TUỔI THỌ VÀ MỐI QUAN HỆ CÓ DẠNG LỒI

Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 22trường Thọ, Nhưng Đừng Thọ Quá
Chương 22trường Thọ, Nhưng Đừng Thọ Quá

❊ ❊ ❊

Những ngày thứ tư và những ngày thứ sáu, cộng thêm những ngày chay - Làm thế nào để sống mãi, theo Nietzsch và những người khác - Tại sao không sống lâu hơn khi bạn nghĩ về vấn đề tuổi thọ

Bất kỳ khi nào bạn đặt nghi vấn về một khía cạnh nào đó của y khoa, hay “tiến bộ” công nghệ tuyệt đối, ngay lập tức bạn sẽ nghe một lý lẽ ngụy biện kiểu như “chúng ta có xu hướng sống lâu hơn” so với các thế hệ trước đây. Có người còn đưa ra lập luận thậm chí ngớ ngẩn hơn rằng khuynh hướng tuân theo những sự việc tự nhiên có nghĩa là khuynh hướng quay về với thời kỳ đời sống “bạo tàn và ngắn ngủi”, nhưng họ không nhận ra lập luận này cũng ngụ ý rằng ăn những thực phẩm tươi sống và không đóng hộp có nghĩa là bác bỏ nền văn minh, nền pháp trị, và chủ nghĩa nhân văn. Vì thế, trong lập luận tuổi thọ có rất nhiều sắc thái.

Tuổi thọ gia tăng (với điều kiện không có chiến tranh hạt nhân) là sự kết hợp nhiều yếu tố: vệ sinh, penicillin, giảm tội phạm, phẫu thuật cứu người, và lẽ dĩ nhiên, một số nhà thực hành y khoa hoạt động trong những tình huống đe dọa mạng sống nghiêm trọng. Nếu chúng ta sống lâu hơn, đó là nhờ công lao y học trong những ca thập tử nhất sinh, khi tình trạng sức khỏe nguy kịch, cho nên nguy cơ tổn hại do người điều trị gây ra thấp, hay trong những trường hợp hiệu ứng lồi như ta đã thấy. Vì thế, thật sai lầm nghiêm trọng khi dự đoán rằng nếu ta sống lâu hơn nhờ y học, thì mọi cách điều trị y khoa đều làm ta sống lâu hơn.

Ngoài ra, để giải thích ảnh hưởng của “tiến bộ”, ta cần lấy lợi ích của điều trị y khoa trừ đi tổn thất do những căn bệnh của nền văn minh (các xã hội tiền sử nói chung không có bệnh tim mạch, ung thư, sâu răng, lý thuyết kinh tế, nhạc chờ ở sảnh, và những căn bệnh hiện đại khác); tiến bộ trong điều trị ung thư phổi cần được trừ đi hậu quả của việc hút thuốc. Từ các bài báo nghiên cứu, ta có thể ước tính rằng thực hành y khoa giúp tăng tuổi thọ thêm một số năm, nhưng một lần nữa, điều này phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh tật (các bác sĩ ung thư chắc chắn đóng góp tích cực trong những ca tiến triển và có thể chữa lành, trong khi các bác sĩ riêng theo chủ nghĩa can thiệp thường đóng vai trò tiêu cực). Ta cần xem xét sự kiện đáng tiếc là thiệt hại do người điều trị gây ra làm giảm tuổi thọ trong một số trường hợp, những trường hợp mối quan hệ có dạng lõm. Theo số liệu từ một số cuộc đình công ở bệnh viện, trong thời gian đình công, chỉ một số ít ca mổ được thực hiện (chỉ những ca khẩn cấp nhất), còn những ca phẫu thuật không cấp thiết được hoãn lại. Tùy theo bạn đứng về bên nào trong cuộc tranh luận, tuổi thọ hoặc tăng lên trong những trường hợp này, hoặc chí ít ra cũng không giảm. Nhưng quan trọng hơn, nhiều ca phẫu thuật không cấp bách sau đó được hủy bỏ vì bệnh nhân đã quay trở về trạng thái bình thường; đây là bằng chứng cho thấy một số bác sĩ đã xem thường công việc của Mẹ Thiên Nhiên như thế nào.

Một sai lầm theo kiểu mắc-lừa-bởi-ngẫu-nhiên khác nữa là cho rằng, do tuổi thọ vốn chỉ là 30 tuổi mãi cho đến thế kỷ trước, cho nên người ta chỉ sống có 30 năm. Phân phối tuổi thọ rất không đều, do nhiều trường hợp tử vong lúc sinh và trong thời thơ ấu. Tuổi thọ có điều kiện thật ra cao hơn - chỉ cần lưu ý rằng tổ tiên ta có xu hướng tử vong do thương tích.128 Có lẽ việc thực thi luật pháp góp phần làm tăng tuổi thọ nhiều hơn so với công lao của các bác sĩ, nên việc tăng tuổi thọ mang ý nghĩa tiến bộ xã hội nhiều hơn là tiến bộ khoa học.

Như một tình huống nghiên cứu, ta hãy xem việc chụp nhũ ảnh. Người ta chứng minh rằng việc chụp nhũ ảnh hàng năm cho phụ nữ trên 40 không dẫn đến tăng tuổi thọ (trong điều kiện tốt nhất; mà thậm chí còn dẫn đến giảm tuổi thọ). Tuy tỷ lệ tử vong do ung thư vú giảm xuống đối với nhóm phụ nữ có chụp nhũ ảnh, tỷ lệ tử vong do những nguyên nhân khác tăng lên đáng kể. Ở đây ta thấy có hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què. Bác sĩ nhìn thấy khối u, không tránh khỏi làm điều gì đó có hại, như phẫu thuật, rồi sau đó là xạ trị, hóa trị, hay cả hai liệu pháp, nghĩa là có hại hơn chính bản thân khối u. Có một điểm hòa vốn mà bệnh nhân và những vị bác sĩ hoảng sợ dễ dàng vượt qua: điều trị một khối u không gây tử vong sẽ làm rút ngắn tuổi thọ của bạn - hóa trị là độc hại. Chúng ta bị hoang tưởng đối với ung thư; có một sai lầm logic khi ta nhìn sự việc theo chiều ngược lại, gọi là suy luận ngược. Nếu tất cả những người chết sớm vì ung thư đều có một khối u ác tính, điều đó không có nghĩa là mọi khối u ác tính đều dẫn đến tử vong vì ung thư. Hầu hết những người thông minh đều không suy luận rằng mọi ông chủ ngân hàng đều tham nhũng nên tất cả những người tham nhũng đều là chủ ngân hàng. Chỉ trong những trường hợp cực đoan, Tự Nhiên mới cho phép ta vi phạm logic như vậy (gọi là modus ponens) để giúp ta tồn tại. Phản ứng quá đáng hay điều trị quá đáng chỉ có lợi trong môi trường của tổ tiên ta ngày trước.129

Việc hiểu lầm vấn đề nhũ ảnh dẫn đến phản ứng quá đáng về phía các chính khách (một lý do để ta cần phải có một xã hội miễn nhiễm trước sự ngu ngốc của các nhà làm luật thông qua phân quyền những quyết định quan trọng).

Ta có thể khái quát hóa vấn đề nhũ ảnh cho những xét nghiệm vô tội vạ, cố gắng tìm kiếm sự sai lệch so với chuẩn mực, và hành động để “chữa trị” chúng.

Sau khi xem xét kỹ số liệu cùng với bạn tôi Spyros Makridakis, nhà thống kê và nhà khoa học trong lĩnh vực ra quyết định, mà mấy chương trước tôi đã giới thiệu là người đầu tiên nhận thấy khiếm khuyết trong các phương pháp dự báo thống kê, bây giờ tôi phỏng đoán như sau. Chúng tôi ước lượng rằng việc cắt giảm chi tiêu y tế (giới hạn việc cắt giảm trong những ca điều trị và phẫu thuật không cấp thiết) sẽ giúp kéo dài tuổi thọ dân chúng ở hầu hết các nước giàu, nhất là Hoa Kỳ. Tại sao? Phân tích mối quan hệ có dạng lồi đơn giản; xem xét hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què có điều kiện: việc điều trị tình trạng bệnh nhẹ sẽ đặt bệnh nhân vào trạng thái lõm (có nguy cơ thiệt hại lớn). Và làm ra vẻ ta đây biết rất rõ cách điều trị như thế nào. Chỉ cần giảm bớt sự can thiệp y học, chỉ hạn chế trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, trong đó nguy cơ thiệt hại do người điều trị gây ra rất nhỏ. Thậm chí tốt hơn nên tăng chi tiêu cho những ca này và giảm chi tiêu cho những ca không cấp thiết.

Nói cách khác, hãy lập luận theo chiều ngược lại, bắt đầu từ nguy cơ gây hại do người được điều trị cho đến việc điều trị, thay vì đi theo chiều kia. Bất kỳ khi nào có thể, hãy thay bác sĩ bằng khả năng cải thiện nghịch cảnh của con người. Nếu không được, đừng ngại việc điều trị tích cực.

Một ứng dụng khác của tư duy phản đề: chi tiêu ít hơn, sống lâu hơn là một chiến lược phản đề. Ta thấy rằng nguy cơ thiệt hại do người điều trị gây ra xuất phát từ định kiến can thiệp, nghĩa là khẳng định hay thuận đề, là xu hướng muốn làm gì đó, dẫn đến mọi vấn đề mà ta đang thảo luận. Vậy bây giờ ta hãy làm điều phủ định hay phản đề: bỏ bớt các thứ có thể là một hành động hiệu nghiệm (và đúng đắn hơn về mặt thực nghiệm).

Tại sao? Loại trừ một chất nào đó vốn chưa từng trải qua lịch sử tiến hóa của chúng ta sẽ giúp giảm nguy cơ xảy ra biến cố Thiên Nga Đen đồng thời vẫn để ngỏ cơ hội cải thiện. Nếu sự cải thiện xảy ra, ta có thể tin chắc rằng sẽ không có những tác dụng phụ không lường trước.

Vì thế, có nhiều viên ngọc tiềm ẩn trong phương pháp phản đề áp dụng trong y học. Ví dụ, khuyên mọi người đừng hút thuốc xem ra là một đóng góp y khoa to lớn trong 60 năm qua. Druin Burch viết trong tác phẩm Taking the Medicine: “Tác dụng có hại của thuốc lá cũng tương đương với tác dụng tốt kết hợp của mọi sự can thiệp y khoa từng được triển khai sau chiến tranh… Từ bỏ thuốc lá mang lại lợi ích còn nhiều hơn so với việc cứu người khỏi mọi loại bệnh ung thư có khả năng xảy ra.”

Như thường lệ, ta quay lại với người cổ đại. Như Ennius từng viết: “Về cơ bản, điều tốt có nghĩa là không có điều xấu;” Nimium boni est, cui nihil est mali.

Tương tự, “hạnh phúc” tốt nhất nên được tìm hiểu như một khái niệm phủ định và vẫn áp dụng tính phi tuyến. Các nhà nghiên cứu hạnh phúc hiện đại (những người xem ra không có vẻ hạnh phúc), thường là những nhà tâm lý học chuyển sang kinh tế học (hay ngược lại), họ không sử dụng tính phi tuyến và hiệu ứng lồi khi họ rao giảng với ta về hạnh phúc, cứ như thể chúng ta biết nó là gì và liệu đó có phải là những gì ta nên theo đuổi hay không. Thay vì thế, họ nên giảng cho ta nghe về bất hạnh (tôi phỏng đoán rằng, cũng hệt như những người rao giảng về hạnh phúc thường trông có vẻ bất hạnh, những người giảng về bất hạnh thường mang dáng dấp hạnh phúc); “mưu cầu hạnh phúc” không tương đương với việc “tránh né bất hạnh”. Chắc chắn tất cả chúng ta chẳng những biết điều gì làm ta trở nên bất hạnh (chẳng hạn như các thư ký tòa soạn, việc đi lại, những mùi hôi thối, nỗi đau thương, nhìn thấy một tờ tạp chí nào đó mà ta ghét trong phòng chờ vv…), mà còn biết phải làm gì với nó.

Thử tìm hiểu sự uyên thâm của thời xa xưa. Plotinus từng viết: “Đôi khi tình trạng thiếu dinh dưỡng giúp phục hồi hệ thống” và người cổ đại tin vào sự thanh lọc (thể hiện qua việc trích huyết, thường có hại, nhưng cũng có lúc có lợi). Chế độ dinh dưỡng theo trường phái y học Salerno: tâm trạng vui vẻ, nghỉ ngoi, và dinh dưỡng tiết chế. Si tibi deficiant medici, medici tibi fiant haec tria: mens laeta, requies, moderata diaeta.

Có một câu chuyện dường như ngụy tác (nhưng thú vị) về Pomponius Atticus, nổi tiếng là họ hàng và là người nhận thư của Cicero. Bị bệnh nặng không thể chữa khỏi, ông cố gắng chấm dứt sự chịu đựng khốn khổ và kết liễu đời mình bằng cách nhịn ăn, nhưng hóa ra ông lại thành công trong việc chấm dứt nỗi khốn khổ bệnh tật, vì theo Montaigne, sức khỏe của ông đã phục hồi. Nhưng tôi trích dẫn câu chuyện bất chấp bản chất ngụy tác của nó chỉ đơn giản vì, nhìn từ góc độ khoa học, xem ra cách duy nhất ta có thể xoay xở để kéo dài tuổi thọ là thông qua hạn chế calori - điều này xem ra giúp chữa lành nhiều chứng bệnh nhân sinh và kéo dài tuổi thọ của động vật thí nghiệm. Nhưng như ta sẽ thấy trong phần sau, việc hạn chế này không cần thực hiện lâu dài, chỉ như những kỳ ăn chay thi thoảng (và đầy thống khổ).

Ta biết ta có thể chữa lành nhiều ca bệnh tiểu đường thông qua áp dụng chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt theo kiểu chết đói, gây sốc cho hệ thống; thật ra, người ta đã biết đến cơ chế này như một trải nghiệm thực tế trong một thời gian dài từ khi có các viện an dưỡng để điều trị bằng cách bỏ đói ở Siberia.

Người ta đã chứng minh rằng nhiều người cải thiện sức khỏe nhờ từ bỏ những sản phẩm vốn không tồn tại dưới thời tổ tiên ta: đường và các carbohydrate khác dưới dạng phi tự nhiên, các sản phẩm lúa mì (những người có bệnh ở khoang bụng, nhưng gần như mọi người chúng ta đều kém thích nghi với khoản mục bổ sung mới trong chế độ ăn kiêng này), sữa và các sản phẩm từ bò (đối với những người không phải gốc Bắc Âu, những người không dung nạp lactose), soda (loại ăn kiêng và loại bình thường), rượu vang (đối với những người gốc châu Á, không có truyền thống uống rượu này), viên vitamin, thực phẩm chức năng, bác sĩ gia đình, thuốc nhức đầu và các loại thuốc giảm đau khác. Việc dựa vào thuốc giảm đau khuyến khích con người tránh giải quyết nguyên nhân con đau đầu bằng cách thử nghiệm và sửa sai, vốn có thể làm mất ngủ, căng cổ, hay những yếu tố căng thẳng khác; nó khiến họ tiếp tục gây hại cho mình theo kiểu gọt chân cho vừa giày (chiếc giường Procrustes). Nhưng ta không cần đi quá xa, chỉ cần bắt đầu từ bỏ những thứ thuốc mà bác sĩ cho bạn, hay tốt hơn, nên từ bỏ bác sĩ, như Oliver Wendell Holmes từng nói: “Phải chi mọi thứ thuốc đều mang vứt ra biển, hẳn sẽ tốt hơn cho loài người nhưng sẽ khốn khổ cho loài cá.” Cha tôi, một bác sĩ chuyên khoa ung thư (đồng thời cũng nghiên cứu nhân loại học) đã nuôi dạy tôi theo câu cách ngôn đó (than ôi, tuy không hoàn toàn tuân theo nó trên thực tế, nhưng ông trích dẫn nó cũng đủ nhiều).

Về phần tôi, tôi không ăn những loại trái cây vốn không tồn tại ở đông Địa Trung Hải cổ đại (tôi sử dụng từ “tôi” ở đây nhằm cho thấy rằng tôi không khái quát hóa cho những người khác). Tôi tránh những loại trái cây nào không có một cái tên Hy Lạp hay Hebrew cổ đại, như xoài, đu đủ, thậm chí cam. Cam dường như tương đương với kẹo thời hậu Trung cổ; cam không tồn tại ở Địa Trung Hải cổ đại. Dường như người Bồ Đào Nha đã tìm thấy một loại cây họ chanh ngọt ở Goa hay nơi nào khác rồi bắt đầu trồng nó cho quả ngày càng ngọt hơn, như các công ty bánh kẹo hiện đại. Thậm chí những quả táo chúng ta thấy bày bán ở cửa hàng cũng được xem là đáng ngờ: những quả táo nguyên thủy không có vị ngọt và các công ty hoa quả đã lai tạo chúng cho vị ngọt tối đa - những quả táo núi thời tho ấu của tôi có vị chua, cứng giòn, và nhỏ hơn nhiều so với giống táo sáng bóng trong các cửa hàng ở Mỹ được cho là giúp tránh xa bác sĩ.

Về thức uống, nguyên tắc của tôi là không uống những thứ không tồn tại qua ít nhất một nghìn năm, nên sự phù hợp của chúng đã được kiểm chứng. Tôi chỉ uống rượu vang, nước và cà phê. Không uống thức uống nhẹ. Có lẽ thức uống độc hại khả dĩ lọc lừa nhất là nước cam người ta khuyên những kẻ ngây thơ tội nghiệp uống vào bữa điểm tâm, bằng hoạt động tiếp thị, ta thuyết phục họ rằng đó là thức uống “lành mạnh”. (Ngoài nhận định rằng giống cam chanh tổ tiên ta ăn thì không ngọt, ông bà ta cũng không bao giờ tiêu thụ carbohydrate mà không kèm theo những lượng chất xơ rất lớn. Ăn cam hay ăn táo không tương đương với việc uống nước cam hay nước táo ép.) Từ những ví dụ này, tôi suy ra nguyên tắc là những gì gọi là “lành mạnh” nói chung không lành mạnh, cũng như các mạng “xã hội” thì phản xã hội, và nền kinh tế dựa vào “tri thức” thường… thiếu hiểu biết.

Tôi bổ sung thêm rằng, theo kinh nghiệm của mình, sức khỏe cá nhân tôi tăng vọt khi tôi loại bỏ những yếu tố gây bứt rứt khó chịu: những tờ báo buổi sáng (chỉ cần đề cập đến tên những nhà báo fragilista Thomas Friedman hay Paul Krugman là có thể dẫn đến những cơn giận dữ bùng nổ của tôi), những vị sếp, việc đi lại hàng ngày, máy điều hòa nhiệt độ (nhưng không phải lò sưởi), tivi, thư điện tử từ các nhà làm phim tài liệu, các dự báo kinh tế, tin tức về thị trường cổ phiếu, các cỗ máy tập thể hình “rèn luyện sức khỏe”, và nhiều thứ nữa.130

Nỗi khổ do tiền bạc gây ra

Để tìm hiểu việc bác bỏ thẳng thừng khả năng cải thiện nghịch cảnh trong cách thức mưu cầu phồn vinh, hãy nghĩ rằng những người công nhân xây dựng với một ổ bánh mì kẹp thịt và phô mai xem ra có thể hạnh phúc hơn các doanh nhân với một bữa ăn đẳng cấp ba sao Michelin. Người ta thường ăn ngon miệng hơn sau những công việc khó nhọc. Người La Mã có một mối quan hệ lạ kỳ với sự phồn vinh: bất kể thứ gì “mềm yếu” hay “nhẹ nhàng” đều bị xem là tiêu cực. Tai tiếng của họ về thời kỳ suy tàn đã bị phóng đại - lịch sử ưa thích sự khủng khiếp; người La Mã không thích tiện nghi và am hiểu tác dụng phụ của sự tiện nghi thoải mái. Người Xêmít cũng vậy, có sự phân chia giữa các bộ tộc hoang mạc và người đô thị; trong đó thị dân chất chứa nỗi niềm hoài cổ xuyên thế hệ về cội nguồn và bản sắc văn hóa của họ; nên họ có một nền văn hóa của hoang mạc, tràn ngập thi ca, tinh thần thượng võ, trầm ngâm tư lự, những kịch bản khốc liệt, và lối sống thanh đạm, âm thầm phản kháng sự tiện nghi thoải mái của chốn thị thành, gắn liền với sự suy đồi đạo đức và vật chất, những chuyện ngồi lê đôi mách và sự suy tàn. Thị dân tìm đến chốn hoang mạc để thanh tịnh và rửa tội, như chúa Jesus đã làm suốt 40 ngày ở sa mạc Judean, hay thánh Mark ở sa mạc Ai Cập, bắt đầu cho truyền thống khổ hạnh. Thời xưa ở Levant từng có một phong trào vào sống trong các tu viện, có lẽ ấn tượng nhất là thánh Simeon, người trải qua 40 năm trên đỉnh một cây cột ở bắc Syria. Người Ảrập duy trì truyền thống này, từ bỏ của cải để tìm đến những chốn tĩnh lặng, khô cằn, hoang vắng. Và lẽ dĩ nhiên, với sự chay tịnh bắt buộc mà ta sẽ nói đến sau.

Lưu ý rằng hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què trong y học là hậu quả của sự giàu có và tinh vi, chứ không phải do đói nghèo và chất phác, và lẽ dĩ nhiên, là sản phẩm của tri thức cục bộ chứ không phải thiếu hiểu biết. Vì thế, ý tưởng từ bỏ của cải tìm đến chốn hoang sơ có thể khá hiệu nghiệm như một chiến lược loại trừ theo kiểu phản đề. Gần như không ai nghĩ rằng tiền bạc cũng có tác hại riêng của nó, và sự thoát ly của cải có thể giúp đơn giản hóa cuộc sống và mang lại lợi ích to lớn dưới hình thức những yếu tố căng thẳng lành mạnh. Vì thế, nghèo hơn chưa chắc đã hoàn toàn thiếu thốn lợi ích nếu người ta làm đúng. Ta cần có nền văn minh hiện đại vì nhiều thứ, như hệ thống luật pháp và phẫu thuật cấp cứu chẳng hạn. Nhưng thử hình dung bối cảnh phủ định, phản đề, ta có thể khấm khá hơn khi cuộc sống trở nên khắc nghiệt hơn: không có kem chống nắng, không có kính mát nếu bạn có mắt nâu, không có máy điều hòa nhiệt độ, không có nước cam (chỉ có nước), không có những bề mặt trơn láng, không có thức uống nhẹ, không có những viên thuốc phức tạp, không có âm nhạc ồn ào, không có thang máy, không có máy ép hoa quả, không có… thôi tôi dừng đây.

Khi tôi xem ảnh của bạn tôi, bố già của phong cách sống theo tổ tiên Paleo, Art De Vany,131 người cực kỳ tráng kiện ở tuổi 70 (tráng kiện hơn nhiều so với hầu hết mọi người trẻ hơn ông 30 tuổi), và ảnh những tỉ phú có vóc dáng quả lê như Rupert Murdoch hay Warren Buffett hay những người khác cùng độ tuổi, tôi bất chợt nảy ra ý tưởng sau. Nếu tài sản đích thực trên đời này bao gồm những giấc ngủ không muộn phiền, ý thức minh mẫn, lòng biết ơn tương ái, không đố kỵ, sự ngon miệng, sức mạnh cơ bắp, năng lượng thể chất, những tiếng cười thường xuyên, không có những bữa ăn một mình, không có những lớp tập thể hình, có chút công việc thể chất (hay thú vui), nhu động ruột tốt, không có những phòng họp, và có những nỗi ngạc nhiên thường kỳ, thì đó là sự loại trừ (loại trừ hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què).

Tôn giáo và chủ nghĩa can thiệp ngây thơ

Tôn giáo có những mục đích vô hình vượt lên trên những gì được xác định bỏi những người theo thuyết khoa học vạn năng với tư duy trần tục; một trong những mục đích đó là bảo vệ chúng ta trước thuyết khoa học vạn năng, nghĩa là bảo vệ ta trước chính những người đó. Ta có thể thấy qua các bản khắc (trên bia mộ) lời tạ ơn của những người xây dựng nguồn nước hay đền đài tôn thờ những vị thần yêu thích của họ sau khi thần thánh giúp họ chiến thắng trong những trường hợp mà các bác sĩ đã bó tay. Quả thật, ta hiếm khi xem xét lợi ích của tôn giáo trong việc hạn chế định kiến can thiệp và hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què: trong nhiều trường hợp (những căn bệnh nhẹ), bất kỳ thứ gì giúp bạn rời xa bác sĩ và không làm gì cả (qua đó cho Tự Nhiên cơ hội phát huy tác dụng của nó) sẽ mang lại kết quả có lợi. Vì thế, việc đi nhà thờ (hay đền thờ thần Apollo) chắc chắn sẽ có ích trong những ca bệnh nhẹ - chẳng hạn những trường hợp không bị thương tích, chỉ có sự khó chịu nhẹ, chứ không phải bị thương sau một tai nạn ô tô, những tình huống mà rủi ro lợn lành chữa thành lợn què sẽ cao hơn so với lợi ích của việc điều trị, và nhắc lại một lần nữa, đó là những tình huống có hiệu ứng lồi âm. Ta cũng có nhiều di khảo ở các đền thờ dưới dạng như thần Apollo cứu giúp con, các bác sĩ đã cố gắng giết con - thông thường bệnh nhân đó hiến tặng của cải cho đền thờ.

Và xem ra đối với tôi, trong sâu thẳm bản chất con người, họ biết khi nào cần tìm nguồn khuây khỏa nơi tôn giáo, và khi nào cần chuyển sang khoa học.132

NẾU LÀ NGÀY THỨ TƯ, TÔI PHẢI ĂN CHAY

Đôi khi, chuẩn bị cho một bữa ăn hội nghị, những người tổ chức gửi đến tôi một biểu mẫu hỏi xem tôi có yêu cầu gì về chế độ ăn uống không. Có người còn làm điều này trước sáu tháng. Trước đây, tôi thường đáp, tôi tránh ăn thịt chó, mèo, chuột và người (nhất là các nhà kinh tế học). Ngày nay, sau quá trình tiến hóa cá nhân, tôi thật sự cần biết đó là vào ngày nào trong tuần để xem mình có ăn chay không, hay có thể ăn những miếng bít tết dày cỡ khủng. Làm thế nào? Chỉ cần nhìn vào lịch Giáo hội chính thống Hy Lạp và xem những ngày ăn chay bắt buộc. Điều này gây bối rối cho việc phân loại thành phần tham dự hội nghị của những nhà tổ chức ngây thơ không biết nên xếp tôi vào “nhóm Paleo” hay “nhóm ăn chay.” (Người “Paleo” là những người ăn thịt, cố gắng bắt chước chế độ ăn giàu thịt, giàu mỡ động vật của những người săn bắn hái lượm tiền sử; người ăn chay là người không ăn sản phẩm động vật, ngay cả bơ). Ta sẽ tìm hiểu thêm tại sao đó là một sai lầm duy lý ngây thơ khi xếp người ta vào một loại nào trừ khi chỉ xếp tạm thời (ngoại trừ vì lý do tinh thần hay tín ngưỡng).

Tôi tin vào các quy tắc suy nghiệm của tôn giáo và nhắm mắt tuân theo các quy tắc đó (là một người Chính thống giáo, cũng có khi tôi gian lận, như một phần của cuộc chơi). Ngoài những yếu tố khác, vai trò của tôn giáo là khống chế những thiệt hại do sự dồi dào sung túc gây ra - ăn chay làm cho bạn mất đi ý thức về quyền được hành động. Nhưng có những khía cạnh tinh tế hơn.

Hiệu ứng lồi và dinh dưỡng ngẫu nhiên

Từ thảo luận về việc đặt ống thở ta nhớ lại ứng dụng thực tế này của bất đẳng thức Jensen: tính không đều có lợi trong một số trường hợp; sự đều đặn nhiều khi là trở ngại. Trong những lĩnh vực áp dụng bất đẳng thức Jensen, y khoa có thể có lợi khi áp dụng tính không đều.

Có lẽ điều ta cần loại bỏ nhất là một vài bữa ăn một cách ngẫu nhiên, hay ít nhất ta nên tránh sự đều đặn trong việc tiêu thụ thực phẩm. Ta thường mắc sai lầm do bỏ qua tính phi tuyến trên hai phương diện: thành phần thực phẩm và tần suất tiêu thụ thực phẩm.

Vấn đề với thành phần thực phẩm là như sau. Con người chúng ta được cho là loài ăn tạp, so với các động vật hữu nhũ ăn chuyên hơn, như bò và voi (cả hai đều ăn thực vật) hay sư tử (thú ăn mồi; và thường là loài ăn cây cỏ). Nhưng khả năng ăn tạp hình thành nhằm đáp ứng trước môi trường biến thiên đa dạng, trong đó nguồn cung thực phẩm có tính ngẫu nhiên không hoạch định trước; việc ăn chuyên là phản ứng trước một môi trường rất ổn định, không có những thay đổi bất ngờ, hay sẵn có nhiều phương thức phản ứng trước một môi trường biến đổi. Sự đa dạng hóa chức năng phải hình thành nhằm đáp ứng trước sự biến thiên, và là sự biến thiên của một cơ cấu nhất định.

Lưu ý sự tinh tế trong thế giới động vật: thức ăn của bò và các động vật ăn cỏ khác phụ thuộc vào tính ngẫu nhiên ít hơn nhiều so với thức ăn của sư tử; chúng ăn đều đặn nhưng cần làm việc cực kỳ chăm chỉ để chuyển hóa toàn bộ chất dinh dưỡng này, phải mất nhiều giờ trong một ngày chỉ để ăn. Ây là còn chưa kể đến nỗi chán ngán của việc đứng ăn rau cỏ. Mặt khác, sư tử phải dựa vào may rủi nhiều hơn; nó chỉ có một tỷ lệ thành công nhỏ trong những lần săn mồi, chưa tới 20 phần trăm, nhưng khi ăn, chất dinh dưỡng này hấp thu một cách nhanh chóng và dễ dàng nhờ vào công việc tiêu hóa khó nhọc và chán ngán trước đó của con mồi. Vì thế, ta có nguyên tắc sau đây suy ra từ cơ cấu ngẫu nhiên của môi trường: khi ta là động vật ăn cỏ, ta ăn một cách đều đặn; nhưng khi ta là thú săn mồi, ta ăn uống ngẫu nhiên hơn. Vì thế, protein nhất thiết được tiêu thụ một cách ngẫu nhiên vì những lý do thống kê.

Như vậy, nếu bạn đồng ý rằng ta cần kết hợp dưỡng chất một cách “cân bằng”, thật là sai lầm khi giả định ngay lập tức rằng ta cần sự cân bằng đó trong mọi bữa ăn thay vì làm như thế lần lượt. Giả định rằng bình quân ta cần những lượng dưỡng chất xác định, ví dụ như một lượng carbohydrate, protein và chất béo nhất định.133 Có sự khác biệt to lớn giữa việc ăn chúng vào cùng một lúc trong mọi bữa ăn, với bít tết cổ điển, rau củ, rồi đến trái cây, hay là ăn tách riêng lần lượt.

Tại sao? Vì sự thiếu thốn là một yếu tố căng thẳng - và ta biết các yếu tố căng thẳng có tác dụng như thế nào khi giúp cơ thể ta hồi phục thỏa đáng. Một lần nữa, hiệu ứng lồi phát huy tác dụng ở đây: hấp thu ba lần protein trong một ngày và không có protein trong hai ngày tiếp theo chắc chắn sẽ không tương đương về mặt sinh học với việc hấp thu vừa phải “đều đặn” nếu phản ứng chuyển hóa của cơ thể ta có tính phi tuyến. Nó sẽ có lợi, chí ít đây là cách thiết kế của cơ thể ta.

Tôi phỏng đoán, thật ra còn hơn cả phỏng đoán, tôi tin rằng (một kết quả tất yếu của tính phi tuyến) chúng ta có khả năng cải thiện nghịch cảnh khi phản ứng trước tính ngẫu nhiên trong việc cung cấp thực phẩm và thành phần thực phẩm, chí ít trong một phạm vi nào đó, hay một số ngày nhất định.

Việc chối bỏ dứt khoát độ lệch lồi thể hiện qua lý thuyết về lợi ích của cái gọi là chế độ ăn kiêng Cretan (hay Địa Trung Hải), châm ngòi cho sự thay đổi thói quen ăn uống của tầng lớp khai sáng Hoa Kỳ, trong đó họ từ bỏ bít tết và khoai tây để chuyển sang cá nướng với rau củ và phô mai mặn. Chuyện là như sau. Có ai đó khảo sát tuổi thọ của người Cretan, liệt kê những gì họ ăn, rồi suy luận một cách ngây ngô rằng họ sống lâu hơn là do loại thực phẩm họ dùng. Điều đó có thể đúng, nhưng tác dụng bậc hai (sự biến thiên trong lịch ăn uống) có thể có vai trò quan trọng, điều mà những nhà nghiên cứu máy móc không chú ý tới. Quả thật, phải mất một thời gian người ta mới lưu ý tới điều này: Chính thống giáo Hy Lạp có gần hai trăm ngày ăn chay mỗi năm, tùy theo tính nghiêm khắc của văn hóa địa phương; và đó là những ngày chay vô cùng thống khổ.

Vâng, những ngày chay vô cùng thống khổ, như tôi đang cảm thấy hiện giờ. Vì tôi đang viết những dòng chữ này trong Kỳ chay chính thống, gồm 40 ngày gần như không ăn sản phẩm động vật, không bánh kẹo, và đối với những người nghiêm ngặt, còn không có cả dầu ôliu. Vì có nhiều cấp độ, tôi cố gắng áp dụng cấp độ bán nghiêm ngặt, và cuộc sống chẳng phải dễ dàng gì. Tôi vừa trải qua kỳ nghỉ cuối tuần dài ở Amioun, ngôi làng tổ tiên ở bắc Libăng, trong vùng Chính thống giáo Hy Lạp được gọi là thung lũng Koura. Ở đó những món ăn “giả mặn” truyền thống đã trở nên hoàn hảo với óc tưởng tượng phong phú: Món thịt cừu Levant (giả) được làm bằng hoa cỏ và đậu thay cho thịt, thịt viên làm bằng những viên bánh thánh không men nhỏ màu nâu trong súp đậu lăng. Điều ấn tượng là, tuy cá bị cấm, nhưng tôm cua nghêu sò ốc hến được chấp nhận, có lẽ vì chúng không bị xem là những món ăn xa xỉ. Tình trạng thiếu một số dưỡng chất trong chế độ ăn kiêng hàng ngày của tôi sẽ được đền bù toàn bộ vào những ngày khác. Tôi sẽ bù đắp cho việc thiếu hụt những gì mà các nhà nghiên cứu gọi là protein của cá vào những ngày tôi không ăn chay, và lẽ dĩ nhiên tôi sẽ ngốn ngấu thịt cừu vào ngày Lễ Phục sinh, rồi chén những tảng thịt đỏ béo ngậy những ngày sau đó. Tôi mo về món bít tết khổng lồ được phục vụ trong những nhà hàng thân quen của Tony Béo.

Và kỳ chay tịnh là một yếu tố căng thẳng giúp tạo ra khả năng cải thiện nghịch cảnh, vì nó làm cho những món ăn ta thèm khát trở nên ngon miệng hơn và có thể tạo ra trạng thái phấn khích trong hệ thống. Vi phạm kỳ chay gây ra cảm giác khó chịu ngược lại.134

Làm sao ăn thịt chính mình

Tôi tự hỏi làm sao con người vẫn đồng ý rằng tình trạng căng thẳng do rèn luyện là tốt cho chúng ta, nhưng không áp dụng khái niệm đó cho việc tiết chế ẩm thực vốn có cùng tác dụng như vậy. Nhưng các nhà khoa học đang trong quá trình tìm hiểu tác dụng của việc tiết chế ẩm thực định kỳ. Bằng cách nào đó, bằng chứng cho thấy rằng ta trở nên sắc sảo hơn và tráng kiện hơn khi phản ứng trước sự căng thẳng của điều kiện hạn chế thực phẩm.

Ta có thể xem xét các nghiên cứu sinh học, không phải để khái quát hóa hay sử dụng theo ý nghĩa duy lý mà để xác minh sự tồn tại của phản ứng con người trước con đói: các cơ chế sinh học được kích hoạt thông qua tiết chế ẩm thực. Và thực nghiệm trên các nhóm đối tượng cho thấy tác dụng tích cực của cơn đói - hay việc tiết chế một nhóm thực phẩm - đối với cơ thể con người. Các nhà nghiên cứu giải thích cơ chế tự tiêu (autophagy: ăn chính mình): khi bị tước mất nguồn thực phẩm bên ngoài, lý thuyết cho rằng các tế bào của bạn bắt đầu tự ăn mình, hay phá vỡ các protein rồi kết hợp lại các amino acid để tạo ra nguyên liệu xây dựng các tế bào khác. Các nhà nghiên cứu (hiện nay) cho rằng tác dụng “làm sạch” của hiện tượng tự tiêu là mấu chốt của sự trường thọ - tuy ý tưởng về tự nhiên của tôi vẫn không thấu được các lý thuyết của họ: như tôi sẽ trình bày dưới đây, thỉnh thoảng bị thiếu đói sẽ mang lại lợi ích về sức khỏe, và chỉ cần có thế.

Phản ứng trước cơn đói, hay khả năng cải thiện nghịch cảnh của chúng ta, đã bị đánh giá quá thấp. Chúng ta thường bảo mọi người hãy ăn một bữa điểm tâm thịnh soạn để có thể đương đầu với công việc khó nhọc của cả ngày. Và đó không chỉ là một lý thuyết mới của các nhà dinh dưỡng học mù quáng trên phương diện thực nghiệm của thời hiện đại - tôi rất ấn tượng với một đoạn đối thoại trong tiểu thuyết bất hủ của Stendhal Đỏ và đen (Le rouge et le noir), trong đó người ta nói với vai chính Julien Sorel “công việc cả ngày sẽ vất vả và kéo dài, nên ta hãy củng cố sức mạnh bằng một bữa ăn sáng” (mà trong tiếng Pháp thời đó gọi là “bữa trưa thứ nhất”). Nhưng thật ra, cái ý tưởng xem bữa sáng là một bữa ăn chính với ngũ cốc dinh dưỡng và các món khác đã chứng tỏ là có hại cho con người - tôi tự hỏi tại sao phải mất một thời gian dài đến thế người ta mới nhận thấy cần phải kiểm chứng cái ý tưởng phi tự nhiên đó; hơn nữa, việc kiểm chứng cho thấy rằng bữa điểm tâm dẫn đến tổn hại hay ít ra cũng không có lợi, trừ khi trước đó người ta đã làm việc để có bữa ăn này.

Nên nhớ, cơ thể ta không được thiết kế để nhận thức ăn có sẵn từ người khác trao cho. Trong tự nhiên, ta cần hao tốn năng lượng mới có cái ăn. Sư tử phải săn mồi để ăn, chứ không phải ăn trước rồi mới đi săn cho vui. Trao cho con người thực phẩm trước khi họ vận dụng năng lượng chắc chắn sẽ làm rối loạn quá trình phát tín hiệu của họ. Và ta có nhiều bằng chứng cho thấy những cơ thể sống bị tước mất lương thực theo từng đợt (và chỉ từng đợt) sẽ dẫn đến kết quả có lợi đối với nhiều chức năng - ví dụ, Valter Longo135 nhận thấy rằng tù nhân trong các trại tập trung đỡ đau ốm hơn trong giai đoạn hạn chế lương thực ban đầu, rồi về sau mới suy yếu. Ông thử nghiệm và nhận thấy những con chuột trong giai đoạn nhịn đói ban đầu có thể chịu đựng những liều hóa trị cao hơn mà không có những tác dụng phụ rõ rệt. Các nhà khoa học cho rằng nhịn đói dẫn đến phát triển một loại gene mã hóa thông tin về một loại protein gọi là SIRT, SIRT1, hay sirtuin, giúp trường thọ và các tác dụng khác. Khả năng cải thiện nghịch cảnh của con người tự bộc lộ trong quá trình chỉnh đốn lại các loại gene nhằm đáp ứng trước sự thiếu đói.

Vì thế, một lần nữa, tôn giáo với các nghi thức chay tịnh mang lại cho ta nhiều giải đáp hơn so với giả định của những người chỉ xem xét tôn giáo theo nghĩa hẹp. Thật ra, điều mà các nghi thức chay tịnh này làm là cố gắng mang tính phi tuyến vào việc ăn uống nhằm phù hợp với các thuộc tính sinh học. Phần phụ lục sẽ trình bày bằng đồ thị mối quan hệ tiêu chuẩn giữa phản ứng và liều lượng trong sinh học: một chút thức ăn nào đó xem ra có hiệu ứng lồi (bất kể có lợi hay có hại); tiếp tục tăng thêm thức ăn thì tác dụng sẽ suy yếu đi. Rõ ràng ở mức cận trên, việc tăng thêm liều lượng sẽ không có tác dụng nữa vì đã đạt đến trạng thái bão hòa.

Không còn đi bộ

Lại là một nguồn gây hại khác do chủ nghĩa duy lý ngây tho. Hệt như suốt một thời gian dài con người cố gắng rút ngắn giấc ngủ vì nó dường như vô ích đối với logic người đời, nhiều người nghĩ rằng đi bộ cũng vô ích, nên họ sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới (ô tô, xe đạp vv…) và rồi tập thể dục ở phòng tập. Và khi đi bộ, họ áp dụng việc đi bộ nhanh, đôi khi với những vật nặng trong tay. Họ không nhận ra rằng vì những lý do vẫn còn mù mờ với họ, việc đi bộ không gắng sức, với nhịp bước chậm dưới mức căng thẳng, có thể có lợi hay cần thiết đối với con người, theo phỏng đoán của tôi, biết đâu cũng cần thiết như giấc ngủ, mà tới một lúc nào đó, người ta không thể hợp lý hóa và cố gắng cắt giảm trên tinh thần hiện đại. Vào lúc này, việc đi bộ không gắng sức tuy không chắc có cần thiết như giấc ngủ hay không, nhưng vì tổ tiên ta đã dành nhiều thời gian để đi bộ (và ngủ) mãi cho đến khi ô tô ra đời, nên tôi cố gắng tuân theo logic đó, ngay cả trước khi một tờ tạp chí y khoa nào đó bắt kịp ý tưởng này và tạo ra những thứ mà các tạp chí y khoa gọi là “bằng chứng”.

Tôi muốn sống mãi

Tôi thường nghe người ta nói làm thế nào để sống lâu hơn, giàu có hơn, và dĩ nhiên, chất đầy hơn các mặt hàng điện tử. Chúng ta không phải là thế hệ đầu tiên tin rằng điều tồi tệ nhất có khả năng xảy ra với ta là cái chết. Nhưng đối với người cổ đại, kết quả khả dĩ tệ nhất không phải là cái chết mà là cái chết nhục nhã, hay ngay cả một cái chết bình thường. Đối với một anh hùng cổ đại, chết trong nhà dưỡng lão với một cô y tá thô lỗ và các ống thở chằng chịt cắm vào mũi không phải là đoạn kết hấp dẫn của cuộc đòi.

Và lẽ dĩ nhiên, chúng ta có ảo tưởng thời hiện đại rằng ta nên sống càng lâu càng tốt. Cứ như thể mỗi người chúng ta đều là một sản phẩm sau cùng. Ý tưởng về “cái tôi” như một đơn vị này có thể bắt nguồn từ thời đại Khai sáng. Và cùng với nó là tính mỏng manh.

Trước đó, chúng ta từng là một phần của tập thể hiện tại và dòng dõi tương lai. Cả các thế hệ tương lai và hiện tại đều khai thác tính mỏng manh của cá nhân để củng cố tập thể. Con người từng hy sinh cá nhân, chấp nhận tử vì đạo, hiến thân cho cả nhóm, và tự hào vì hành động của mình; họ tích cực hành động vì các thế hệ tương lai.

Đáng buồn thay, khi tôi đang viết những dòng chữ này, hệ thống kinh tế đang chất lên vai các thế hệ tương lai nợ nần của chính phủ, hủy hoại tài nguyên, và làm tàn lụi môi trường để thỏa mãn yêu cầu của các nhà phân tích chứng khoán và hoạt động ngân hàng (một lần nữa, chúng ta không thể tách biệt tính mỏng manh với luân thường đạo lý).

Như thảo luận trong chương 4, gene có khả năng cải thiện nghịch cảnh vì nó là thông tin, nhưng vật mang gene lại mỏng manh, và cần phải mỏng manh để gene ngày càng mạnh mẽ hơn. Chúng ta sống để tạo ra thông tin, hay cải thiện nhờ vào thông tin. Nietzsche chơi chữ bằng tiếng Latinh aut liberi, aut libri - trẻ em hay sách đều mang theo thông tin lưu lại qua nhiều thế kỷ.

Tôi đang đọc quyển sách tuyệt vời của John Gray Nhiệm vụ bất tử (The Immortalization Commission) nói về nỗ lực sử dụng khoa học để đạt được sự bất tử trong một thế giới hậu tôn giáo. Tôi cảm thấy một nỗi ghê tởm sâu sắc, như tổ tiên ta chắc cũng thế, trước nỗ lực của những nhà tư tưởng kỳ quặc (như Ray Kurzweil136) tin vào tiềm năng sống mãi của con người. Lưu ý rằng nếu tôi phải đi tìm một khắc tinh của mình, hay người có những ý tưởng và phong cách sống hoàn toàn trái ngược với tôi trên hành tinh này, chắc kẻ đó là Ray Kurzweil. Vấn đề không chỉ là chứng cuồng hiện đại. Trong khi tôi đề nghị loại bỏ mọi yếu tố chướng tai gai mắt trong chế độ ăn uống (và cuộc sống) của con người, công việc của gã là cộng thêm vào, thổi phồng lên đến 200 viên thuốc hàng ngày. Ngoài ra, những nỗ lực nhằm đạt được sự bất tử còn gây cho tôi nỗi khiếp sợ sâu sắc về mặt đạo lý.

Cũng chính nỗi ghê tởm sâu sắc này đã tràn ngập trong tôi khi tôi nhìn thấy một lão già 82 tuổi giàu sụ vây quanh là khoảng 20 “em yêu”, những tình nhân son trẻ của lão (thường là người Nga hay Ukraina). Tôi không muốn sống mãi như một con vật ốm yếu. Nên nhớ rằng khả năng cải thiện nghịch cảnh của hệ thống hình thành từ cái chết của các thành phần cấu thành trong hệ thống - và tôi là một bộ phận trong một tập thể đông đúc được gọi là loài người. Tôi tồn tại để nhận lấy một cái chết hào hùng vì tập thể, để sinh ra con cháu (chuẩn bị và lo liệu cho chúng), hay để viết những quyển sách; thông tin của tôi, gene di truyền của tôi, khả năng cải thiện nghịch cảnh trong tôi, sẽ là những thứ tìm kiếm sự bất tử, chứ không phải tôi.

Rồi nói lời chia tay trong một tang lễ trang nghiêm ở St. Sergius (Mar Sarikis) vùng Amioun, và như người Pháp nói, place aux autres - nhường chỗ cho người khác.

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.