư hỏng, chứ không tệ hơn, bằng không thì nó còn được cải thiện để tốt hơn.

Ta sử dụng tên gọi “khả năng cải thiện nghịch cảnh” (antifragile) cho những gói hàng như vậy; cần phải sáng chế ra từ mới bỏi vì trong Từ điển tiếng Anh Oxford không có một từ đơn, đơn giản, diễn đạt sự trái ngược với mỏng manh. Vì ý niệm về khả năng cải thiện nghịch cảnh không nằm trong ý thức của ta - nhưng may thay, nó là một phần trong hành vi của tổ tiên ta, bộ máy sinh học của ta, và là thuộc tính luôn luôn có mặt trong mọi hệ thống còn tồn tại.

Image

HÌNH 1. Một gói hàng xin được đối xử nặng tay và gây xáo trộn.

Thực hiện: Giotto Enterprise và George Nasr.

Để xem thử khái niệm này xa lạ đến mức nào với tư duy của ta, hãy lặp lại thí nghiệm và hỏi mọi người ỏ những chỗ đông người, các điểm picnic, hay chỗ tụ tập trước khi gây rối chẳng hạn, để xem thử từ phản nghĩa của mỏng manh là gì (và khăng khăng nêu rõ rằng bạn muốn nói tới sự trái ngược chính xác, cái gì đó có những thuộc tính và kết quả ngược lại). Ngoại trừ những người đã biết về quyển sách này, những câu trả lời khả dĩ nhất ngoài “mạnh mẽ” là: không dễ vỡ, cứng rắn, vững chắc, bền bỉ, khỏe khoắn, những cụm từ đi kèm “chịu được” (ví dụ, chịu được nước, chịu được gió, chịu được gỉ sét). Đây là những câu trả lời sai - và không chỉ cá nhân mà ngay cả các tổ chức tri thức cũng bối rối vì điều này - và là một sai sót trong mọi cuốn từ điển đồng nghĩa và phản nghĩa mà tôi từng tìm kiếm.

Một cách khác để xem xét điều này: vì trái ngược với dương tínhâm tính, chứ không phải trung tính, nên trái ngược với mỏng manh dương tính phải là mỏng manh âm tính (vì thế tôi mới dùng “antifragile”), chứ không phải trung tính, vốn chỉ truyền đạt tính chất mạnh mẽ, khỏe khoắn, và không dễ vỡ. Thật vậy, khi ta viết dưới dạng toán học, antifragile là fragile với một dấu trừ đàng trước.8

Điểm mù này xem ra khá phổ biến. Không có một từ đơn diễn đạt “khả năng cải thiện nghịch cảnh” trong những ngôn ngữ chính mà ta biết, bất kể là ngôn ngữ hiện đại, cổ xưa, thông tục, hay tiếng lóng. Thậm chí tiếng Nga (phiên bản Xô viết) và tiếng Anh Brooklyn tiêu chuẩn dường như cũng không có từ nào dành cho khả năng cải thiện nghịch cảnh, mà cứ đánh đồng với sự mạnh mẽ.9

Suốt nửa đời người - nửa cuộc đời thú vị - ta không có tên.

VUI LÒNG CHÉM ĐẦU TÔI

Nếu chúng ta không có một cái tên chung cho “khả năng cải thiện nghịch cảnh,” ta có thể tìm một tên gọi tương đương trong thần thoại, cách diễn đạt thông minh của lịch sử bằng những ẩn dụ hiệu nghiệm. Trong một phiên bản La Mã tái chế từ thần thoại Hy Lạp, bạo chúa vùng Sicil Dionysius II cho phép quan cận thần nịnh hót Damocles tận hưởng sự xa hoa của yến tiệc linh đình, nhưng với một thanh gươm treo lửng lơ trên đầu, buộc vào trần nhà bằng một sọi lông đuôi ngựa. Lông ngựa là thứ rồi sau cùng sẽ đứt dưới áp lực, tiếp theo là một cảnh tượng máu me, những tiếng thét chói tai, và đại loại như những chiếc xe cứu thương cổ đại. Damocles thật mỏng manh - và chỉ là vấn đề thời gian trước khi lưõi gươm lấy mạng ông.

Trong một truyền thuyết xa xưa khác, lần này người Hy Lạp tái chế từ một truyền thuyết Xêmít10 và Ai Cập, ta tìm thấy chim phượng hoàng, loài chim có sắc lông rực rõ. Bất kể khi nào chết đi, loài chim này cũng tái sinh từ đống tro tàn của mình. Nó luôn luôn trở lại với trạng thái ban đầu. Phượng hoàng cũng tình cò là biểu tượng của Beirut, thành phố nơi tôi lớn lên. Theo truyền thuyết, Berytus (tên cũ của Beirut, thủ đô Libăng) đã bị phá hủy bảy lần trong lịch sử gần 5.000 năm của mình, và đã bảy lần được xây dựng lại. Câu chuyện xem ra có sức thuyết phục, và trong thời thơ ấu của mình chính tôi đã chứng kiến kịch bản thứ tám; trung tâm Beirut (khu phố cổ) bị tàn phá hoàn toàn lần thứ tám bỏi cuộc nội chiến tàn khốc. Tôi cũng chứng kiến sự tái thiết lần thứ tám của nó.

Nhưng Beirut được xây dựng lại trong hình thù mới nhất thậm chí còn đẹp đẽ hơn so với hiện thân trước đây, và với một điều trớ trêu thú vị: trận động đất vào năm 551 sau Công nguyên đã chôn vùi trường luật của người La Mã, và đã được khôi phục lại như một phần thưởng từ lịch sử trong thời kỳ tái thiết (với các nhà khảo cổ và các nhà phát triển bất động sản mua bán sự chấn thương của công chúng). Đó không phải là chim phượng hoàng, mà là cái gì đó còn hơn cả sự mạnh mẽ. Điều này đưa ta đến với ẩn dụ thần thoại thứ ba: rắn thần Hydra.

Trong thần thoại Hy Lạp, Hydra là một sinh vật như rắn, sống ở hồ Lerna gần Argos và có vô số đầu. Mỗi lần cái đầu này bị chặt đứt, lại có hai cái đầu khác mọc ra. Vì thế, nó càng thích bị hại. Hydra tiêu biểu cho khả năng cải thiện nghịch cảnh.

Thanh gươm Damocles tiêu biểu cho tác dụng phụ của quyền lực và thành công: bạn không thể vươn lên và thống trị mà không gặp phải những nguy hiểm triền miên - ai đó ngoài kia sẽ tích cực hành động để lật đổ bạn. Và cũng như thanh gươm, mối hiểm nguy sẽ âm thầm, không lay chuyển, và không liên tục. Nó sẽ đột ngột rơi xuống sau một thời gian dài lặng yên, có thể ngay vào lúc người ta đã quen với nó và quên đi sự hiện diện của nó. Thiên Nga Đen ở ngoài kia sẽ tóm lấy bạn khi giờ đây bạn đã có nhiều thứ để mất, cái giá của thành công (và tăng trưởng) có thể là sự trừng phạt không thể tránh khỏi của sự thành công quá mức. Cuối cùng, điều quan trọng là sức mạnh của sợi dây - chứ không phải món ngon vật lạ của bữa yến tiệc. Nhưng may thay, đây là một khả năng tổn thương có thể nhìn thấy, có thể xác định và có thể theo dõi đối với những người muốn lắng nghe. Toàn bộ ý tưởng của Bảng Bộ Ba là: trong nhiều tình huống, ta có thể xác định được sức mạnh của sợi dây.

Hơn nữa, ta hãy xem thử sự-tăng-trưởng-mà-theo-sau-là-sự-sụp-đổ có thể độc hại đến mức nào đối với xã hội, hệt như sự gục ngã của người khách dự tiệc trước cú rơi của thanh gươm Damocles, sẽ mang đến những thiệt hại mà những người khác phải gánh chịu. Ví dụ, sự sụp đổ của một tổ chức tài chính lớn sẽ ảnh hưởng đến xã hội.

Sự phát triển tinh vi, một ngành phát triển tinh vi nào đó, cũng mang đến tính mỏng manh trước các biến cố Thiên Nga Đen: khi xã hội hưởng lợi từ sự phát triển phức tạp, với ngày càng nhiều tính chất tinh vi “hiện đại” và ngày càng chuyên môn hóa, xã hội ngày càng trở nên dễ tổn thương trước sự đổ vỡ. Ý tưởng này đã được nhà khảo cổ Joseph Tainter phác họa một cách thông minh và thuyết phục. Nhưng điều đó không nhất thiết xảy ra: nó chỉ xảy ra đối với những ai không muốn tiến xa thêm và tìm hiểu ma trận thực tế. Để đương đầu với sự thành công, bạn cần có nhiều sức mạnh tương xứng, thậm chí cần có nhiều khả năng cải thiện nghịch cảnh. Bạn muốn là chim phượng hoàng, hay có thể là rắn thần Hydra. Bằng không thanh gươm Damocles sẽ tiêu diệt bạn.

Ta biết nhiều hơn so với những gì ta nghĩ là ta biết, và nhiều hơn so với những gì ta có thể trình bày rõ ràng mạch lạc. Nếu các hệ tư tưởng chính thức của ta coi thường tự nhiên, và trên thực tế ta không có một tên gọi cho khả năng cải thiện nghịch cảnh, và cứ phải vật lộn với khái niệm bất kỳ khi nào ta vận dụng trí óc, điều đó không có nghĩa là ta bỏ qua khái niệm đó. Cảm nhận và trực giác của ta, như thể hiện qua những việc ta làm, có thể ưu việt hơn những gì ta biết và lập bảng, thảo luận bằng lời và rao giảng trong lớp học. Ta sẽ có những buổi thảo luận tràng giang đại hải về một điểm cụ thể nào đó bằng cách nói vòng vo về những gì không thể nói một cách công khai, hay không thể mô tả trực tiếp bằng hệ thống từ vựng hiện nay (apophatic); vì thế bây giờ ta hãy xem xét hiện tượng lạ kỳ này.

Trong tác phẩm Through the Language Glass (Qua tấm kính ngôn ngữ), nhà ngôn ngữ học Guy Deutscher kể rằng nhiều dân tộc nguyên thủy chỉ có tên gọi cho hai hay ba màu sắc dù không bị mù màu. Nhưng khi tham gia trắc nghiệm, họ có thể ghép những sợi dây vào đúng màu sắc tương ứng. Họ có thể nhận thấy sự khác biệt giữa các sắc cầu vồng, nhưng họ không diễn đạt điều này trong từ vựng của mình. Những dân tộc này mù màu về văn hóa chứ không mù màu về mặt sinh học.

Cũng giống như ta mù khả năng cải thiện nghịch cảnh về mặt tri thức chứ không mù khả năng này về mặt tổ chức hữu cơ. Để thấy sự khác biệt, chỉ việc nghĩ rằng bạn cần tên gọi “màu xanh” để tường thuật, chứ không cần khi bạn tham gia hành động.

Nhiều người không biết rằng nhiều màu sắc mà ta cho là đương nhiên từng không có tên gọi suốt một thời gian dài, và không có tên trong các di cảo chính trong văn hóa châu Âu. Các bản văn Địa Trung Hải cổ xưa, cả bằng tiếng Hy Lạp và Xêmít đều có từ vựng rút gọn cho một số ít màu sắc tập trung xung quanh màu tối và màu sáng - Homer và những người cùng thời của ông chỉ giới hạn trong khoảng ba hay bốn màu chính: đen, trắng, và một phần mo hồ của cầu vồng, thường gộp vào thành màu đỏ hay vàng.

Tôi đã liên hệ với Guy Deutscher. Ông vô cùng rộng lượng giúp đỡ và cho tôi biết, người cổ đại thậm chí còn thiếu từ ngữ cho những màu cơ bản như màu xanh dương. Tình trạng thiếu từ “xanh dương” trong tiếng Hy Lạp cổ là lý do khiến Homer liên tục nhắc đến “biển màu rượu sẫm” (oinopa ponton) khá khó hiểu đối với độc giả (kể cả độc giả này).

Điều thú vị là, chính Thủ tướng Anh William Gladstone là người đầu tiên phát hiện ra điều đó vào thập niên 1850 (và đã bị các nhà báo vội vàng chê trách một cách bất công). Vốn là một người uyên bác, Gladstone đã viết một chuyên luận thật ấn tượng dài 1.700 trang về Homer trong thời gian ông tạm ngừng nghỉ giữa các cương vị chính trị. Trong phần cuối, Gladstone công bố sự hạn chế về từ vựng màu sắc này, giải thích sự nhạy cảm hiện nay với nhiều sắc thái màu sắc của chúng ta là nhờ rèn luyện đôi mắt qua nhiều thế hệ. Nhưng bất kể sự biến thiên màu sắc trong văn hóa qua thời gian, rõ ràng là người xưa đã có thể nhận diện được các sắc thái, trừ khi họ bị mù màu về mặt thể chất.

Gladstone thật ấn tượng trong nhiều lĩnh vực. Ngoài tri thức uyên thâm của ông, sức mạnh của tính cách, sự tôn trọng kẻ yếu, và mức năng lượng cao, bốn đặc điểm rất hấp dẫn (sau lòng can đảm về trí tuệ, sự tôn trọng kẻ yếu là đặc điểm tính cách hấp dẫn thứ hai đối với tác giả này) ông còn thể hiện khả năng thấy trước sự việc. Ông vạch ra điều mà gần như không ai vào thời ông dám đề nghị: rằng Iliad tương ứng với một câu chuyện có thật (bấy giờ người ta vẫn chưa khám phá ra thành Troy). Ngoài ra, thậm chí còn biết trước và còn phù hợp hơn với quyển sách này, ông nhất quyết đòi hỏi một ngân sách nhà nước cân bằng: thâm hụt ngân sách rõ ràng là nguồn gốc chính gây ra tính mỏng manh trong các hệ thống kinh tế và xã hội.

KHẢ NĂNG CẢI THIỆN NGHỊCH CẢNH NGUYÊN THỦY

Ta cũng có tên gọi cho hai khái niệm về khả năng cải thiện nghịch cảnh đầu tiên, với hai ứng dụng tiền thân bao trùm một vài trường hợp đặc biệt. Đây là những khía cạnh nhẹ nhàng của khả năng cải thiện nghịch cảnh và giới hạn trong lĩnh vực y học, nhưng cũng là một cách khỏi đầu tốt.

Theo truyền thuyết, Mithridates IV, vua xứ Pontus ỏ Tiểu Á, trong quá trình lẩn trốn sau khi phụ vương bị ám sát, đã tự bảo vệ mình trước sự đầu độc bằng cách ăn độc dược với những liều nhỏ không đủ gây chết người rồi tăng dần liều lượng. Sau đó, ông đưa quá trình này vào một nghi lễ tôn giáo phức tạp. Nhưng sự miễn nhiễm này lại khiến ông gặp rắc rối về sau, khi nỗ lực tự kết liễu đời mình bằng độc dược của ông bị thất bại, “sau khi đã tăng cường thể chất chống lại độc tố của những người khác.” Vì thế ông phải nhờ người chỉ huy quân đội đồng minh giải thoát cho mình bằng một lưõi gươm.

Phương pháp làm quen dần với độc tố này được gọi là Antidotum Mithridatium, được tôn vinh bỏi Celsus, vị bác sĩ nổi tiếng của thế giới cổ đại, hẳn phải khá thịnh hành ỏ Rome, vì khoảng một thế kỷ sau nó lại gây phiền phức cho nỗ lực giết mẹ của bạo chúa Nero. Nero bị ám ảnh bỏi ý tưỏng giết mẹ mình, Agrippina, vốn là chị của Caligula (kể chi tiết cho câu chuyện thêm phần sống động) và được cho là người yêu của triết gia Seneca (cũng kể ra cho thêm sống động, và sẽ kể nhiều về ông sau). Nhưng bà mẹ xem ra hiểu con trai mình khá rõ và đoán trước hành động của ông, nhất là khi ông là đứa con duy nhất của bà - và Agrippina cũng am hiểu đôi chút về độc dược, vì có lẽ bà đã sử dụng phương pháp này để giết ít nhất một trong những người chồng của mình (tôi đã nói câu chuyện khá sống động mà). Vì thế, ngờ rằng Nero có mưu đồ với mình, bà đã tự làm cho cơ thể quen dần với độc dược vốn cũng sẵn có đối với thuộc hạ của con trai. Cũng như Mithridates, Agrippina cuối cùng mất mạng vì những phương pháp cơ học hơn, khi Nero (được cho là) đã cho người ám sát bà, qua đó cho ta một bài học nho nhỏ nhưng có ý nghĩa rằng người ta không thể mạnh mẽ trước tất cả mọi thứ được. Và hai nghìn năm sau, cũng không ai tìm được cách làm cho cơ thể rắn chắc hơn trước những lưõi gươm.

Ta hãy gọi phương pháp làm quen dần với độc tố này (mithridatization, theo tên vua Mithridates) là kết quả của việc nhiễm một liều lượng nhỏ của một chất, mà theo thời gian, sẽ làm cho cơ thể ta miễn nhiễm trước những liều lượng lớn hơn. Đây là phương pháp sử dụng trong việc chủng ngừa và thuốc dị ứng. Đó không phải là khả năng cải thiện nghịch cảnh, vẫn còn ở mức độ khiêm tốn của tính mạnh mẽ, nhưng ta đang tiếp tục lộ trình. Và ta đã có chút gọi ý rằng có lẽ chính việc không có chất độc làm cho ta mỏng manh, và con đường đến với sự mạnh mẽ bắt đầu bằng đôi chút nguy hại.

Giờ ta hãy xem xét trường hợp khác, trong đó, một liều lượng chất độc nhất định sẽ làm cho bạn nói chung trở nên khỏe khoắn hơn, một bước tiến xa hơn tình trạng mạnh mẽ. Hormesis, một từ được sáng chế bỏi các nhà dược học, là khi một liều nhỏ chất gây hại thật sự có lợi cho cơ thể, đóng vai trò như thuốc bồi bổ sức khỏe. Một chút chất gây khó chịu, không quá nhiều, có tác dụng làm lợi cho cơ thể và làm cho cơ thể nói chung khỏe khoắn hơn vì nó khơi mào cho quá trình phản ứng đề kháng mạnh. Vào lúc bấy giờ, điều này không được lý giải theo ý nghĩa “hưởng lợi từ mối nguy hại”, mà được cho là “tác hại tùy theo liều lượng” hay “thuốc thang tùy vào liều lượng”. Mối quan tâm của các nhà khoa học là về tính phi tuyến của phản ứng của cơ thể trước liều lượng.

Người cổ đại đã biết sử dụng liệu pháp Hormesis (cũng giống như người ta đã biết màu xanh nhưng không diễn đạt ra). Nhưng mãi tới năm 1888 lần đầu tiên nó mới được mô tả “một cách khoa học” (dù vậy vẫn chưa có tên gọi) bởi một chuyên gia về chất độc, Hugo Schulz, với nhận xét rằng những liều độc dược nhỏ sẽ kích thích sự tăng trưởng của nấm men trong khi những liều lớn sẽ gây hại. Một số nhà nghiên cứu cho rằng lợi ích của rau quả không chắc nhiều đến thế trong cái mà ta gọi là vitamin hay những lý thuyết duy lý khác (nghĩa là những ý tưởng nói ra nghe chừng có lý nhưng còn phụ thuộc vào việc kiểm chứng thực tế nghiêm ngặt) nhưng rau quả có thể có lợi trong câu chuyện sau đây: thực vật tự bảo vệ mình trước nguy hại và tránh không bị động vật ăn bằng những chất độc mà khi ta ăn vào với đúng liều, có thể kích thích cơ thể ta. Một lần nữa, độc dược với liều lượng thấp và có hạn giúp khoi mào cho những lợi ích về sức khỏe.

Nhiều người khẳng định rằng hạn chế calori (thường xuyên hay thỉnh thoảng) sẽ kích hoạt phản ứng và sự chuyển hóa của cơ thể mà cùng với những lợi ích khác sẽ kéo dài tuổi thọ của các động vật trong phòng thí nghiệm. Con người chúng ta sống lâu quá nên các nhà nghiên cứu không thể kiểm chứng để xem thử việc hạn chế calori như vậy có làm tăng tuổi thọ của ta không (nếu giả thuyết là đúng thì đối tượng kiểm chứng sẽ sống lâu hơn các nhà nghiên cứu). Nhưng xem ra kiểu hạn chế như thế làm con người khỏe mạnh hơn (và cũng có thể cải thiện óc khôi hài của họ). Nhưng vì tình trạng dồi dào calori có thể dẫn đến tác dụng ngược lại, nên việc thỉnh thoảng hạn chế calori cũng có thể được lý giải như sau: cung cấp thực phẩm quá đều đặn sẽ không tốt, và con người bị tước mất yếu tố căng thẳng như tình trạng thiếu đói sẽ làm giảm thọ so với tuổi thọ tiềm năng của họ, vì thế những gì liệu pháp Hormesis đang làm là tái lập liều lượng tự nhiên cho thực phẩm và sự thiếu đói trong con người. Nói cách khác, liệu pháp Hormesis là chuẩn mực, và thiếu nó sẽ làm hại ta.

Liệu pháp Hormesis không còn được tôn trọng về mặt khoa học, không được quan tâm và thực hành từ sau thập niên 1930, vì nhiều người đánh đồng nó với liệu pháp vi lượng đồng căn (homeopathy). Sự đánh đồng này thật không công bằng, vì hai cơ chế cực kỳ khác nhau. Phép vi lượng đồng căn dựa vào những nguyên tắc khác, như nguyên tắc cho rằng, những phần nhỏ, pha loãng của một tác nhân gây bệnh (nhỏ đến mức gần như ta không thể nhận ra, vì thế không thể gây ra liệu pháp Hormesis) có thể giúp ta khỏi bệnh. Vi lượng đồng căn rõ ràng là không được xác nhận bằng thực nghiệm và do phương pháp luận kiểm nghiệm nên ngày nay thuộc về liệu pháp thay thế (alternative medicine), trong khi Hormesis là một hiện tượng có bằng chứng khoa học phong phú xác nhận.

Nhưng quan trọng hơn, bây giờ ta có thể thấy rằng việc tước đoạt những yếu tố gây căng thẳng cho hệ thống, những yếu tố gây căng thẳng trọng yếu, không nhất thiết là điều tốt, mà có thể hết sức tai hại.

NHẬN THỨC CỦA TA THƯỜNG BỊ GIỚI HẠN

TRONG NHỮNG LĨNH VỰC NHẤT ĐỊNH

Ý tưởng cho rằng các hệ thống có thể cần ít nhiều căng thẳng và khuấy động thường bị bỏ sót bởi những người nắm bắt được nó trong lĩnh vực này nhưng lại không nắm bắt được trong những lĩnh vực khác. Vì thế giờ đây ta còn thấy ra trường lệ thuộc (domain dependence) trong nhận thức của chúng ta, “trường” (domain) ở đây có nghĩa là loại hình hay lĩnh vực hoạt động (lĩnh vực giới hạn nhận thức). Nhiều người có thể hiểu ý tưởng trong một lĩnh vực, ví dụ như y học, nhưng không nhận ra ý tưởng đó trong một lĩnh vực khác, chẳng hạn như trong đời sống kinh tế xã hội. Họ có thể tiếp thu ý tưởng trong trường lớp nhưng không nhận ra nó trong dòng đời ngược xuôi phức tạp. Dù không muốn nhưng con người không nhận ra những tình huống khác với bối cảnh mà họ thường học hỏi.

Tôi có một ví dụ sinh động về giới hạn nhận thức trên đường lái xe vào khách sạn ở thành phố giả hiệu Dubai. Một anh chàng ra dáng một ông chủ ngân hàng yêu cầu người gác cổng mặc đồng phục mang hộ hành lý (tôi có thể nhận ra ngay ai đó thuộc loại chủ ngân hàng với những ám hiệu nhỏ nhất vì tôi bị dị ứng thể chất với họ, thậm chí họ còn khiến tôi khó thở). Khoảng 15 phút sau, tôi thấy gã chủ ngân hàng đó đang cử tạ trong phòng tập thể hình, cố gắng mô phỏng bài tập tự nhiên bằng những quả tạ cứ như thể gã đang đung đưa chiếc cặp táp. Giới hạn nhận thức đầy rẫy khắp noi.

Ngoài ra, vấn đề không chỉ là việc làm quen dần với độc chất và tăng cường sức khỏe nhờ độc tố được biết đến trong giới y học và không được nhận ra trong những lĩnh vực khác như đời sống kinh tế xã hội. Thậm chí trong lĩnh vực y học, nhiều người lĩnh hội chỗ này nhưng lại bỏ sót ở chỗ khác. Cùng một ông bác sĩ ấy có thể khuyên bạn tập thể dục để bạn “trở nên rắn rỏi hơn” rồi vài phút sau lại viết ngay một đơn thuốc kháng sinh cho sự nhiễm trùng bình thường để bạn “đừng bị bệnh”.

Một ví dụ khác về giới hạn nhận thức: hỏi một công dân Mỹ xem thử một cơ quan bán chính phủ độc lập nào đó (và không chịu sự can thiệp từ Quốc hội) có nên kiểm soát giá ô tô, báo buổi sáng, và rượu Malbec, như lĩnh vực chuyên trách. Anh chàng sẽ đùng đùng nổi giận, vì điều đó xem ra vi phạm mọi nguyên tắc tự do tiêu biểu của đất nước và sẽ gọi bạn là một tên gián điệp vì dám đề nghị như vậy. Được rồi. Sau đó hỏi anh xem cơ quan chính phủ ấy có nên kiểm soát tỷ giá hối đoái hay không, chủ yếu là tỷ giá đôla so với euro và đồng tugrit Mông Cổ. vẫn cùng một phản ứng: Đây không phải là nước Pháp đâu nhé. Rồi tiếp đến hãy nhẹ nhàng chỉ ra rằng Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đang kiểm soát và quản lý giá của một hàng hóa khác, một loại giá khác được gọi là lãi suất cho vay, lãi suất trong nền kinh tế (và rõ ràng là giỏi trong việc đó). Ứng viên tổng thống theo chủ nghĩa tự do Ron Paul bị gọi là kẻ quái gỡ khi đề nghị bãi bỏ Cục Dự trữ Liên bang, hay thậm chí hạn chế vai trò của cục này. Nhưng ông chắc cũng sẽ bị gọi là quái gỡ khi đề nghị thành lập một cơ quan kiểm soát các loại giá khác.

Hãy tưởng tượng ai đó có năng khiếu học ngoại ngữ nhưng không thể chuyển đổi các khái niệm từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, vì thế anh sẽ phải học lại “chiếc ghế” hay “yêu” hay “bánh táo” mỗi khi anh tiếp thu một ngôn ngữ mới. Anh sẽ không nhận ra “house” (tiếng Anh) hay “casa” (tiếng Tây Ban Nha) hay “byt” (tiếng Xêmít). Theo một cách nào đó, tất cả chúng ta đều bất lực tương tự, không thể nhận ra cùng một ý tưởng khi nó được đặt trong bối cảnh khác. Cứ như thể số phận bắt ta phải bị lừa bởi phần nông cạn hời hợt nhất của sự việc, bởi bao bì đóng gói của gói quà. Đó là lý do khiến ta không nhìn thấy khả năng cải thiện nghịch cảnh ở những nơi nó bộc lộ hiển nhiên, quá sức hiển nhiên. Khả năng cải thiện nghịch cảnh không phải là một phần của kiểu tư duy đã được chấp nhận về thành công, tăng trưởng kinh tế, hay phát minh đổi mới, mà chỉ có thể đạt được từ phản ứng vượt bậc khi chống lại các yếu tố gây căng thẳng. Mà chúng ta cũng không nhận ra khả năng phản ứng vượt bậc này trong những lĩnh vực khác. (Và giới hạn nhận thức cũng là lý do khiến nhiều nhà nghiên cứu khó nhận ra rằng tình trạng bất định, hiểu biết không hoàn chỉnh, rối loạn, và biến động, tất cả đều có cùng bản chất, đều là thành viên trong cùng một gia đình thân thiết.)

Tình trạng thiếu chuyển hóa nhận thức này chính là khiếm khuyết trí tuệ gắn liền với con người; và ta chỉ bắt đầu đạt được sự khôn ngoan hay hợp lý khi ta thực hiện nỗ lực khắc phục và vượt qua nó.

Ta hãy tìm hiểu sâu xa hơn về khả năng phản ứng vượt bậc (overcompensation).

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.