Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thuyết Minh Bổ Sung, Đôi Điều Suy Nghĩ Cuối Sách, Và Tài Liệu Đọc Thêm
Thuyết Minh Bổ Sung, Đôi Điều Suy Nghĩ Cuối Sách, Và Tài Liệu Đọc Thêm

❊ ❊ ❊

Phần này bao gồm các tài liệu đọc thêm và những ý tưởng nảy sinh sau khi hoàn thành quyển sách, như liệu Chúa Trời được các nhà thần học xem là mạnh mẽ hay có khả năng cải thiện nghịch cảnh, hay lịch sử đo lường có phải là bài toán của kẻ ngốc trong lĩnh vực xác suất. về tài liệu đọc thêm, tôi tránh nhắc lại những tài liệu đã đề cập trong những quyển sách trước, nhất là những tài liệu liên quan đến vấn đề quy nạp trong triết học, vấn đề Thiên Nga Đen, và triết học về tính bất định. Tôi xoay xở để chôn giấu đôi chút toán học trong phần chính của quyển sách mà không bị Alexix K., nhà biên tập Luân Đôn vốn sợ toán (nhất là định nghĩa về tính mỏng manh trong tập V và phần suy ra tóm tắt về “nhỏ là đẹp”) bắt giò. Lưu ý rằng chúng ta có các tài liệu thảo luận toán học chuyên sâu hơn trên mạng.

Ẩn dật: Sau cuốn Thiên Nga Đen, tôi đã trải qua 1.150 ngày ẩn dật, một trạng thái êm đềm hơn 300 ngày mỗi năm trong sự tiếp xúc tới thiểu với thế giới bên ngoài - cộng với 20 năm suy ngẫm về vấn đề phi tuyến tính và sự liên lụy phi tuyến tính. vì thế, tôi phần nào cảm thấy mất kiên nhẫn với tri thức có tổ chức và giả tạo (cosmetic knowledge). Khoa học và tri thức là lập luận chặt chẽ sâu xa và thuyết phục dẫn đến kết luận, chứ không phải là chủ nghĩa kinh nghiệm ngây thơ (thông qua thuận đề, khẳng định) hay ngớ ngẩn vụng về, đó là lý do khiến tôi bác bỏ ý tưởng mang tính chất báo chí hàng hóa (và tính chất cờ bạc cao độ) là dùng từ “tài liệu tham khảo”, thay vào đó, tôi dùng từ “tài liệu đọc thêm”. Các kết quả của tôi không và sẽ không phụ thuộc vào một bài báo hay kết quả nào, ngoại trừ việc vạch trần thông qua phản đề - chúng có tính minh họa.

Những kẻ bịp bợm: Trong bài báo “góc tọa độ thứ tư” đăng trên tạp chí International Journal of Forecasting (một trong những tài liệu hỗ trợ cho cuốn Thiên Nga Đen đã được đưa lên mạng) tôi chứng minh bằng thực nghiệm thông qua sử dụng toàn bộ dữ liệu kinh tế có sẵn rằng các biến cố đuôi béo vừa nghiêm trọng vừa không thể dò tìm, vì thế, mọi phương pháp với các “trị bình phương” đều không có tác dụng với các biến số kinh tế xã hội: hồi quy, độ lệch chuẩn, tương quan vv… (về mặt toán học, có 80% độ nhọn (kurtosis) trong 10.000 mảng dữ liệu có thể xuất phát từ một quan sát duy nhất, có nghĩa là mọi số đo về đuôi béo đều chỉ là sai số mẫu). Đây là một phát biểu phản đề rất vững chắc: nó có nghĩa là ta không thể sử dụng các ma trận đồng phương sai, chúng không đáng tin cậy và không hàm chứa thông tin. Thật ra, chỉ cần chấp nhận đuôi béo là có thể đưa ta đến kết quả như thế - không cần chủ nghĩa kinh nghiệm; thế nhưng tôi vẫn xử lý dữ liệu. Bây giờ, trong bất kỳ một ngành khoa học trung thực nào người ta cũng sẽ hỏi: “Chúng ta làm gì với những bằng chứng như thế?” - bộ môn kinh tế học và tài chính chỉ đơn thuần làm ngo. Một lũ bịp bợm theo bất kỳ tiêu chuẩn khoa học và chuẩn mực đạo lý nào. Nhiều người đoạt giải Nobel (Engle, Merton, Scholes, Markowitz, Miller, Samuelson, Sharpe và vài người nữa) có kết quả nghiên cứu dựa vào các giả định chính như vậy, bằng không toàn bộ các nghiên cứu của họ sẽ bốc hoi. Những kẻ bịp bợm (và các fragilista) làm ăn khấm khá trong các tổ chức. Đó là vấn đề đạo lý; xem lại tập VII.

Vì mục đích của chúng ta ở đây, tôi bỏ qua bất kỳ bài báo kinh tế học nào sử dụng phép hồi quy trong các lĩnh vực đuôi béo - chỉ là những lời nói khoác lác - ngoại trừ một vài trường hợp, như trong nghiên cứu của Pritchet (2001), trong đó kết quả nghiên cứu không chịu tác động của đuôi béo.

PHẦN MỞ ĐẦU VÀ TẬP I: Khả năng cải thiện nghịch cảnh: Dẫn nhập

Khả năng cải thiện nghịch cảnh và tính phức hợp: Bar-Yam và Epstein (2004) định nghĩa độ nhạy là khả năng phản ứng mạnh trước một kích thích nhỏ, và tính mạnh mẽ là khả năng phản ứng nhẹ trước một kích thích lón. Thật ra, khi phản ứng có tính chất tích cực, thì độ nhạy ở đây tương tự như khả năng cải thiện nghịch cảnh.

Quan hệ thư từ riêng với Bar-Yam: Yaneer Bar-Yam nhận định một cách rộng lượng: “Nếu ta lùi lại một bước và xem xét tổng quát hơn vấn đề các hệ thống phân chia thành nhiều phần so với các hệ thống kết nối, các hệ thống phân chia có tính chất ổn định hơn, và các hệ thống kết nối vừa dễ tổn thương vừa có nhiều cơ hội hành động tập thể hơn. Tính dễ bị tổn thương (tính mỏng manh) là kết nối mà không có khả năng phản ứng nhanh. Khả năng phản ứng nhanh làm cho kết nối đưa đến cơ hội. Nếu có thể triển khai hành động tập thể để giải quyết các mối đe dọa hay tranh thủ cơ hội, thì tính dễ bị tổn thương có thể được giảm nhẹ và có lợi ích áp đảo. Đây là mối quan hệ cơ bản giữa ý tưởng về độ nhạy như ta vừa mô tả và khái niệm khả năng cải thiện nghịch cảnh.” (Đăng tải với sự cho phép của tác giả.)

Thanh gươm Damocles và phức hợp hóa: Tainter (1988) lập luận rằng sự phát triển tinh xảo dẫn đến tính mỏng manh, nhưng tiếp theo là một mạch lập luận rất khác biệt.

Tăng truồng hậu chấn thương. Bonanno (2004), Tedeschi và Calhoun (1996), Calhoun và Tedeschi (2006), Alter và những người khác (2007), Shah và những người khác (2007), Pat-Horrenczyk và Brom (2007).

Phi công phó thác trách nhiệm cho hệ thống: Báo cáo của FAA: John Lowy, AP, 29 tháng 8 năm 2011.

Hiệu ứng Lucretius: Thảo luận về Góc tọa độ thứ tư trong phần thông tin thêm của cuốn Thiên Nga Đen và bằng chứng thực nghiệm trong các bài báo liên quan.

Đánh dấu mực nước cao: Kahneman (2011), dùng để ủng hộ nghiên cứu của chính Howard Kunreuther, rằng “hành động bảo vệ, bất kể của cá nhân hay chính phủ, thường được thiết kế vừa đủ cho thảm họa xấu nhất từng xảy ra trên thực tế… Người ta không dễ hình dung những thảm họa xấu hơn.”

Các nhà tâm lý học và “khả năng hồi phục”: Seery 2011, với sự giúp đỡ của Peter Bevelin. “Tuy nhiên, lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng kinh nghiệm nếm trải khó khăn cũng có thể mang lại lợi ích dưới hình thức xu hướng hồi phục tốt hơn khi đối phó với những tình huống căng thẳng về sau.” Họ sử dụng khả năng hồi phục! Một lần nữa, khả năng cải thiện nghịch cảnh không phải là khả năng hồi phục.

Bài báo của Danchin: Danchin và những người khác (2011).

Sai số thiết kế và ảnh hưởng gây ra đối với độ an toàn: Petroski (2006).

Độ nhiễu và nỗ lực: Mehta và những người khác (2012).

Nỗ lực và sự luu loát: Shan và Oppenheimer (2007), Alter và những người khác (2007). Chuóng ngại vật: Ý tưởng do Saifedeean Ammous truyền đạt.

Buzzati: Una felice sintesi di quell’ultimo capitolo della vita di Buzzati è contenuto nel libro di Lucia Bellaspiga “Dio che non esisti, ti prego. Dino Buzzati, la fatica di credere”

Tự biết mình: Ảo tưởng của Daniel Wegner về ý chí có ý thức, trong cuốn Fooled by Randomness.

Doanh số bán sách và sự phê bình chỉ trích: Đối với Ayn Rand: Michael Shermer, “The Unlikeliest Cult in History.” Skeptic tập 2, số 2, 1993, trang 74-81. Đây chỉ là một ví dụ; xin đừng hiểu lầm rằng tác giả là người hâm mộ Ayn Rand.

Các chiến dịch bôi nhọ: Lưu ý rằng triết gia Đức Brentano đã tiến hành một trận công kích nặc danh đối với Marx. Thoạt đầu là cáo buộc che đậy một sự kiện nhỏ nhặt thứ yếu nào đó hoàn toàn không phù họp với ý tưởng của tác phẩm Tư bản (Das Kapital); Brentano làm cho việc thảo luận hoàn toàn đi chệch khỏi chủ đề trọng tâm, ngay cả sau khi tác giả đã qua đòi, và Engels sôi nổi tiếp tục cuộc tranh luận bảo vệ Marx trong phần mở đầu tập thứ ba của chuyên luận.

Làm thế nào điều hành một chiến dịch bôi nhọ từ Louis XIV đến Napoleon: Darnton (2010).

Quy luật Wolff và xương, tập thể dục, mật độ khoáng chất xương ở những người boi lội: Wolff (1892), Carbuhn (2010), Guadaluppe-Grau (2009), Hallstrõm và những người khác (2010), Mudd (2007), Velez (2008).

Mỹ học về sự hỗn độn: Arnheim (1971).

Vật liệu nanocomposites: Carey và những người khác (2011).

Karsenty và xương: Tôi xin cảm ơn Jacques Merab đã thảo luận và giới thiệu tôi với Karsenty; Karsenty (2003, 2012a), Fukumoto và Martin (2009); về khả năng sinh sản của nam giới và xương, Karsenty (2011, 2012b).

Nhầm tưởng nền kinh tế là một chiếc đồng hồ: Một sai lầm tiêu biểu dễ nổi giận trong nghiên cứu của Grant (2001): “Xã hội cũng hệt như một chiếc đồng hồ khổng lồ và phức tạp, sẽ vận hành một cách tự động và có thể dự đoán sau khi đã được lên giây. Cả hệ thống được quản lý bằng các quy luật cơ học giúp tổ chức các mối quan hệ của từng bộ phận. Cũng hệt như Newton khám phá ra lực hấp dẫn chi phối sự chuyển động trong thế giới tự nhiên, Adam Smith khám phá ra quy luật cung cầu chi phối sự chuyển động của nền kinh tế. Smith sử dụng phép ẩn dụ về chiếc đồng hồ và cỗ máy khi mô tả các hệ thống xã hội.”

Gene ích kỷ: “Gene ích kỷ” là một ý tưởng rất thuyết phục của Robert Trivers, nhưng thường được quy cho Richard Dawkins - trao đổi riêng với Robert Trivers. Một câu chuyện buồn.

Khả năng cải thiện nghịch cảnh hệ thống của Danchin và định nghĩa lại về liệu pháp cải thiện sức khỏe nhờ chất gây hại (liệu pháp Hormesis): Danchin và tôi đã viết các bài báo theo phương thức hồi đáp. Danchin và những người khác (2011): “Ý tưởng ngầm ẩn là, trong số phận của những tập thể, gặp phải những thử thách nghiêm trọng, vẫn có thể thu được một kết quả chung tích cực. Trong nội bộ tập thể, một thành viên sẽ đạt được kết quả cực kỳ tốt đẹp, bù trừ cho sự sụp đổ của tất cả những thành viên khác và thậm chí trở nên tốt hơn so với tập thể khi không bị thử thách. Nhìn từ góc độ này, liệu pháp Hormesis chỉ là sự mô tả tổng quát những tình huống nền tảng, xảy ra ở cấp độ quần thể của các quá trình, các cơ cấu hay các phân tử, chỉ lưu ý đến kết quả tích cực đối với tổng thể. Đối với các vật thể sống, tình huống này có thể xảy ra ở cấp độ quần thể của vật thể sống, quần thể tế bào bên trong vật thể sống, hay quần thể phân tử nội bào. Ở đây, chúng ta tìm hiểu khả năng cải thiện nghịch cảnh có thể vận hành ở cấp độ cuối cùng, lưu ý rằng, việc thực hiện nó có những đặc điểm gọi nhớ lại hiện tượng mà ta gọi là chọn lọc tự nhiên. Nói cụ thể, nếu khả năng cải thiện nghịch cảnh là một quá trình gắn liền cho phép một số cá thể vượt lên trên số đông trong một hoàn cảnh thử thách, qua đó cải thiện vận mệnh của tổng thể, nó sẽ minh họa cho việc thực hiện quá trình thu thập và sử dụng thông tin.”

Steve Jobs: “Cái chết là phát minh tuyệt vòi nhất của cuộc sống. Nó thanh lọc những mô hình cũ kỹ lỗi thời ra khỏi hệ thống.” Beahm (2011).

Đồng hồ cúc cu Thụy Sũ Orson Welles, The Third Man (Người thứ ba).

Bruno Leoni: Tôi xin cảm ơn Alberto Mingardi đã giúp tôi nhận thức ý niệm sự mạnh mẽ về mặt pháp lý, và đặc quyền được mòi tham dự bài giảng của Leoni ở Ý năm 2009. Leoni (1957, 1991).

Sự điều hòa vĩ đại: Vấn đề gà tây. Trước khi nổ ra con rối loạn tài chính vào năm 2008, một quý ông tên Benjamin Bernanke, bấy giờ là giáo sư Princeton, về sau trở thành chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ và người quyền lực nhất thế giới kinh tế và tài chính, đã gọi thời kỳ mà chúng ta chứng kiến là thời kỳ “điều hòa vĩ đại” - đặt tôi vào tình thế vô cùng khó khăn khi lập luận về tính mỏng manh đang gia tăng. Điều đó cũng hệt như tuyên bố rằng ai đó vừa trải qua suốt một thập niên trong một căn phòng vô trùng là đang có “sức khỏe tuyệt vòi”, trong khi người đó thật ra đang dễ bị tổn thương nhất.

Lưu ý rằng vấn đề gà tây được triển khai từ phép ẩn dụ con gà của Bertrand Russell (Thiên Nga Đen).

Rousseau: Trong Contract Social (Khế ước xã hội). Đọc thêm nghiên cứu của Joseph de Maistre, Oeuvres, Editions Robert Laffont.

TẬP II: Tính hiện đại và sự chối bỏ khả năng cải thiện nghịch cảnh

Các thành bang: Các lập luận tuyệt vòi ủng hộ phong trào hướng tới các thành phố bán tự trị. Benjamin Barber, Long Now Foundation Lecture (2012), Khanna (2010), Glaeser (2011). Thị trưởng sẽ giỏi hơn tổng thống trong việc xử lý vấn đề thu gom rác, và đỡ lôi kéo chúng ta vào chiến tranh hơn. Xem thêm nghiên cứu của Mansel (2012) về vùng Levant.

Đế chê Áo-Hung: Fejto (1989). Phản biện lịch sử: Fejto cho rằng lẽ ra thế giới đã có thể tránh được thế chiến thứ nhất.

Nghiên cứu ngẫu nhiên và thăm dò dầu khí: Menard và Sharman (1976), bài báo gây tranh cãi của White và những người khác (1976), Singer và những người khác (1981).

Thay thế ngẫu nhiên các chính khách: Pluchino và những người khác (2011).

Thụy Sĩ: Trình bày trong nghiên cứu của Fossedal và Berkeley (2005).

Nhà nước hiện đại: Scott (1998) chỉ trích nhà nước hiện đại cao độ.

Các nền kinh tế Levant: Mansel (2012) nghiên cứu về các thành bang. Lịch sử kinh tế, Pamuk (2006), Issawi (1966, 1988), von Heyd (1886). Trình bày sáng tỏ trong nghiên cứu của Edmond About (About, 1855).

Các thành bang trong lịch sử: Stasavage (2012) chỉ trích cơ cấu thành bang chính trị đầu sỏ như một cỗ máy tăng trưởng dài hạn (cho dù có tỷ lệ tăng trưởng ban đầu cao). Tuy nhiên, bài báo này nói chung không thuyết phục về mặt kinh tế lượng do bỏ sót các đuôi béo. Vấn đề là tính mỏng manh và quản lý rủi ro, chứ không phải sự tăng trưởng hình thức màu mè bên ngoài. Ngoài Weber và Pirenne, những người cổ xúy mô hình còn có Delong và Schleifer (1993). Xem thêm nghiên cứu của Ogilvie (2011).

Phẫu thuật cắt amiđan: Bakwin (1945), được trích dẫn bởi Bornstein và Emler (2001), thảo luận trong nghiên cứu của Freidson (1970). Tái hiện trong nghiên cứu của Avanian và Berwick (1991).

Orlov: Orlov (2011).

Chủ nghĩa can thiệp ngây thơ trong kinh tế phát triển: Easterly (2006) tường thuật về vấn đề gỗ xanh: “Thật ngụy biện khi cho rằng, do tôi đã nghiên cứu và sống trong một xã hội đã đạt đến mức phồn vinh và thanh bình, nên tôi am hiểu đầy đủ để lên kế hoạch cho những xã hội khác nhằm đạt được phồn vinh và thanh bình. Bạn tôi April từng nói, cũng hệt như nghĩ rằng người ta có thể giao cho các con ngựa đua phụ trách công việc xây dựng đường đua.”

Tìm đọc thêm vấn đề may rủi trong kinh tế phát triển trong nghiên cứu của Easterly và những người khác (1993), Easterly và Levine (2003), Easterly (2001).

Nạn đói ở Trung Quốc: Meng và những người khác (2010).

Cái chết của Washington: Morens (1999); Wallenborn (1997).

Kinh KORAN và sự gây hại do can thiệp:

Image

Semmelweiss: Trong số những nguồn tham khảo không chắc chắn nhất, tìm đọc luận án tiến sĩ của Louis-Ferdinand Céline, in lại trong Gallimard (1999), với sự giúp đỡ của Gloria Origgi.

Bình ổn giả hiệu: Một số lập luận trong chương 7 đã được triển khai cùng với Mark Blyth trong Foreign Affairs, Taleb và Blyth (2011).

Thụy Điển: “Economic elites had more autonomy than in any successful democracy,” (Giói quyền thế kinh tế có nhiều tự trị hơn trong bất kỳ một nền dân chủ thành công nào), Steinmo (2011).

Giao thông và việc tháo gỡ các biển báo: Vanderbilt (2008).

Lịch sử Trung Quốc: Eberhard (in lại, 2006).

Thuyết phục nhẹ nhàng: Họ gọi đó là tâm lý giữ nguyên hiện trạng và có những người muốn chính phủ vận động dân chúng phá vỡ tâm lý đó. Đây là một ý hay, trừ khi vị “chuyên gia” thuyết phục chúng ta thật ra không phải là chuyên gia.

Sự trì hoãn và quy tắc suy nghiệm về thứ tự ưu tiên: Brandstetter và Gigerenzer (2006).

Sự đa dạng của nước Pháp: Robb (2007). Nổi loạn ở Pháp được xem như một môn thể thao quốc gia, Nicolas (2008). Nhà nước tập quyền ở Pháp từ năm 1680 đến 1800, Bell (2001).

Sự phức hợp: Ở đây, chúng ta quan tâm đến ảnh hưởng đối với đuôi béo hơn so với các thuộc tính khác. Tìm đọc nghiên cứu của Kaufman (1995), Hilland (1995), Bar-Yam (2001), Miller và Page (2007), Sornette (2004).

Sự phức hợp và đuôi béo: Không cần phải trình bày toán học nặng nề ở đây (hãy để dành cho những người thích toán); chỉ cần vài lòi lập luận đơn giản mà thuyết phục cũng có thể giúp ta thấy đuôi béo hình thành từ thuộc tính của các hệ phức hợp như thế nào. Ảnh hưởng toán học quan trọng xuất phát từ tình trạng thiếu độc lập của các biến ngẫu nhiên, làm cản trở sự hội tụ về phân phối chuẩn hình chuông Gaussian.

Ta hãy thử xem xét ảnh hưởng của nghiệp vụ tự bảo hiểm rủi ro trong tài sản tài chính và việc điều chỉnh danh mục đầu tư.

A—Tại sao đuôi béo hình thành từ đòn bẩy tài chính và hiệu ứng vòng lặp phản hồi, trường hợp đơn giản hóa của một nhà đầu tư riêng lẻ.

A1 [đòn bẩy tài chính] — Nếu nhà đầu tư sử dụng một mức đòn bẩy tài chính L nào đó, mua chứng khoán để giàu thêm (do sự gia tăng giá trị của các chứng khoán nắm giữ) và bán chứng khoán nhằm để đối phó sự mất giá, trong nỗ lực nhằm duy trì mức đòn bẩy tài chính L (đối với nhà đầu tư này, mối quan hệ giữa liên lụy rủi ro và giá trị tài sản tài có dạng lõm), và

A2 [hiệu ứng phản hồi] — Nếu giá chứng khoán tăng phi tuyến tính do nhiều người mua và giảm do nhiều người bán, thì thông qua vi phạm tính độc lập giữa các biến thiên chứng khoán, định luật giới hạn trung tâm (CLT: central limit theorem) sẽ không còn đúng nữa (không có sự hội tụ về phân phối chuẩn hình chuông Gaussian). Vì thế, đuôi béo là kết quả tức thời của hiệu ứng phản hồi và đòn bẩy tài chính, lại càng trầm trọng thêm do mối quan hệ có dạng lõm vì sử dụng đòn bẩy tài chính L.

A3 — Nếu hiệu ứng phản hồi cũng có dạng lõm theo quy mô (nghĩa là muốn bán 10 đơn vị thì phải chịu lỗ trên 1 đơn vị nhiều hơn so với khi chỉ bán 1 đơn vị), thì hệ số bất đối xứng âm của chứng khoán và quá trình sẽ xuất hiện. (Nói đơn giản ra, cũng như “gamma âm” của việc bảo hiểm danh mục đầu tư, nhà đầu tư có quyền chọn mua chứ không có quyền chọn bán, cho nên có hệ số bất đối xứng âm. Việc bắt buộc phải bán chứng khoán cũng giống hệt như việc bán quyền chọn trong nghiệp vụ tự bảo hiểm.)

Lưu ý tính phụ thuộc chuỗi (path dependence) làm cho tình trạng bất đối xứng càng thêm trầm trọng: Nói cụ thể hơn, nếu giá trị tài sản tăng trước, thì sẽ gây ra nhiều rủi ro và bất đối xứng hơn. Tình thế bắt buộc và việc bắt buộc phải bán càng làm cho sự việc thêm trầm trọng theo chiều hướng đi xuống: thị trường rót mạnh hơn (nhưng kém thường xuyên hơn) so với khi thị trường tăng.

B — Nhiều nhà đầu tư: Ngoài ra, khi liên quan đến nhiều nhà đầu tư, thì tác động càng tăng mạnh vì sự điều chỉnh động (nghiệp vụ tự bảo hiểm) của một nhà đầu tư sẽ dẫn đến sự điều chỉnh của nhà đầu tư khác, thường gọi là hiện tượng “lây lan.”

C — Ta có thể khái quát hóa cho bất cứ sự việc nào, ví dụ như giá nhà tăng do người ta mua nhà nhiều vì dư thừa thanh khoản vv…

Ý tưởng chung về tình thế bắt buộc phải thực hiện giao dịch cộng với mối quan hệ có dạng lõm của tổn thất dẫn đến sự ưu việt của những hệ thống trong đó tính ngẫu nhiên được phân tán.

Gia tăng rủi ro khi được cung cấp số liệu: Tìm đọc tư liệu nghiên cứu về hiện tượng dựa dẫm vào thông tin được cung cấp (được gọi là “anchoring”, trình bày tổng quan trong cuốn Thiên Nga Đen). Xem thêm luận án tiến sĩ của Mary Kate Stimmler ở Berkeley (2012), với sự giúp đỡ của Phil Tetlock.

Thực nghiệm của Stimmler là như sau. Trong điều kiện đơn giản, người ta thông báo với các đối tượng thực nghiệm:

Với mục đích tham khảo, bạn được cung cấp công thức sau đây để tính tổng số tiền (T mà việc đầu tư sẽ mang lại sau ba tháng ứng với giá trị đầu tư ban đầu (I) và tỷ suất sinh lợi (R):

T = I*R

Trong điều kiện phức tạp, người ta thông báo với các đối tượng thực nghiệm:

Với mục đích tham khảo, bạn được cung cấp công thức sau đây để tính tổng số tiền An mà việc đầu tư sẽ mang lại sau ba tháng ứng với giá trị đầu tư ban đầu An-1, và tỷ suất sinh lợi r:

Image

Khỏi phải nói, cả hai công thức trong điều kiện đơn giản và điều kiện phức tạp đều cho cùng kết quả. Nhưng những người có điều kiện phức tạp sẽ chịu nhiều rủi ro hơn.

Ảo tưởng về đo xác suất (probabilistic measurement)! Có những thứ hết sức rõ ràng với các tài xế taxi và bà ngoại chúng ta nhưng lại biến mất trong các giảng đường trường đại học. Trong cuốn sách The Measure of Reality (Crosby 1997), sử gia Allred Crosby trình bày luận điểm như sau: điểm khác biệt giữa Tây Âu và phần còn lại của thế giới là nỗi ám ảnh về đo lường, là sự biến đổi từ định tính thành định lượng. (Điều này không hoàn toàn đúng, người cổ đại cũng bị ám ảnh bỏi việc đo lường nhưng họ không có những chữ số Ảrập để thực hiện các phép tính thích hợp.) Ý tưỏng của ông là, ta học tập để trỏ nên chính xác hơn và điều đó dẫn đến tiến bộ khoa học. Ông viện dẫn chiếc đồng hồ cơ học đầu tiên (với thời gian lượng hóa), các bản đồ hàng hải và tranh phối cảnh (với không gian lượng hóa), và việc hạch toán sổ kép (với các tài khoản tài chính lượng hóa). Nỗi ám ảnh đo lường đã bắt đầu đúng chỗ, nhưng ngày càng thâm nhập sai chỗ.

Bây giờ, vấn đề nằm ỏ chỗ, việc đo lường này bắt đầu được áp dụng cho những yếu tố vốn có sai số đo lường cao, thậm chí cao vô hạn trong nhiều trường hợp. (Nhó lại Fukushima trong phần trên.) Sai số trong các hệ thống Ngẫu nhiên bình thường không gây ra hệ lụy đáng kể, nhưng sai số trong các hệ thống Ngẫu nhiên cực độ thì vô cùng sâu sắc. Khi sai số đo lường trỏ nên quá cao, ta không nên sử dụng từ “đo lường” nữa. Rõ ràng, tôi dùng thước để “đo” chiếc bàn mà tôi đang ngồi viết. Tôi có thể “đo” nhiệt độ. Nhưng tôi không thể “đo” rủi ro tương lai. Mà tôi cũng không thể “đo” xác suất; không như chiếc bàn, ta không thể chạm trực tiếp vào nó để cân đo đong đếm. Cùng lắm ta cũng chỉ có thể ước lượng phỏng đoán về điều gì có thể xảy ra.

Lưu ý rằng Hacking (2006) không xem xét hiện tượng đuôi béo lấy một giây nào! Hald (1998, 2003), von Plato (1994), Salsburg (2001) và thậm chí Stigler (1990) cũng thế. Một quyển sách thúc đẩy các mô hình rủi ro yếu kém là sách của Bernstein (1996). Daston (1988) liên hệ việc đo xác suất với thời đại Khai sáng.

Ý tưởng cho rằng xác suất là một cấu trúc định lượng chứ không phải định tính quả thật đã hại ta. Và quan niệm cho rằng khoa học tương đương với việc đo lường không có sai số có thể đưa ta đến với đủ mọi kiểu hư cấu, ảo tưởng và mơ mộng.

Việc am hiểu thấu đáo về xác suất liên quan đến chủ nghĩa hoài nghi: Flanklin (2001). Hiếm có triết gia nào khác quay trở về vấn đề thực của xác suất.

Góc tọa độ thứ tư: Tìm đọc thảo luận trong cuốn Thiên Nga Đen hay bài báo của Taleb (1999).

Hạt nhân, quản lý rủi ro mới: Trao đổi riêng, Atlanta, INPO, tháng 11-2011.

Tri thức mang tính giai thoại (nghĩa là tri thức chỉ dựa vào một quan sát, N=1) và sức mạnh của bằng chứng: Độc giả Karl Schluze viết: “Một thầy giáo già kiêm đồng nghiệp bảo tôi (khi đang nhấm nháp rượu bourbon) ‘Nếu bạn chặt đầu một con chó mà nó vẫn sủa, thì bạn không cần phải lặp lại thí nghiệm nữa.’” Ta cũng dễ dàng đơn cử các ví dụ khác: không luật sư nào viện dẫn đến lập luận “N=1” để bào chữa cho khách hàng và nói “anh ta chỉ giết người có một lần”; không ai xem một vụ tai nạn máy bay là một “giai thoại” (và đòi hỏi phải lặp lại thí nghiệm).

Tôi sẽ đi xa hơn và nói rằng, ta chỉ cần 1 quan sát (N=1) là đủ để phủ định.

Đôi khi các nhà nghiên cứu gọi một kết quả là kết quả “mang tính giai thoại” như một phản xạ tự động khi kết quả chính xác là ngược lại những gì họ nói. Khi John Gray chỉ ra hai cuộc chiến tranh thế giới là phản bằng chứng cho câu chuyện về sự điều hòa vĩ đại của Steven Pinker, Pinker cho rằng phản bằng chứng này chỉ có tính “giai thoại.” Kinh nghiệm của tôi là, khi nói về “bằng chứng” thì giới khoa học xã hội hiếm khi biết họ đang nói về điều gì.

TẬP III: Quan điểm phi dự đoán về thế giới

Các nhà nghiên cứu về lý thuyết ra quyết định lại đi giảng dạy cho những nguôi thực hành: Lại càng sỉ nhục chúng ta hơn nữa, các nhà nghiên cứu về lý thuyết ra quyết định sử dụng khái niệm “thực hành”, một cách gọi trái khoáy. Tìm đọc nghiên cứu của Hammond, Keenay, và Raiffa (1999) ra sức rao giảng cho chúng ta về cách thức ra quyết định. Có một quyển sách mô tả chính xác cách thức những người thực hành không hành động như thế nào, nhưng giới học thuật lại tưởng rằng họ có hành động: Schon (1983).

Tính phi đối xứng giữa kết quả tốt và kết quả xấu: Segnius homines bona quam mala sentiunttrong sách của Livy Annals (XXX, 21).

Những nguôi khắc kỷ và cảm xúc: Trái với niềm tin phổ biến rằng chủ nghĩa khắc kỷ chỉ nói về việc trở thành cây cỏ không cảm xúc, Graver (2007).

Tăng trưởng kinh tế không nhanh đến thế: Crafts (1985), Crafts và Harley (1992).

Dan díu với ngôi sao nhạc rock: Arnavist và Kirkpatrick (2005), Griffith và những người khác (2002), Townsend và những người khác (2010).

Simenon: “Georges Simenon, profession: rentier,” Nicole de Jassy Le Soir illustré 9 janvier 1958, N° 1333, trang 8-9, 12.

Dalio: Bridgewater-Associates-Ray-Dalio-Principles.

TẬP IV: Khả năng chọn lựa, công nghệ, và sự sáng suốt của khả năng cải thiện nghich cảnh

Mục đích luận

Aristole và ảnh hưởng của ông: Rashed (2007), người nghiên cứu văn hóa Ảrập và Hy Lạp.

Sự cao quý của thất bại: Morris (1975).

Khả năng chọn lựa

Bricolage: Jacob (1977a, 1977b), Esmault (2001).

Người giàu càng trở nên giàu hơn: Về tổng tài sản của những cá nhân giàu có nhất ngày càng gia tăng, tìm đọc số liệu của Merrill Lynch trong “World’s wealthiest people now richer than before the credit crunch” (Những người giàu nhất thế giới giờ còn giàu hơn so với trước khi sụp đổ tín dụng), Jill Treanor, The Guardian, tháng 6 năm 2012. Đồ thị sau trình bày lý do cho thấy nó không liên quan gì đến tăng trưởng và tổng lượng tài sản hình thành.

Image

HÌNH 39. Hàng xa xỉ và khả năng chọn lựa. Trục tung biểu thị xác suất, trục hoành biểu thị tích phân của tài sản. Thành phố có khả năng cải thiện nghịch cảnh: Ảnh hưởng của sự thay đổi tình trạng cách biệt thu nhập đối với tập hợp những người rất giàu gia tăng một cách phi tuyến tính ở phía đuôi: tiền bạc của những ngườisiêu giàu phụ thuộc vào sự cách biệt thu nhập chứ gần như không phụ thuộc vào tổng tài sản trên thế‘giới. Tỷ trọng tài sản của họ tăng lên gần 50 lần khi độ phân tán tài sản tăng lên 25%. Mức thay đổi nhỏ 0,01 của hệ số GINI (hệ số này bằng 0 trong trường hợp bình đẳng thu nhập tuyệt đối, và bằng 1 khi một người có toàn bộ thu nhập và mọi người khác không có thu nhập) tương đương với tăng GDP thực 8% — ảnh hưởng rõ ràng bất chấp phân phối xác suất như thế nào.

Lạc đà ở bán đảo Ảrập: Lindsay (2005).

Tính quanh co (hay sự trôi giạt tình cờ của hoạt động nghiên cứu): Kay (2010).

Tư liệu về quyền chọn thực: Trigeorgis (1993), bình luận trong nghiên cứu của Dixit và Pindyck (1994), Trigeorgis (1996), Luehrman (1998), McGrath (1999) — trọng tâm là về việc đầu tư có thể và không thể đảo ngược.

Khoảng cách tịnh tiến: Wooton (2007); Arikha (2008b); Contopoulos-Ioannidis và những người khác (2003, 2008), Bosco và Watts (2007).

Chỉ trích của Wooton: Brosco và Watts (2007).

Hiện tượng phụ và nhân quả Granger: Xem tổng quan trong nghiên cứu của Granger (1999).

Dạy chim cách bay. Đã có các ẩn dụ tiền lệ trong nghiên cứu của Erasmus, “dạy cá cách boi”. Adages, 2519, III, VI, 19. “Piscem nature docesdoces I’χθνˋν νήχεσθαι διδάσκεις, id est piscem nature doces. Perinde est ac si dicas: Doctum doces. Confine illi, quod alibi retulimus: ∆ελφỉ ͂ να νήχεσθαι διδάσκεις, id estDelphinum natare doces.” Cách ví von này được trình bày lần đầu trong nghiên cứu của Haug và Taleb (2010), được đăng tải năm 2006, dẫn đến một quyển sách của Triana (2009). Chúng tôi không biết về ẩn dụ của Erasmus, giá như biết thì chúng tôi đã chọn ẩn dụ của ông.

Giáo dục và ảnh hưởng đối với tăng trưởng và phồn vinh: Pritchett (2001), Wolf (2002), Chang (2011).

Ý tưởng của Schumpeter về sự phá hủy đối với tiến bộ: Schumpeter (1942). Phê bình của các nhà kinh tế học Harvard về việc thiếu phương pháp toán học trong nghiên cứu của McCraw (2007).

Những kẻ nghiệp dư Bryson (2010), Kealey (1996).

Công nhận sai về thành tựu khoa học của Bachelier, Thorpe và những người khác: Haug và Taleb (2010). Thảo luận trong nghiên cứu của Triana (2009, 2011).

Động cơ phản lực: Scranton (2006, 2007, 2009), Gibbert và Scranton (2009).

Vạch trần tri thức lý thuyết về điều khiển học: Mindell, 2002. Tôi xin cảm ơn David Edgerton đã giới thiệu công trình nghiên cứu của ông.

Các thánh đường và hình học lý thuyết và tiên đề: Beaujoan (1973, 1991), Portet (2002). Ball (2008) nghiên cứu về lịch sử xây dựng của Nhà thờ Đức bà Paris.

Cơ sở tri thức và sự đánh đồng: Cơ sở tri thức thuộc loại biến số x, chứ không phải hàm số f(x). Theo Michael Polanyi, có một cách tuyệt vòi để thấy sự khác nhau giữa biến số x và hàm số f(x) trong công nghệ: người ta có thể cấp bằng phát minh cho hàm số f(x), một kỹ thuật, chứ không phải cho biến số x, tri thức khoa học. Trong nghiên cứu của Mokyr (2005).

Cơ sở tri thức: Mokyr (1999, 2002, 2005, 2009). Vấn đề trục trặc nhất với Mokyr: không có roC. Hơn nữa, quan niệm của phương Đông bỏ qua hoạt động thử nghiệm và sửa sai (xem thêm lập luận về Trung Quốc): tìm đọc nghiên cứu của Tetlock trong Tetlock và những người khác (2009). Mokyr và Meisenzahl có một bố cục nghiên cứu khác, với phát minh vi mô giúp nuôi dưỡng phát minh vĩ mô. vẫn yếu về mặt trí tuệ.

Bí quyết thực hành so với tri thức lý thuyết trong kinh tế học. Marglin (1996), nhưng truyền thống này không tiến xa lắm.

Nghiên cứu của Needham về Trung Quốc: Winchester (2008).

Biên chế: Kealey (1996): “Adam Smith quy sự yếu kém của các giáo sư người Anh là do tiền lương đảm bảo và công việc biên chế (so với các trường đại học Scotland.)”

Tín ngưỡng luận: Popkin (2003).

Mô hình tuyến tính: Edgerton (1996a, 1996b, 2004). Edgerton chứng minh rằng đó là một ý tưởng được nhào nặn cho phù họp với quá khứ. Edgerton cũng viết: “Mô hình định hướng nghiên cứu hàn lâm của khoa học thế kỷ 20 này thật là ngạc nhiên khi nhìn từ góc độ truyền thống lâu đòi nhấn mạnh vào nguồn gốc phi học thuật của khoa học hiện đại, nhất là truyền thống nghề thủ công, và sự phi nhất quán của phần lón lịch sử khoa học, được củng cố trong 20 năm qua, về tầm quan trọng của bối cảnh công nghiệp đối với khoa học, từ nhuộm cho tới ủ bia, cho tới chế tạo động co.”

Độ lệch lồi: Nó được khám phá từ lâu trong hợp đồng tương lai hàng hóa và hợp đồng tương lai tài chính; Burghardt và Hoskins (1994), Taleb (1997), Burghardt và Liu (2002), Burghardt và Panos (2001), Kirikos và Novak (1997), Pieterbarg và Renedo (2004). Nhiều người bị phá sản do hiểu sai về ảnh hưởng của nó.

Ví dụ về việc tìm kiếm và mô tả độ lệch lồi (ωA), từ luận án tiến sĩ của tác giả: Phương pháp là tìm những tài sản tài chính nào cần phải có nghiệp vụ tự bảo hiểm động (dynamic hedging) và sự điều chỉnh động. Trong số những công cụ tài chính được xem xét tuy không phải là các quyền chọn theo nghĩa hẹp nhưng đòi hỏi phải có nghiệp vụ tự bảo hiểm động, ta có thể nhanh chóng kể ra một nhóm công cụ mà kết quả có dạng lồi: (1) Trái phiếu dài hạn có lãi suất định kỳ thấp. Giả định khung thời gian ròi rạc. Ký hiệu B(r,T,C) ứng với thời gian cho đến lúc đáo hạn trái phiếu là T, lãi suất định kỳ là C, trong đó rt = ∫rs ds. Ta có độ lồi д2Bдr2 tăng dần theo T và giảm dần theo C. (2) Những hợp đồng trong đó giá trị huy động có tương quan cực độ với giá hợp đồng tương lai. (3) Các giỏ tài sản tài chính với thuộc tính hình học trong việc tính toán. (4) Một nhóm tài sản thường không được chú ý tới là những họp đồng mà giá trị không phải bằng đồng tiền bản xứ của hợp đồng (được gọi là các hợp đồng “quantodefined”, chịu ảnh hưởng của cả tỷ giá hối đoái và lãi suất), ví dụ như các hợp đồng tương lai NIKEI Nhật Bản, trong đó giá trị tính bằng đồng đôla Mỹ. Nói vắn tắt, trong khi hợp đồng NIKEI bằng đồng yen Nhật là hợp đồng có kết quả dạng tuyến tính, thì hợp đồng bằng đôla Mỹ có kết quả phi tuyến tính và đòi hỏi phải có nghiệp vụ tự bảo hiểm động.

Gọi thời đoạn ban đầu là t0, điều kiện cuối cùng là V(S, T) = ST trong đó T là ngày đáo hạn. Nói đơn giản hơn, chứng khoán vừa mô tả là một hợp đồng kỳ hạn đơn giản, được giả định là tuyến tính. Xem ra trong đó không có số hạng Ito. Tuy nhiên, nếu có một kết quả tức thời sao cho trong một thời đoạn hạch toán i/T, tiền bảo chứng biến thiên phải được thanh toán bằng tiền mặt, thì sự phức tạp sẽ phát sinh. Giả sử Δ(t) là sự thay đổi giá trị danh mục đầu tư trong thời đoạn (ti, ti-1 ), thì Δ(t)= (V(S,ti)-V(S,ti-1)). Nếu giá trị biến thiên được thanh toán vào thời đoạn ti, thì nhà đầu tư sẽ phải vay mượn với lãi suất kỳ hạn trong khoảng thời gian từ ti đến T, ở đây là r(ti,T). Việc vay mượn này là cần thiết để V(S,T)ST tương thích theo hiện giá. Theo kỳ vọng, ta sẽ phải chiết khấu giá trị biến thiên thông qua phương pháp dòng tiền mặt kỳ hạn cho thời đoạn hạch toán từ ti-1 đến ti. Nhìn từ thời đoạn T, giá trị biến thiên trở thành Et [exp[-r(ti,T)(T-ti)] Δ(ti)], trong đó Et là toán tử kỳ vọng vào thời đoạn t (ví dụ như trong một số đo xác suất phi rủi ro). Do đó, theo kỳ vọng, ta thực hiện ở thời đoạn T, khi nhìn từ thời đoạn t0, giá trị kỳ vọng của dòng biến thiên tương lai sẽ là E [S exp[-r(ti,T)(T-ti)] Δ(ti)]. Tuy nhiên, ta cần chiết khấu về hiện tại bằng lãi suất kỳ hạn r(T). Phương trình trên trở thành V(S,T) |t=t0= V[S,t0]+ exp[r(T)] Eto [S exp[-r(ti,T)(T-ti)] Δ(ti)]; phương trình này sẽ khác với ST khi một hợp đồng kỳ hạn lãi suất bất kỳ có tính ngẫu nhiên. Kết quả (cách nói lịch sự thay vì nói “định lý”): Khi phương sai của lãi suất chiết khấu kỳ hạn r(ti,T) và chứng khoán cơ bản ST có giá trị dương nghiêm ngặt và tương quan giữa chúng nhỏ hơn 1, thì V(S,T) ≠ ST. Chứng minh: Bằng cách xem xét các thuộc tính của toán tử kỳ vọng. Do đó: F(S,t0) = F(S,t0+Δt), trong khi một công cụ phi tuyến tính sẽ chỉ thỏa điều kiện: E[V(S,t0)]=E[V(S,t0+Δt)].

Phê phán của Kealey Posner (1996).

Lịch sử chung về công nghệ: Bỏ sót độ lệch lồi, Basalla (1988), Stokes (1997), Geison (1995).

Các ý tưởng phát minh đổi mới: Berkun (2007), Latour and Woolfar (1996), Khosla (2009), Johnson (2010).

Phát minh y học và không có kiến thức về nhân quả: Morton (2007), Li (2006), Le Fanu (2002), Bohuon và Monneret (2009). Le Fanu (2002): “Xem ra ta có thể dự đoán rằng các bác sĩ và các nhà khoa học sẽ giành lấy công trạng về uy lực của y khoa hiện đại mà không hề công nhận sự nhiệm màu của tự nhiên đã đóng một vai trò quan trọng đến thế. Chẳng lạ gì, họ đâm ra tin rằng đóng góp trí tuệ của họ lớn lao hơn so với thực tế, tin rằng họ am hiểu nhiều hơn so với những gì họ thật sự am hiểu. Họ không thừa nhận thật ra thực nghiệm chi phối bản chất của đổi mới công nghệ và dược phẩm, đã tạo ra những cú đột phá ngoạn mục trong việc điều trị mà không đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc nào về quan hệ nhân quả hay lịch sử tự nhiên.” Thương mại cũng là mối quan hệ có dạng lồi: Ridley (2010) nhận xét về người Phoenicia; Aubet (2001).

Người trong nội bộ ngành dược: La Matina (2009).

Tác dụng phụ gấp bội: Đánh giá quá thấp tương tác thuốc trong nghiên cứu của Tatonetti và những người khác (2012): Họ khám phá một cách đơn giản tác dụng phụ của những người uống nhiều loại thuốc cùng một lúc, mà thực chất làm tăng vọt tác dụng phụ (họ chứng minh rằng tác dụng phụ của thuốc sẽ tăng gấp bốn lần).

Quy hoạch chiến lược: Starbuck và những người khác (1992, 2008), Abrahamson và Freedman (2007). Tác phẩm sau là một bài ca tụng tuyệt vời về tình trạng mất trật tự và hỗn độn.

Tinh thần nghiệp chủ: Elkington và Hartigan (2008).

Sự hiểu sai về xác suất nhỏ một cách bệnh hoạn của các giáo sư truồng Kinh doanh Harvard: Đây không phải là một phát biểu thực nghiệm, chỉ cho vui: để đơn cử ví dụ về một kẻ ngốc bỏ sót ωBωC, ta luôn bắt đầu bằng cách nhìn vào Harvard. Froot (2001), Pisano (2006a, 2006b). Froot: “Vì các nhà quản lý các công ty bảo hiểm ký hợp đồng tái bảo hiểm với giá cao hơn nhiều so với giá hợp lý (fair price), họ phải tin rằng việc quản lý rủi ro làm gia tăng giá trị đáng kể.” Ông tưởng ông biết giá hợp lý là bao nhiêu.

Le Goff: Le Golf (1985): “L’un est un professeur, saisi dans son enseignement, entouré d’élèves, assiégé par les bans, où se presse I’auditoire. L’autre est un savant solitaire, dans son cabinet tranquille, à I’aise au milieu de la pièce où se meuvent librement ses pensées. Ici c’est le tumulte des écoles, la poussière des salles, l’indifférence au décor du labeur collectif,” “Là toutn’estqu’ordre et beauté/ Luxe, calme, et volupté.” (Bên này là vị giáo sư bị vây quanh và chất vấn bỏi đông đảo sinh viên. Bên kia là một học giả đơn độc, ngồi bình yên và riêng tư trong phòng, cảm thấy thoải mái trong gian phòng khang trang và tiện nghi, nơi tư tưỏng của ông có thể tự do bay bổng. Ở bên này, ta bắt gặp cảnh xáo động của nhà trường, bụi bặm của các lớp học, sự bàng quan trước cái đẹp ỏ những nơi xô bồ tập thể / Ở bên kia là trật tự và vẻ đẹp.)

Martignon: Geschlechtsspezifische Unterschiede im Gehirn und mogliche Auswirkungen auf den Mathematikunterricht. Wissenschaftliche Hausarbeit zur Ersten Staatsprufung fur das Lehramt an Realschulen nach der RPO I v. 16.12.1999. Vorgelegt von: Ulmer, Birgit. Erste Staatsprufung im Anschluss an das Wintersemester 2004/05, Pâdagogische Hochschule Ludwigsburg. Studienfach: Mathematik. Dozenten: Prof. Dr. Laura Martignon, Prof. Dr. Otto Ungerer.

Renan: Averroès et l’averroisme, trang 323 (1852).

Socrates: Trao đổi với Mark Vernon (Vernon, 2009), người tin rằng Socrates trông giống Tony Béo hơn. Wakefield (2009) trình bày một bối cảnh tuyệt vời. Calder và những người khác (2002) mô tả chân dung ít nhiều mang tính chất tiểu sử thần thánh.

Ngụy biện Socrates: Geach (1966).

Tri thức khoa học cơ bản-Tri thức kỹ năng (Episteme-Techne): Alexander of Aphrodisias, On Aristotle’s Metaphysics, ơn Aristotle’s Prior Analytics 1.1-7, On Aristotle’s Topics 1, Quaestiones 2.16-3.15.

Tri thức ngầm ẩn-bộc lộ: Colins (2010), Polanyi (1958), Mitchell (2006).

BẢNG 13. BÍ QUYẾT THỰC HÀNH SO VỚI TRI THỨC LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG THỨ TƯƠNG TỰ

LOẠI 1

LOẠI 2

Tri thức lý thuyết

Bí quyết thực hành

Công khai

Ngầm ẩn

Tri thức luận chứng (demonstrative knowledge)

Tri thức phi luận chứng (nondemonstrative knowledge)

Tri thức khoa học cơ bản

Tri thức kỹ năng

Cơ sở tri thức khoa học cơ bản

Tri thức kinh nghiệm

Tri thức mang tính lý thuyết (propositional knowledge)

Suy nghiệm (heuristic)

Hiểu theo từng chữ, theo nghĩa đen

Hiểu theo nghĩa bóng

Hoạt động có mục tiêu

Chắp vá

Chủ nghĩa duy lý

Chủ nghĩa kinh nghiệm

Học tập

Thực hành

Toán học

Thiết kế công trình

Tri thức quy nạp, sử dụng các nguyên tắc mục đích luận của Aristotle

Epilogism (Menodotus xứ Nicomedia và trường phái y học kinh nghiệm)

Nghiên cứu lịch sử theo quan hệ nhân quả

Nghiên cứu lịch sử theo nhận thức cảm tính

Chẩn đoán

Khám nghiệm

Văn bản luật pháp

Tinh thần luật pháp

Ý tưởng

Phong tục tập quán

Xác suất cờ bạc, các sách giáo khoa thống kê

Tính bất định về sinh thái, không thể tìm thấy trong sách giáo khoa

Nhận thức thế giới theo logic (Logos)

Nhận thức thế giới theo chuyện thần thoại (Mythos)

Sự truyền bá Phúc âm, phần tôn giáo có thể giải thích và có thể thuyết giảng (Kerygma)

Giáo điều, phần không thể giải thích theo ý nghĩa tôn giáo (Dogma)

Thần học công khai (Averroes và Spinoza)

Thần học bí truyền (Averroes và Spinoza)

Tất cả các thuật ngữ bên trái xem ra đều có liên quan với nhau. Ta có thể dễ dàng giải thích tại sao chủ nghĩa duy lý, công khai, nghĩa đen đều phù họp với nhau. Nhưng các thuật ngữ bên phải xem ra không liên quan với nhau về mặt logic. Điều gì liên hệ giữa phong tục tập quán, chắp vá, chuyện thần thoại, bí quyết thực hành, nghĩa bóng? Mối liên hệ giữa giáo điều tôn giáo và hoạt động chỉnh sửa là gì? Có một mối liên hệ nào đó mà tôi không thể giải thích một cách súc tích, nhưng có sự tương đồng theo kiểu của triết gia Wittgenstein.

Lévi-Strauss: Lévi-Strauss (1962) nghiên cứu về các hình thức trí tuệ khác nhau. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Charbonnier (2010), trong các cuộc phỏng vấn vào thập niên 1980, xem ra ông tin rằng vào một ngày nào đó trong tương lai, khoa học sẽ cho phép chúng ta dự đoán với độ chính xác có thể chấp nhận được, “một khi chúng ta đã có lý thuyết về sự vật.” Tìm đọc tiểu sử trong nghiên cứu của Wilken (2010). Xem thêm nghiên cứu của Bourdieu (1972) về vấn đề tương tự nhìn từ góc độ một nhà xã hội học.

Suy nghiệm tiến hóa: Đây là điểm quan trọng nhưng tôi giấu nó trong phần này. Tóm tắt quan điểm - hòa nhập giữa tư liệu nghiên cứu và ý tưởng của quyển sách này: suy nghiệm tiến hóa trong một hoạt động cho trước có các thuộc tính sau: (a) bạn không biết là bạn đang sử dụng nó, (b) nó đã được nhiều thế hệ thực hành áp dụng trong một thời gian dài trong một môi trường y hệt hay hết sức tương tự, và nó phản ánh sự khôn ngoan tập thể đã trải qua một quá trình tiến hóa, (c) nó không có vấn đề xung đột quyền lợi giữa người ủy quyền và người đại diện, và những người sử dụng nó đã sống sót (nhưng không kể các suy nghiệm y khoa được các bác sĩ sử dụng, vì bệnh nhân không chắc còn sống sót, mà chủ yếu là các suy nghiệm tập thể đã được xã hội sử dụng), (d) nó thay thế cho những bài toán phức hợp đòi hỏi phải có một đáp áp toán học, (e) bạn chỉ có thể học hỏi thông qua thực hành và quan sát những người khác, (f) bạn luôn luôn có thể làm “tốt hơn” trên một chiếc máy tính, vì những vấn đề này làm trên máy tính thì tốt hơn trong đòi sống thực tế. Cũng vì lẽ đó, những suy nghiệm mà là điều tốt hạng nhì thì sẽ cho kết quả tốt hơn so với những quy tắc có vẻ như là điều tốt hạng nhất, (g) lĩnh vực trong đó suy nghiệm đã phát triển cho phép có phản hồi nhanh, theo ý nghĩa là, những người phạm sai lầm bị trừng phạt ngay nhưng cũng thoát ra ngay. Cuối cùng, như nhà tâm lý học Kahneman và Tversky đã chứng minh, suy nghiệm có thể hết sức sai lầm bên ngoài những lĩnh vực mà nó ra đòi.

Cách lập luận và vấn đề gỗ xanh: Trong nghiên cứu của Mercier và Sperber (2011). Ý tưởng lập luận duy lý hậu-Socrates như một công cụ tìm kiếm chân lý gần đây còn mất giá trị hơn nữa — cho dù xem ra phương pháp thảo luận của Socrates có thể bổ ích, nhưng chỉ dưới dạng hội thoại. Mercier và Sperber đã vạch trần quan niệm cho rằng ta sử dụng lập luận duy lý nhằm tìm kiếm chân lý. Họ chứng minh trong một nghiên cứu ấn tượng rằng mục đích của lập luận không phải là để ra quyết định mà là để thuyết phục người khác — vì các quyết định ta đạt được thông qua lập luận duy lý sẽ tràn ngập những điểm biến dạng méo mó. Họ chứng minh bằng thực nghiệm, dẫn đến bằng chứng cho thấy rằng, trong bối cảnh xã hội (khi có những người khác để họ thuyết phục) các cá nhân sẽ ngụy tạo lập luận giỏi hơn so với khi đơn độc.

Chống lại thời kỳ Khai sáng. Tìm đọc tài liệu tổng quan trong nghiên cứu của Sternhell (2010), McMahon (2001), Delon (1997). Horkheimer và Adorno phê phán một cách thuyết phục về chủ nghĩa hình thức (cosmeticism) và chiếc bẫy của kẻ ngốc trong ý tưởng về tính hiện đại. Và lẽ dĩ nhiên, có thể xem thêm nghiên cứu của John Gray, nhất là Gray (1998) và Straw Dogs, Gray (2002).

Wittgenstein và tri thức ngầm ẩn: Pears (2006).

Về Joseph de Maistre: Companion (2005).

Kinh tế học sinh thái, không theo tinh thần can thiệp và bảo bọc thái quá: Smith (2008), diễn văn trước ngày nhận giải Nobel trình bày cùng với diễn văn của Kahneman. Gigerenzer tìm hiểu sâu xa hơn.

Trí khôn qua các thời đại: Oakeshott (1962, 1975, 1991). Lưu ý rằng chủ nghĩa bảo thủ của Oakeshott có nghĩa là chấp nhận sự cần thiết có một tốc độ thay đổi nhất định. Xem ra đối với tôi, những gì ông mong muốn là sự thay đổi hữu cơ chứ không phải sự thay đổi theo chủ nghĩa duy lý.

TẬP V: Phi tuyến tính và phi tuyến tính

Trình bày cụ thể hơn bằng toán học để bổ sung cho phần trình bày bằng đồ thị, từ nghiên cứu của Taleb và Douady (2012), tính mỏng manh cục bộ của một biến ngẫu nhiên Xλ phụ thuộc vào thông số X, ứng với mức căng thẳng K và độ bán lệch (semi-deviation) s-(λ), với pdf fλ, là độ nhạy semi-vega đuôi trái K (K-left-tailed semi-vega sensitivity) (“vega” là độ nhạy trước một số đo biến động), V(X, fλ, K, s-) theo s- , độ bán lệch tuyệt đối trung bình ứng với miền giá trị dưới mức Ω, ở đây ta có:

Image

Tính mỏng manh thừa hưởng của Y theo X ứng với mức căng thẳng L = φ(K) và độ bán lệch trái s- (λ) của X là đạo hàm riêng phần theo X, tức

Image

Lưu ý rằng mức căng thẳng và pdf được định nghĩa

cho biến số Y, nhưng thông số sử dụng cho vi phân là độ bán lệch trái tuyệt đối của X. Đối với khả năng cải thiện nghịch cảnh, ta áp dụng cho miền giá trị trên mức Q, cộng thêm tính mạnh mẽ bên dưới mức căng thẳng K. Định lý chuyển giao liên hệ tính mỏng manh của Y với đạo hàm bậc hai φ(K) và cho thấy ảnh hưởng của sự biến đổi dạng lồi (lõm hay phi tuyến kết hợp) đối với các đuôi thông qua hàm chuyển giao HK. Đối với khả năng cải thiện nghịch cảnh, ta sử dụng ký hiệu s+, lấy tích phân cho miền giá trị trên K.

Tính mỏng manh không phải là tâm lý: Chúng ta bắt đầu từ định nghĩa tính mỏng manh là độ nhạy vega đuôi và kết thúc với tính phi tuyến là thuộc tính cần thiết của nguồn gây ra mỏng manh trong trường hợp thừa hưởng — là nguyên nhân căn bệnh chứ không phải bản thân căn bệnh. Tuy nhiên, trong tư liệu nghiên cứu lâu đòi của các nhà kinh tế học và các nhà khoa học nghiên cứu về việc ra quyết định, họ đã đưa rủi ro vào các sở thích tâm lý — trong lịch sử, rủi ro được mô tả từ thái độ ghét rủi ro như hệ quả của cơ cấu chọn lựa trong bối cảnh không chắc chắn với dạng lõm của đường “thỏa dụng” rối rắm; tìm đọc nghiên cứu của Pratt (1964), Arrow (1965), Rothschild và Stiglitz (1970, 1971). Nhưng chuyện “độ thỏa dụng” này chẳng bao giò dẫn đến đâu cả ngoài việc đi lòng vòng, như được trình bày trong nghiên cứu của Machina và Rothschild (2008), “rủi ro là cái mà những người ghét rủi ro căm ghét.” Quả thật, hạn chế rủi ro trong thái độ ghét rủi ro ứng với mối quan hệ có dạng lõm của các chọn lựa đúng là một kết quả bất hạnh.

Chiếc cốc sứ và mối quan hệ có dạng lõm: Rõ ràng, ly cà phê, ngôi nhà, hay chiếc cầu không có sở thích tâm lý, độ thỏa dụng chủ quan vv… Thế nhưng, mỗi đối tượng này đều có mối quan hệ có dạng lõm trong phản ứng với thiệt hại: nói đơn giản, gọi z là mức căng thẳng và Π(z) là hàm thiệt hại, ta thấy rằng, với n>1, Π(n z) < n Π(z) đối với mọi 0< n, z<Z*, trong đó Z* là mức căng thẳng mà ở đó đối tượng sẽ bị đổ vỡ (mức căng thẳng này không nhất thiết được nêu rõ). Từ bất đẳng thức này, Π(z) sẽ có một đạo hàm bậc hai có giá trị âm ứng với giá trị ban đầu z. Như vậy, n lần căng thẳng với cường độ Z sẽ gây ra thiệt hại cho ly cà phê ít hơn so với một yếu tố căng thẳng mạnh n Z, khi đó thiệt hại (là một hàm số âm) nhất thiết có dạng lõm trước các yếu tố căng thẳng cho đến điểm đổ vỡ; điều kiện này được áp đặt bỏi cơ cấu xác suất tồn tại và phân bố các biến cố có hại, không liên quan gì đến độ thỏa dụng chủ quan hay những điều bịa đặt nào khác.

Gia tăng quy mô một cách tích cực, mối quan hệ có dạng lồi của các thành phố: Bettencourt và West (2010, 2011), West (2011). Các thành phố là những đối tượng ba chiều giống như động vật, và mối quan hệ phi tuyến tính có lợi này tương ứng với hiệu quả. Nhưng hãy xem câu chuyện tắc nghẽn giao thông thì biết!

“Thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất”: Anderson (1972).

Tính mỏng manh tương đối của động vật: Diamond (1988).

Flyvbjerg và các đồng nghiệp về tiến độ chậm trễ của các dự án: Flyvbjerg (2009), Flyvbjerg và Buzier (2011).

Nhỏ là đẹp, các quan điểm lãng mạn: Xem nghiên cứu của Dahl và Tufte (1973), Schumacher (1973) về câu nói nổi tiếng này. Xem nghiên cứu của Kohr (1957) về bản tuyên ngôn đầu tiên chống lại quy mô của đơn vị chính phủ.

Quy mô chính phủ: Tôi không tìm được người nào suy nghĩ theo hiệu ứng lồi, ngay cả những người theo tự do chủ nghĩa — xem Kahn (2011).

Nhà nước nhỏ vận hành tốt hơn: Một truyền thống nghiên cứu lâu dài về sự cai quản của các thành bang. Giống như cái mà chúng ta lý giải là các hệ thống chính trị xuất phát từ quy mô. Bằng chứng trong nghiên cứu của Easterly và Kraay (2000).

Thòi đại của tính mỏng manh gia tăng: Zajdenwebber, tìm đọc thảo luận trong Thiên Nga Đen. Số liệu được điều chỉnh lại gần đây trên tạp chí The Economist, “Counting the Cost of Calamities” (Tính toán chi phí thảm họa) 14 tháng 1 năm 2012.

Hiệu ứng lồi đối với trị trung bình: Jensen (1906), Van Zwet (1966). Trong khi Jensen xem xét các hàm đơn điệu, Van Zwet xem xét các hàm lồi-lõm và các dạng kết hợp khác — nhưng vẫn là các dạng phi tuyến tính đơn giản. Taleb and Douady (2012) áp dụng cho mọi dạng phi tuyến cục bộ.

Tư liệu thực nghiệm về quy mô lớn hơn: Các vụ sáp nhập công ty và giả thuyết tham vọng ngông cuồng: trong nghiên cứu của Roll (1986); tiếp đến là Cartwright và Schoenberg (2006).

Nợ trong lịch sử cổ đại: Lễ kỷ niệm Babylon, Hudson và những người khác (2002). Athens, Harrison (1998), Finley (1953). Lịch sử nợ, Barty-King (1997), Muldrew (1993), Glaeser (2001). Nghiên cứu của Glaeser có một quan điểm phi chính phủ. Ông thực sự tin rằng nợ có trước hoạt động hàng đổi hàng.

Các mạng lưới lương thực: Dunne và những người khác (2002), Perchey và Dunne (2012), Valdovinos và Ramos-Jiliberto (2010). Tính mỏng manh và nguồn lực, Nasr (2008, 2009).

Fannie Mae: Mối quan hệ thiệt hại có dạng lõm theo mọi biến số có ý nghĩa. Một người nào đó chất vấn tính phi tuyến và xác suất trong ủy ban của Obama điều tra nguyên nhân khủng hoảng đã lan truyền tin đồn rằng tôi chỉ tìm thấy rủi ro lãi suất của Fannie Mae: điều này không đúng.

Chi phí thực hiện việc bán chứng khoán: “Tác động giá”, nghĩa là chi phí thực hiện việc bán nóng, sẽ tăng lên theo quy mô; có xu hướng theo hàm căn bậc hai — nghĩa là đồ thị biểu diễn tổng giá có dạng lồi và tăng trưởng theo số mũ 3/2 (có nghĩa là đồ thị biểu diễn chi phí có dạng lõm). Nhưng vấn đề là đối với những độ lệch lớn, như trong trường họp của Société Général, tình hình còn tệ hơn nhiều; chi phí giao dịch tăng gia tốc một cách ngày càng kém chính xác hơn - tất cả những bài báo về tác động giá theo truyền thống nghiên cứu mới đều vô nghĩa khi bạn cần đến chúng. Điều ấn tượng là, Bent Flyvbjerg đã tìm thấy một hiệu ứng tương tự, nhưng có dạng lồi hoi ít hơn về tổng thể, đối với những chiếc cầu và đường hầm có tỷ lệ tăng trưởng chi phí theo quy mô là 10 Log[x].

Nhỏ là đẹp, theo phương pháp toán học: Để giải thích xem thử các thành bang, các công ty nhỏ… mạnh mẽ hơn trước các biến cố có hại như thế nào, ta gọi X là một biến ngẫu nhiên biểu thị “độ liên lụy bất ngờ”, nguồn gây ra tình trạng bất định (đối với Société Général, biến số này là trạng thái đầu tư mà họ không biết, đối với một công ty, nó có thể là nhu cầu bức bách phải có hàng trong kho vv…). Giả định quy mô của thiệt hại bất ngờ này tỷ lệ với quy mô của đối tượng nghiên cứu — vì đối tượng nhỏ hơn sẽ tham gia vào những giao dịch nhỏ hơn so với những đối tượng lón. Để biểu thị phân phối xác suất, ta ký hiệu biến số về mọi độ liên lụy bất ngờ là ΣXi, trong đó X là các biến ngẫu nhiên độc lập, có quy mô đơn giản là Xi= XN. Với k là độ rộng đuôi và α là số mũ đuôi, ta có hàm phân phối π(k, a, X) = α kα x1-α. Phân phối Pareto với N lần xoắn cho tổng trạng thái bất ngờ là NΣXi: n(kN, α, X)N trong đó N là số lần xoắn của phân phối. Trị trung bình của hàm phân phối, bất biến theo N, là α k/(α-1).

Tổn thất do tình thế bắt buộc và chi phí phát sinh: Đối với hàm thiệt hại, gọi C[X]= -b Xβ, trong đó chi phí thiệt hại là hàm lõm theo X. Lưu ý rằng đối với những độ lệch nhỏ, β = 3/2 trong tư liệu nghiên cứu về cấu trúc vi mô và thực hiện dự án.

Phân phối xác suất của thiệt hại: Vì ta quan tâm đến phân phối của y, nên ta thực hiện việc biến đổi biến ngẫu nhiên. Thiệt hại y=C[X] có hàm phân phối là: π[C-1[x]]/C’[C-1[x]]. Lưu ý rằng nó là hàm phân phối Pareto với độ rộng đuôi kβ và số mũ đuôi αβ,

Image

hàm phân phối này có trị trung bình là:

Image

. Bây giờ ta tính hàm tổng: đối với tổng xoắn của N đối tượng, hàm phân phối tiệm cận trở thành:

Image

với trị trung bình (nhờ vào tính cộng) là một hàm số theo các biến số mà bao gồm N:

Image

. Nếu ta muốn kiểm tra tỷ số của tổn thất kỳ vọng trong các đuôi từ N=1 đến N=10 ứng với các giá trị khác nhau của tỷ số β trên β, tỷ số kỳ vọng cho 1 đơn vị trên 10 đơn vị

Image

sẽ phản ánh hiệu ứng “nhỏ là đẹp” giữa các mức độ lõm khác nhau.

TẬP VI: Phản đề

Tri thức phản đề (loại trừ, phủ định)

Bản đồ: Độc giả Jean-Louis, một nhà lập bản đồ, viết cho tôi: “Là người lập bản đồ, từ lâu tôi vốn biết rằng, nói chính xác, yếu tố then chốt để lập một bản đồ tốt lại là những thông tin mà bạn quyết định phải bỏ đi. Tôi giúp vô số khách hàng nhận ra rằng một bản đồ quá chính xác và chi tiết sẽ làm người ta rối trí.”

Imam Ai: Nahj-el-Balagha, Letter. 31.

Thánh Moses không có khả năng cải thiện nghịch cảnh: Chúa Trời — thánh Abrahamic- Mosaic (của các tín đồ Do Thái, Ki-tô giáo, và Hồi giáo) — tiêu biểu cho tính mạnh mẽ và không thể sai lầm. Lưu ý rằng trái với ấn tượng ban đầu, bản chất của sự hoàn hảo là tính mạnh mẽ, chứ không phải khả năng cải thiện nghịch cảnh. Tôi nhận được nhiều tin nhắn cho rằng Chúa Trời (của người Levant) nên được xếp vào nhóm có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Theo các tôn giáo vùng Đông Địa Trung Hải thì đây sẽ là một sai lầm nghiêm trọng. Khả năng cải thiện nghịch cảnh đối với một vị Thượng đế xem ra chỉ có thể áp dụng cho thần thoại Babylon, Hy Lạp, Syria, và Ai Cập. Thần học của các tôn giáo độc thần vùng Levant, từ thần El (hay Al) của người Xêmít cho tới thánh Allah hiện đại, ở mức độ ít hơn, mà người ta thường gọi là Đức Chúa (the Lord) trong các kinh sách, từ Sáng thế ký (Genesis) cho đến kinh Koran, đã phát triển một định nghĩa ngày càng trừu tượng về Chúa Trời — vì thế, gần giống với định nghĩa về tính mạnh mẽ thuần túy hơn cả. Chúa Trời trong các tôn giáo độc thần chắc chắn là không mỏng manh, nhưng cũng không có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Theo định nghĩa, nhờ vào phẩm chất trừu tượng tối đa, Chúa Trời là thực thể không thể cải thiện hơn được nữa, là chính sự hoàn hảo rồi — chỉ có con người không hoàn hảo và cuối cùng phải chết mới có thể cải thiện hơn, do đó cần có khả năng cải thiện nghịch cảnh để cố gắng cải thiện. Trong kinh Koran, một trong những thuộc tính của Chúa Trời là Smd, từ này không có từ đồng nghĩa, ngay cả trong tiếng Ảrập, vì thế không thể dịch được; ý nghĩa của nó chỉ có thể được truyền đạt thông qua nhắc lại sự mô tả một phần. Smd là những gì đạt được mức độ hoàn hảo mà không phụ thuộc vào tình huống bên ngoài, bất kỳ người nào hay vật nào; một bức tường thành chống lại mọi tấn công; Chúa trời vượt qua khái niệm thời gian. Ý tưởng này cũng thể hiện trong các hệ thống Levant khác. Thần học chính thống, thông qua thần trí (theosis), tìm cách hòa nhập với Chúa trời, khát vọng vươn tới một mức độ hoàn hảo, để độc lập với mọi thứ khác.

Những điều cấm trong tôn giáo: Fourest và Venner (2010) trình bày một danh mục thuyết phục.

Steve Jobs: Beahm (2011).

Gladwell: “Nếu bạn cộng dồn toàn bộ hóa đơn bệnh viện của anh ấy trong 10 năm mà anh đã có, cũng như chi phí điều trị lạm dụng thuốc, chi phí bác sĩ, và các chi phí khác, Murray Barr có lẽ cũng có tổng chi phí y tế lón như bất kỳ ai ở bang Nevada. ‘Chúng ta phải tốn một triệu đôla để không làm gì về Murray,’ O’Bryan nói.” Gladwell (2009).

Sự xuyên tạc bóp méo và vấn đề quy nạp: Xem tài liệu tham khảo trong cuốn Thiên Nga Đen.

Hút thuốc và hiệu ứngy khoa tổng quát: Burch (2009).

Tính đồng dạng lặp: Mandelbrot (1983).

Cú sốc đối với những đối tượng giàcũ của Edgerton: Edgerton (2007).

Càng đơn giản càng tốt trong lý thuyết ra quyết định

Tính đơn giản và Steve Jobs: “Đó là một trong những câu thần chú của tôi — trọng tâm và đơn giản. Đơn giản còn khó hơn phức tạp: Bạn phải làm việc cật lực mới đạt được tư duy thuần khiết để trở nên đơn giản. Nhưng cuối cùng là xứng đáng vì một khi bạn đạt được khả năng đó, bạn có thể dòi núi lấp biển.” Business Week, 25 tháng 5 năm 1998.

Suy nghiệm là cách làm tắt hữu hiệu và cần thiết: Gigerenzer và Brighton (2009) vạch trần câu chuyện hoang đường như được trình bày trong tác phẩm The Selfish Gene (Gene ích kỷ) của Richard Dawkins, trong đó chúng ta tìm được câu chuyện sau về một cầu thủ ở khu vực ngoài bắt được bóng: “Anh hành xử như thể anh đã giải được một hệ phương trình vi phân trong việc dự đoán đường bay của quả bóng… Ở mức độ tiềm thức nào đó, về mặt chức năng, có điều gì tương tự như những phép toán đang diễn ra.”

Không hoàn toàn như thế đâu, giáo sư Dawkins. Gerd Gigerenzer và những người khác phản biện thông qua lập luận rằng chẳng có điều gì đại loại như thế đã xảy ra. Họ viết như sau:

Thay vì thế, thực nghiệm cho thấy các cầu thủ dựa vào một vài quy tắc suy nghiệm. Quy tắc nhìn bóng là quy tắc đơn giản nhất và được áp dụng nếu quả bóng đã bay lên không trung: Nhìn chằm chằm vào quả bóng, bắt đầu chạy, và điều chỉnh tốc độ chạy sao cho góc nhìn vẫn không đổi. Một cầu thủ dựa vào quy tắc nhìn bóng có thể bỏ qua mọi biến số nhân quả cần thiết để tính toán đường bay của quả bóng — khoảng cách ban đầu, tóc độ, góc, lực cản không khí, tóc độ và hướng gió, và đường bóng xoáy, cùng những yếu tố khác. Thông qua chú ý vào một biến số duy nhất, cuối cùng cầu thủ sẽ đến đúng chỗ quả bóng rơi xuống mà không cần phải tính toán chính xác.

Quy tắc suy nghiệm này cũng được các loài động vật áp dụng để bắt mồi và chặn những con thú khác. Khi săn đuổi và ăn thịt con mồi, doi, chim và chuồn chuồn duy trì một góc nhìn không đổi giữa chúng và con mồi, chó cũng thế khi chúng đuổi bắt những chiếc đĩa ném.

Những ví dụ khác:

Để chọn bạn đòi, các nàng công mái sử dụng một quy tắc suy nghiệm: Thay vì tìm hiểu mọi chàng công trống đang thể hiện sự nôn nóng tán tỉnh để thu hút sự chú ý của công mái, hay cân nhắc và cộng thêm mọi tính cách nam giới để tính toán chàng nào có độ thỏa dụng kỳ vọng cao nhất, nàng công mái chỉ khảo sát ba hay bốn chàng công trống, và chọn ra chàng nào có số chấm đen trên đuôi công nhiều nhất.

Cũng như con người. Thêm một ví dụ khác:

Để xác định vùng làm tổ, một khe hẹp trong một tảng đá, con kiến không có thước đo nhưng có một quy tắc suy nghiệm: Chạy xung quanh theo một lộ trình bất thường trong một khoảng thời gian cố định đồng thời để lại một chất tiết (pheromone) dọc đường, rồi để yên đó. Quay lại, lại đi vòng quanh theo một lộ trình bất thường khác, và ước lượng vùng làm tổ thông qua tần suất chạm trán với lộ trình cũ. Quy tắc suy nghiệm này chính xác đáng kể.

Tư liệu khác: Czerlinski và Gigerenzer và những người khác (1999), Goldstein và Gigerenzer (1999), Gigerenzer (2008).

Makridakis, dự báo, và càng đơn giản càng tốt: Makridakis và những người khác (1982, 1993), Makridakis và Hibon (2000), Makridakis và Taleb (2009).

Suy nghiệm để đo lường rủi ro: Taleb, Canetti và những người khác (2012) — với nhân viên IMF.

Hiệu ứng Lindy và các chủ đề liên quan

Hiệu ứng Lindy được chứng minh trong nghiên cứu của Mandelbrot (1997). Thoạt đầu, ông sử dụng nó trong sáng tạo nghệ thuật, bị giới hạn bỏi cuộc đời của đạo diễn. Khi chúng tôi thảo luận về sự kết thúc cuộc đời của nhà đạo diễn, tôi gợi ý về sự phân loại đối tượng có thể lụi tàn và không thể lụi tàn, và ông đồng ý rằng đối tượng không thể lụi tàn sẽ phân phối lũy thừa trong khi đối tượng có thể lụi tàn (câu chuyện ban đầu của Lindy) chỉ như một phép ẩn dụ. Tùy thuộc vào việc lập điều kiện cho hiểu biết của ta về thời gian sống ban đầu, tuổi thọ còn lại trong phân phối lũy thừa không đổi bất kể điều kiện tương lai như thế nào, vì sự tăng lên theo thời gian theo quy tắc lũy thừa từ lúc bắt đầu, theo hệ số (a/1-a), trong đó a là số mũ đuôi; còn trong trường hợp phân phối Gaussian hay bán-Gaussian, tuổi thọ giảm xuống.

Gott: Gott (1993, 1994) trình bày ý tưỏng Copernic nhưng lập điều kiện xác suất phù hợp; được điều chỉnh trong nghiên cứu của Caves (2000). Đọc thêm thảo luận của Rees (2003), và việc xử lý nghịch lý trong nghiên cứu Bostrom (2002).

Những bài báo còn tồn tại và các thuộc tính phân phối: Các phân phối theo quy tắc lũy thừa thường bị nhầm là phân phối lũy thừa, do thiếu số liệu về các đuôi phân phối. Vì thế, tôi giả định tiên nghiệm rằng một phân phối lũy thừa có thể là phân phối theo quy tắc lũy thừa, nhưng không giả định điều ngược lại, vì sai lầm theo chiều ngược lại hiếm khi xảy ra. Pigolotti và những người khác (2005). Về các đế chế, tìm đọc nghiên cứu của Arbesman (2011), Khmaladze và những người khác (2007, 2010), Taagepera (1978, 1979). Về các công ty: Fujiwara. Đọc thêm nghiên cứu của Turchin (2003, 2009).

Thời gian tồn tại kỳ vọng có điều kiện theo các loại hàm phân phối: Sornette và Knopoff (1997). Một cách nghịch lý, họ cho ta thấy, người ta chờ đợi động đất càng lâu, dự kiến họ càng phải chờ đợi lâu hơn.

Chứng cuồng hiện đại khác

Le Corbusier. Christopher Caldwell, “Revolting High Rises,” New York Times, 27 tháng 11 năm 2005.

Cairns và các đại lượng đo lường cổ đại: Cairns (2007). Nghiên cứu của Cairns đã thu hút sự chú ý của tôi thông qua Yoav Brand khi anh ân cần trao tặng tôi quyển sách của Cairns sau một bài giảng.

Thiết kế phi mục đích luận: Các công trình xây dựng biến hình và thay đổi như thế nào trong nghiên cứu của Brand (1995).

Con chó: Moral, ii. 11; 1208 b 11. “Và khi ông nói con chó có thói quen luôn ngủ trên cùng một ô gạch, người ta hỏi Empedokles tại sao con chó luôn ngủ trên cùng một ô gạch, ông đáp, con chó có sự tương đồng nào đó đối với ô gạch, nên sự tương đồng là lý do dẫn đến hành động tái diễn thường xuyên.”

Thảo luận triết học và tổng quát về y học

Medicina soror philosophiae: về lịch sử y học chiêm nghiệm, tìm đọc nghiên cứu của Mudry (2006), Pigeaud (2006); Camguillem (1995) thảo luận về thiệt hại do người điều trị gây ra. về linh hồn, tìm đọc nghiên cứu của Pager (1996), Bates (1995).

Ykhoa Hồi giáo: Porman và Savage-Smith (2007), Djebbar (2001).

De motu animali và nỗ lực toán học hóa lĩnh vựcy khoa: Trong nghiên cứu của Wear (1995). Tôi xin nhắc lại: toán học là tốt, nhưng toán sai thì không tốt.

Yhọc cổ đại: Edelstein (1987), Lonrig (1998). Tác phẩm Yhọc cổ đại (Ancient Medicine) của Vivian Nutton (Nutton [2004]) có nhiều thông tin bổ ích, nhưng gần như không nói gì về những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm, và cũng không trình bày chi tiết về các thông lệ thực hành cổ đại ngoài một vài chuyên luận tiêu chuẩn. Tìm đọc thêm về y học (trường phái hoài nghi và trường phái phương pháp) trong nghiên cứu bất hủ của Zeller (1905) hay thậm chí tốt hơn trong tác phẩm tuyệt vòi Les Sceptiques Grecs (Người Hy Lạp hoài nghi) của Brochard.

Quả cam: Như tên gọi trong tiếng Hy Lạp hiện đại, portokali, biến âm từ “Portuguese” (Bồ Đào Nha) — biến âm Hơn nữa trong tiếng Ảrập vùng Levant thành burduqan, và mang tên đó trong phương ngữ Sicil.

Các quy tắc suy nghiệm y khoa: Palmieri (2003).

Thòi Trung cổ và Phục hưng: French (2003).

Lịch sử tổng quát: Conrad và những người khác (1995), Porter (2002, 2003), Meslin và những người khác (2006), Kennedy (2004).

Thiệt hại do người điều trị gây ra (latrogenics): Nghiên cứu của Sharpe và Faden (1998) hoàn chỉnh nhất; Illich (1995) trình bày về phong trào đầu tiên; Hadler (2009) thảo luận về cái lưng, Duffin (1999), Welsh và những người khác (2011) nghiên cứu về việc chẩn đoán quá mức (nhưng không lập luận gì về độ nhiễutín hiệu và sàng lọc), Lebrun (1995).

Vấn đề xung đột quyền lợi giữa người đại diện và người ủy quyền, và thiệt hại do nguòi điều trị gây ra: Chỉ đơn cử một ví dụ ngẫu nhiên: “Các bác sĩ phẫu thuật thực hiện nhiều ca phẫu thuật hơn nếu họ tham gia trong hội đồng quản trị của các trung tâm phẫu thuật,” 22 tháng 6 năm 2012, “The Daily Stat”, Harvard Business Review.

Thiệt hại do người điều trị gây ra buồn cười hơn khi nhìn từ góc độ lịch sử Gustave Jules A. Witkowski, 1889, Le mal qu’on a dit des médecins.

Chủ nghĩa duy lý hay y học dựa trên nguyên lý của Galen (Galenism): Garicia-Ballester (1995).

Montaigne: “Mais ils ont cet heur, selon Nicocles, que le soleil esclaire leur succez, et la terre cache leur faute; et, outre-cela, ils ont une fafon bien avantageuse de se servir de toutes sortes d’evenemens, car ce que la fortune, ce que la nature, ou quelque autre cause estrangere (desquelles le nombre est infini) produit en nous de bon et de salutaire, c’est le privilege de la medecine de se l’attribuer. Tous les heureux succez qui arrivent au patient qui est soubs son regime, c’est d’elle qu’il les tient. Les occasions qui m’ontguery, moy, et quiguerissent mille autres qui n’appellent point les medecins à leurs secours, ils les usurpent en leurs subjects; et, quant aux mauvais accidents, ou ils les desavouent tout à fait, en attribuant la coulpe au patient par des raisons si vaines qu’ils n’ontgarde de faillir d’en trouver tousjours assez bon nombre de telles. …” [Lưu ý việc tìm kiếm tâm lý đổ lỗi cho hoàn cảnh.]

On demandoit à un Lacedemonien qui l’avoit fait vivre sain si long temps:L’ignorance de la medecine, respondit il.

Et Adrian l’Empereur crioit sans cesse, en mourant, que la presse des medecins l’avoit tué.

Y học thay thế hiện đại: Singh và Edzard (2008) — họ đã dấn thân và chấp nhận rủi ro về phía mình trong cuộc chơi, vì họ đã bị thưa kiện vì điều đó.

Phép vi lượng đồng căn và bằng chứng thực nghiệm: Goldacre (2007). Đọc thêm tác phẩm rất đáng đọc Bad Science, Goldacre (2009).

Yhọc hiện đại dựa vào bằng chứng. Sổ tay của Sacket và những người khác (1998). Nhược điểm của các phương pháp duy lý, Silverman (1999), Gauch (2009), Sestini và Irving (2009).

Chườm lạnh: Collins (2008): “Chỉ có bằng chứng không đầy đủ về việc chườm lạnh giúp cải thiện kết quả lâm sàng trong điều trị tổn thương mô mềm.” Tôi không thể tìm được bài báo nào nói điều ngược lại. Lợi ích mang lại xem ra ít ỏi đến mức ngay cả chút vui cũng không có.

Mối quan hệ có dạng lồi về huyết áp: Số liệu từ nghiên cứu của Welch và những người khác (2011).

Bất đẳng thức Jensen và ống thở: Brewster và những người khác (2005), Graham và những người khác (2005), Mutch và những người khác (2007).

Paracelsus: Vị bác sĩ người Thụy Sĩ gốc Đức với tính cách thú vị như một kẻ nổi loạn; nhưng than ôi, xem ra đã bị những người cổ xúy phép vi lượng đồng căn chiếm đoạt ý tưởng như trong nghiên cứu của Coulter (2000). Tiểu sử trong nghiên cứu của Ball (2006), Bechtel (1970), Alendy (1937).

Trở thành bất tử Gray (2011).

Stendhal: Le Rouge et le noir: “La besogne de cette journée sera longue et rude, fortifions-nous par un premier déjeuner; le second viendra à dix heures pendant la grand’messe. ” Chapitre XXVIII.

Các chủ đề y khoa cụ thể

Lưu ý rằng mối quan ngại của tác giả không phải là về bằng chứng mà đúng hơn, là về việc không có bằng chứng và cách xử lý vấn đề này của các nhà nghiên cứu. Trọng tâm là tìm kiếm những mối quan hệ có dạng lồi bị bỏ sót.

Tác dụng của chất làm ngọt có hàm lượng calori thấp: Ta có được nhiều thông tin thông qua xem xét nghiên cứu của những người bảo vệ lợi ích nhóm. De la Hunty và những người khác (2006) chứng tỏ “ưu điểm” của đường hóa học bằng phương pháp phân tích tổng hợp nhưng tập trung vào phương pháp tính calori đầu vào và đầu ra, chứ không phải về việc tăng cân chung. Nhưng đọc kỹ, ta phát hiện ra điều cốt lõi bị bỏ sót: “Sự bù đắp phần nào năng lượng thay thế có xảy ra, nhưng chỉ khoảng một phần ba năng lượng thay thế và có thể ít hơn khi sử dụng những thức uống nhẹ được làm ngọt bằng đường hóa học. Tuy nhiên, giá trị bù đắp này được suy ra từ các nghiên cứu ngắn hạn.” Hiển nhiên, bài báo được tài trợ bỏi một nhà sản xuất đường hóa học. Một nghiên cứu hay hơn của Anderson và những người khác (2012), nhưng bị hỏng bỏi sự xung đột quyền lợi (các tác giả được các công ty thực phẩm hỗ trợ), đã đi đến kết luận: “Không có bằng chứng cho thấy chất làm ngọt có hàm lượng calori thấp là nguyên nhân gây tăng cân ỏ người trưỏng thành. Tương tự, người ta cũng không có bằng chứng xác nhận vai trò kiểm soát cân nặng của chất làm ngọt.” Câu cuối cùng là câu duy nhất tôi chú ý, vì đó là bằng chứng “đi ngược lại lợi ích của người nêu bằng chứng”. Nếu chất làm ngọt có lợi, ắt hẳn chúng ta đã biết. Nói cách khác, chúng ta đang gánh chịu thiệt hại do can thiệp gây ra khi sử dụng những chất làm ngọt-không-calori này mà không có bằng chứng gì cho thấy chúng có tác dụng, tính đến thời điểm năm 2012!

Liệu pháp làm quen với yếu tố gây hại và cải thiện sức khỏe nhờ yếu tố gây hại (Hormesis): Trong nghiên cứu của Pliny, Kaiser (2003), Rattan (2008), Calabrese và Baldwin (2002, 2003a, 2003b). Lưu ý rằng họ bỏ sót lập luận về tính lồi và sự sai lệch so với chuẩn mực, nên liệu pháp Hormesis chỉ là sự phục hồi trạng thái bình thường.

Tuyệt thực và cải thiện sức khỏe nhờ yếu tố gây hại: Martin, Mattson và những người khác (2006). Điều trị ung thư và tuyệt thực, Longo và những người khác (2008), Safdie và những người khác (2009), Raffaghelo và những người khác (2010)); về nấm men và tuổi thọ trong điều kiện hạn chế, Fabrizio và những người khác (2001); SIRT1, Longo và những người khác (2006), Michan và những người khác (2010); nghiên cứu tổng quan của Blagosklonny và những người khác (2010).

Định nghĩa về liệu pháp cải thiện sức khỏe nhờ yếu tố gây hại: Mattson (2008) về định nghĩa cục bộ, Danchin và những người khác (2011) về cách tiếp cận theo hệ phức hợp.

Lão hóa, trường thọ, và cải thiện sức khỏe nhờ yếu tố gây hại: Một nghiên cứu cực kỳ phong phú, Radak và những người khác (2005), Rattan (2008), Cypster và Johnson (2002); Gems và Partridge (2008), Haylick (2001), Masoro (1998), Parsons (2000); về sung tấy và Alzheimer, Finch và những người khác (2001).

Mật độ xương và tải trọng. Dook (1997) đối với phụ nữ, Andreoli và những người khác (2001) đối với vận động viên nói chung; Scott, Khan, và những người khác (2008) đối với việc tập thể dục tổng quát. Lão hóa đối với phụ nữ: Solomon (1997), Rautava và những người khác (2007); Conroy và những người khác (1993) đối với phụ nữ trẻ.

Mật độ xương và việc đi xe đạp: Nichols và những người khác (2003), Barry và những người khác (2008).

Mật độ xương và việc nâng tạ kiểu Olympic: Một số nghiên cứu về nâng tạ đã đánh đồng giữa bài tập sức bền đối với máy móc và việc nâng tạ tự nhiên thực tế giúp gây căng thẳng cho bộ xương. Nghiên cứu của Conroy và những người khác (1993) là một nghiên cứu vững chắc về mặt sinh thái vì nó tập trung vào sức nặng.

Tuyến giáp: Earle (1975).

Cholesterol: Quan điểm không ngây ngô của Scanu và Edelstein (2008).

Lewontin và tuổi thọ kỳ vọng: Lewontin (1993). Tôi có ý tưởng về tính không xác thực của ước lượng của Lewontin và được hướng dẫn chuyển sang số liệu CDC từ một bài báo nào đó trên mạng mà tôi không thể nhó ra.

Ngoài trời nhưng không phải thể thao: Rose và những người khác (2008) cho rằng dành nhiều thời gian sinh hoạt ngoài trời, nhưng không phải chơi thể thao, gắn liền với khúc xạ trung bình viễn thị hơn và đỡ cận thị hơn, sau khi điều chỉnh các biến số khác như công việc nhìn gần, cận thị của cha mẹ, và sắc tộc.

Các nghiên cứu “nói nhảm thần kinh” “những hình ảnh cộng hưởng từ hấp dẫn của bộ não”: Weisberg (2008), McCabe (2008), cũng như “khoa học thần kinh và quy luật”, báo cáo của Hội Hoàng gia Anh (UK. Royal Society). Lưu ý rằng tác giả Jonah Lehrer sử dụng hình ảnh cộng hưởng từ của bộ não rất hữu hiệu, xây dựng thành một câu chuyện phóng tác về bộ não, đóng vai trò ngụy biện liên tưởng hoàn toàn cho đến khi người ta phát hiện ra ông sáng tạo ra cả câu chuyện lẫn dữ liệu xác nhận cho nó.

Áp lực tạo ra doanh thu đối với các nha sĩ. “Dental Abuse Seen Driven by Private Equity Investments” (Lạm dụng nha khoa được xem là chịu ảnh hưởng của đầu tư vốn sở hữu tư nhân”), Sydney P. Freedberg, Bloomberg News, 17 tháng 5 năm 2012.

Ý nghĩa thống kê: Nói đơn giản, ngành khoa học xã hội không nên sử dụng số liệu thống kê, cũng hệt như một nhà kế toán không nên cầm dao mổ của bác sĩ phẫu thuật. Vấn đề hiểu sai ý nghĩa thống kê đã ảnh hưởng đến các chuyên gia. Tìm đọc nghiên cứu của McCloskey và Ziliak (1996), Ziliak và McCloskey (2008), Soyer và Hogarth (2011), Kahneman và Tversky (1971), Taleb và Goldstein (2012).

Những người thực hành và các nhà lý thuyết trong toán tài chính không hiểu khái niệm cơ hãn trong thống kê bất chấp mọi quảng bá ầm ũ Bằng chứng trong nghiên cứu của Taleb và Goldstein (2007).

Bỏ qua tính phi tuyến của mối quan hệ giữa kết quả và liều lượng: Trường hợp chiếu bức xạ khá rõ ràng, Neumaier và những người khác (2012). “Mô hình tiêu chuẩn đang sử dụng hiện nay vẫn áp dụng thước đo tuyến tính, ngoại suy rủi ro ung thư từ liều cao đến liều thấp của bức xạ ion hóa. Tuy nhiên, phát hiện của chúng tôi về hiện tượng gãy ADN chuỗi kép (DSB, double strand break) ở những khoảng cách lớn khiến chúng tôi nghi ngờ giả định chung cho rằng rủi ro trước bức xạ ion hóa tỷ lệ với liều lượng; và thay vì thế, phát hiện này cho thấy một cơ chế có thể giúp giải quyết một cách chính xác hơn vấn đề phụ thuộc vào liều lượng của bức xạ ion hóa.” Khả năng cải thiện sức khỏe nhờ bức xạ ion là ý tưởng cho rằng: bức xạ liều thấp giúp tạo ra phản ứng vượt bậc giúp cải thiện sức khỏe với tác dụng bảo vệ. Xem thêm nghiên cứu của Aurengo (2005).

Nhóm thuốc Statins và hiệu ứng lồi: Ví dụ, với nhóm thuốc statin thường được kê đơn để giảm mỡ máu, cho dù kết quả có ý nghĩa thống kê đối với một nhóm người nhất định, tác dụng này chỉ ở mức nhỏ. “Nam giới có nguy cơ cao trong độ tuổi 30-69 được khuyên rằng, người ta điều trị khoảng 50 bệnh nhân trong năm năm mà chỉ ngăn ngừa được một biến cố [tim mạch]” Abramson và Wright, 2007).

Tác dụng phụ của nhóm thuốc Statins và những rủi ro ngầm ẩn (ít nhiều): Các tác dụng phụ là tổn hại về cơ và xương hay chỉ bị đau trong nghiên cứu của Women, Speed và những người khác (2012). Đánh giá tổng quát, Hilton-Jones (2009), Hu Chung và những người khác (2012). Roberts (2012) trình bày một khía cạnh khác về mối quan hệ có dạng lồi giữa kết quả điều trị và độ nghiêm trọng của bệnh, dẫn đến thiệt hại trong những trường hợp bệnh nhẹ. Fernandez và những người khác (2011) cho thấy các ca thử nghiệm lâm sàng không phản ánh rủi ro gây hại về co. Blaha và những người khác (2012) cho thấy “rủi ro gia tăng đối với những bệnh nhân khỏe mạnh”. Mặt khác, Reedberg và Katz (2012); Hamazaki và những người khác: “Tác dụng tuyệt đối của nhóm thuốc statins đối với việc tử vong vì mọi nguyên nhân thì tương đối nhỏ, nếu có.”

Harlan Krumholz, Forbes, 29 tháng 4 năm 2011: Vấn đề nằm ở chỗ, những loại thuốc giúp cải thiện kết quả xét nghiệm máu không chắc giúp giảm nguy cơ. Ví dụ, nhiều loại thuốc làm giảm LDL (low density lipids, mỡ xấu) hay tăng HDL (high density lipids, mỡ tốt) hay giảm lượng đường trong máu hay giảm huyết áp, trái với mọi kỳ vọng, không chắc giúp giảm nguy cơ — và trong một số trường hợp, những loại thuốc này còn làm tăng nguy cơ.

Điều này đặc biệt đúng khi ta xem xét các phương án điều trị để ngăn ngừa một biến cố tương lai như đau tim. Đáng tiếc thay, mặc dù nhiều loại thuốc ảnh hưởng đến các yếu tố nguy cơ, các nghiên cứu tìm hiểu xem liệu bệnh nhân có được lợi hay không thì hoặc không được thực hiện hoặc bị trì hoãn. Đây là trường hợp của ezetimibe, một hoạt chất của công ty Merck có tác dụng làm giảm LDL. Vì việc nghiên cứu trong đó bao gồm thông tin về kết quả bệnh nhân chỉ hoàn tất khi ezetimibe hết thời hạn bảo vệ bằng phát minh, nên ta sẽ không biết nó thật sự ảnh hưởng đến nguy cơ như thế nào trong một vài năm nữa. Việc phê duyệt và bán loại thuốc hàng tỉ đôla này chỉ dựa vào tác dụng của nó đối với xét nghiệm máu.

Dù vậy, với fibrates, ta may mắn hơn. Người ta đã thực hiện nghiên cứu về kết quả đối với bệnh nhân; và fenofibrate, thuốc của hãng Abbott đã được kiểm nghiệm hai lần trong những nghiên cứu lón. Trong cả hai trường hợp, thuốc này đều không giúp giảm nguy cơ của những bệnh nhân đã uống kể cả khi nó có tác dụng làm giảm mức triglyceride. Gần đây nhất, trong một đợt thử nghiệm trị giá 300 triệu đôla của Viện Y tế quốc gia, người ta không tìm được lợi ích gì đối với thuốc của Abbott khi kết hợp với statin — điều này lại càng đáng quan ngại hơn bởi tác hại cho thấy đối với phụ nữ. Mối quan ngại trên đủ cao để thôi thúc Cục Quản lý dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) triệu tập ủy ban cố vấn nhằm xem xét các phát hiện.

Cột sống: McGill (2007); tác hại do phẫu thuật hay gây tê ngoài màng cứng, Hadler (2009), Sayre (2010).

Các cuộc đình công của bác sĩ: Có một vài sự kiện đình công ở bệnh viện, dẫn đến việc trì hoãn các cuộc phẫu thuật được chọn nhưng không trì hoãn những ca khẩn cấp. Số liệu không nhiều, nhưng có thể giúp ta thấu hiểu nếu được lý giải thông qua phương pháp phản đề. Nghiên cứu của Argeseanu và những người khác (2008) đã rút ra tác dụng của phẫu thuật có chọn lọc.

Bệnh tiểu đường và điều trị dược lý (nghiên cứu ACCORD): Nghiên cứu ACCORD (Action to Control Cardiovascular Risk in Diabetes: Chương trình hành động kiểm soát rủi ro tim mạch trong bệnh tiểu đường) không tìm thấy lợi ích gì trong việc giảm số đo hàm lượng đường glucose trong máu, hay các số đo khác — điều này xem ra còn kém rõ ràng hơn so với một vấn đề về đường đơn giản được điều trị bằng phương pháp dược lý. Tài liệu tổng họp của Skyler và những người khác (2009); tài liệu về các phương pháp cũ của Westman và Vernon (2008).

Thảo luận về tiểu đường và ăn kiêng: Taylor (2008), đảo ngược trong nghiên cứu của Lim và những người khác (2011), Boucher và những người khác (2004), Shimakuru và những người khác (2010); quản lý bệnh tiểu đường chỉ bằng cách ăn kiêng, những hiểu biết ban đầu trong nghiên cứu của Wilson và những người khác (1980). Couzin, “Deaths in Diabetes Trial Challenge a Long-Held Theory” (Tử vong trong thử nghiệm bệnh tiểu đường thử thách một lý thuyết lâu đòi), Science 15 (tháng 2 năm 2008): 884-885. Điều trị tiểu đường và phẫu thuật chữa béo phì (hay phẫu thuật khác): Pories (1995), Guidone và những người khác (2006), Rubino và những người khác 2006.

Hiện tượng tự tiêu đối với ung thư. Kondo và những người khác (2005).

Hiện tượng tự tiêu (tổng quát): Danchin và những người khác (2011), Congcong và những người khác (2012).

Bất đẳng thức Jensen trongy khoa và luyện tập: Nhiều người như Schnohr và Marott (2011) đã nghiên cứu việc chạy nước rút cực độ và không làm gì cả (như một chiến lược nước đôi) sẽ giúp ích cho sức khỏe tốt hơn so với tập thể dục đều đặn, nhưng họ không phát hiện ra độ lệch lồi.

Art De Vany và bất đẳng thức Jensen: Art De Vany, trao đổi thư riêng: “Lọi ích đối với mô tăng dần nhưng có dạng lồi theo lượng dinh dưỡng hấp thu (đồ thị biểu diễn là đường cong tăng dần, nhưng có độ dốc giảm dần). Đây hẳn là trường hợp mà điểm xuất phát là một giải pháp ở trạng thái dừng. Điều này ngụ ý rằng mức tăng cân (bao gồm mỡ) ứng với lượng hấp thu bình quân sẽ cao hơn so với mức tăng cân ứng với lượng dưỡng chất và calori tương đương nhưng được hấp thu một cách biến thiên. Mô cơ và mô mỡ sẽ cạnh tranh dưỡng chất với nhau, nên một người béo hơn sẽ thay đổi sự phân chia dưỡng chất hướng tới cơ nhiều hơn vì lượng mỡ trong cơ thể dẫn đến kháng insulin trong cơ. Insulin vận hành theo cơ chế giải phóng theo nhịp và hữu hiệu hơn nhiều so với cơ chế tăng thường xuyên thông qua sáu bữa ăn một ngày. Ngược lại, khi ta giảm mỡ và cơ (giảm cân), đường biểu diễn có độ dốc âm và độ dốc cũng giảm dần (dạng lõm). Điều này có nghĩa là khi ăn kiêng theo cơ chế không liên tục, bạn sẽ giảm mỡ nhiều hơn so với khi ăn kiêng theo cơ chế liên tục: Giảm mỡ ứng với lượng hấp thu bình quân (việc ăn sáu bữa một ngày sẽ duy trì sự biến thiên nhỏ, theo cơ chế liên tục) sẽ ít hơn so với giảm mỡ ứng với cùng lượng dinh dưỡng hấp thu, nhưng bữa ăn nhiều, bữa ăn ít (cơ chế không liên tục). Một điểm tinh tế hơn: khi bạn ăn kiêng theo cơ chế bình quân, bạn giảm cân nhiều hơn hơn so với khi bạn ăn kiêng theo cơ chế không liên tục, nhưng đó là vì khi nhịn đói thường xuyên, bạn mất nhiều cơ hơn hơn so với khi nhịn đói không liên tục. Như vậy, cơ chế ăn kiêng không liên tục giúp mang lại kết cấu cơ thể ưu việt hơn.”

Nhịn đói, tuyệt thực không liên tục, và lão hóa: về sức bền của nơron thần kinh và lão hóa não, xem nghiên cứu của Anson, Guo, và những người khác (2003), Mattson và những người khác (2005), Martin, Mattson và những người khác (2006), Halagappa, Guo, và những người khác (2007), Stranahan và Mattson (2012).

Hạn chếcalori! Harrison (1984), Wiendruch (1996), Pischon (2008).

Bài tập căng thẳng: Tổng họp tư liệu về tác dụng của tình trạng mất cân đối năng lượng không thường xuyên trong nghiên cứu của De Vany (2011), ông cũng xem xét hiệu ứng theo quy tắc lũy thừa.

Bỏ sót luận điểm là thuốc thang có tính chất phỏng đoán hơn: Stip (2010) dành thời gian xem xét các phương pháp thuận đề để kéo dài tuổi thọ với những câu chuyện dược phẩm phức tạp.

Đường glucose và ý chí: Lưu ý rằng ảnh hưởng của đường glucose làm người ta sắc sảo hơn và có ích cho ý chí từ các thực nghiệm của Baumeister, trong nghiên cứu của Kahneman (2011), có lẽ chỉ áp dụng cho những người thiếu năng lực chuyển hóa. Tìm đọc nghiên cứu của Kurzban (2011) tìm hiểu về các công cụ thống kê.

Các loại bệnh do thiếu tính ngẫu nhiên, nhu trình bày trong phần mở đầu: Yaffe và Blackwell (2004), Razay và Wilcock (1994); Alzheimer và hyperinsulenemia, Luchsinger, Tang, và những người khác (2004), Janson, Laedtke, và những người khác (2004).

Nhịn đói và bộ não: Stranahan và Mattson (2012). Niềm tin lâu nay rằng bộ não cần đường glucose, chứ không phải ketones, và bộ não không trải qua hiện tượng tự tiêu, được sửa sai một cách tích cực.

Tháng nhịn ăn trong Hồi giáo (ramadan) và tác dụng của tuyệt thực: Tháng nhịn ăn không thú vị, vì người ta chỉ nhịn ăn trong 12 giò, tùy theo mùa (người nhịn ăn từ bữa chiều đến bữa trưa có thể trải qua 17 giò không có thức ăn, mà tác giả này đã thực hiện). Hơn nữa, họ ngốn thức ăn ngay từ lúc bình minh và chất đầy bụng carbohydrate, các loại bánh kẹo vùng Tripoli (Libăng). Nhưng cũng có ý nghĩa nhất định. Trabelsi và những người khác (2012), Akanji và những người khác (2012).

Lọi ích của căng thẳng: về các tác dụng khác nhau của hai loại căng thẳng, ngắn ngủi và kinh niên, tìm đọc nghiên cứu của Dhabar (2009); về lợi ích của căng thẳng trong việc tăng cường miễn nhiễm và chống ung thư, xem nghiên cứu của Dhabhar và những người khác (2010), Dhabhar và những người khác (2012).

Tác hại của vệ sinh và loại trừ vi trùng một cách hệ thống: Rook (2011), Garner và những người khác (2006), Mégraud và Lamouliatte (1992) nghiên cứu về Helyobacter.

Nhóm người Paleo, De Vany, Gary Taubes, và bạn bè: Taubes (2008, 2011), De Vany (2011); nhân loại học tiến hóa, Carrera-Bastos và những người khác (2011), Kaplan và những người khác (2000).

TẬP VII: Khía cạnh đạo lý của tính mỏng manh và khả năng cải thiện nghịch cảnh

Thảo luận theo triết học hiện đại về chủ nghĩa tư bản: Không quan tâm đến một quy tắc suy nghiệm đơn giản như sự dấn thân và chấp nhận rủi ro về phía mình trong cuộc chơi, ngay cả trong những thảo luận sâu sắc như của Cuillerai (2009).

Lòng can đảm trong lịch sử. Berns và những người khác (2010).

Các đấu sũ Veyne (1999).

Hiệu ứng guồng quay. Lucretius, Nimirum quia non bene norat cpưe esset habendi / Finis, et omnino quoad crescat vera voluptas.

Nhóm và tập thể: Haidt (2012).

Adam Smith nói về chủ nghĩa tư bản: “Một từ mà ông không bao giờ nói tới”: Simon Schama, trao đổi riêng.

Báo cáo nguy hiểm của Stiglitz và những nguôi khác: Joseph E. Stiglitz, Jonathan M. Orszag, và Peter R. Orszag, “Implications of the New Fannie Mae and Freddie Mac Risk-based Capital Standard” (Ý nghĩa của tiêu chuẩn vốn dựa vào rủi ro của Fannie Mae và Freddie Mac) Fannie Mae Papers, tập I, ấn bản 2, tháng 3 năm 2002.

Meyer Lansky Được quy cho Ralph Salerno, cảnh sát điều tra thuộc Sở Cảnh sát New York về hưu, trong nghiên cứu của Ferrante (2011).

Các hoạt động trái đạo đức của ngành duợc, tìm kiếm bệnh nhân thay vì tìm kiếm cách điều trị: Những câu chuyện suy đồi trực tiếp và gián tiếp, nhất là trong lĩnh vực tâm thần. Một giáo sư tâm thần học ở trường Y Harvard nhận 1,6 triệu đôla từ ngành dược. “Nhờ có ông ta, giờ đây trẻ em mới hai tuổi đã được chẩn đoán là bị chứng rói loạn lưỡng cực…” Marcia Angell, The New York Review of Books. Angell từng là biên tập viên tờ báo The New England Journal of Medicine và mất lòng tin vào nhiều nghiên cứu lâm sàng. Thêm vào đó, tìm đọc về cách tiêu tiền vào “những vụ cá độ chắc chắn” với các loại thuốc quen thuộc, chứ không phải vào hoạt động nghiên cứu phỏng đoán trong nghiên cứu của Light và Lexchin (2012).

Các nghiên cứu đối lập nhau: Kahneman gợi sự chú ý của tôi vào các nghiên cứu của Malmendier và Tate (2008, 2009) cho thấy các nhà quản lý đầu tư nhiều hơn mức cần thiết vào các công ty của họ, nên đã dấn thân và chấp nhận rủi ro thái quá như một hệ quả của sự tự tin thái quá. Myron Scholes và Robert Merton đầu tư vào Quỹ Quản lý vốn dài hạn (LTCM). Điều đó là có thật, nhưng nhìn chung quyền chọn miễn phí vẫn chiếm ưu thế (chỉ cần đo lường tổng mức chi trả cho các nhà quản lý so với lợi ích đạt được bỏi các cổ đông là đủ rõ). Có những kẻ lừa đảo và những kẻ bị lừa bỏi ngẫu nhiên; ta thường quan sát thấy sự kết hợp. (Thực hiện: Nicolas Tabardel.)

Tính phi đối xứng và sự chiếm đoạt: Acemoglu và Robinson (2012) thảo luận tính phi đối xứng với khái niệm về môi trường và các thể chế kinh tế chiếm đoạt, trong đó người ta làm giàu bằng tổn thất của những người khác, trái với khuôn khổ cộng tác với mối quan hệ có dạng lồi, trong đó sự phồn vinh mang lại ổ bánh lợi ích cho nhiều thành phần. Tìm đọc về vai trò của các thể chế trong nghiên cứu của North (1990).

Chủ nghĩa xã hội xa hoa và vấn đề của Burnyeat: Riffard (2004), Burnyeat (1984), Wai-Hung (2002).

Sự mù quáng tập thể và trách nhiệm không rõ ràng: Trong thế giới động vật (loài kiến), Deneubourg, Goss và những người khác (1983), Deneubourg, Pasteels và những người khác (1983).

Cuộc sống và xã hội hóa ở Rome: Veyne (2001).

Con voi trong phòng: Những sự việc mà mọi người đều biết nhưng vẫn không được thảo luận. Zerubavel (2006).

Cái chết của những công ty lớn: hơn cả kỳ vọng, Greenwood và Suddaby (2006), nhận xét của Stubbart Knight (2006). Cách kiểm chứng tốt nhất là xem chỉ số S&P 100 hay S&P 500 và xem xét thành phần của các chỉ số này thay đổi theo thời gian như thế nào. Lẽ dĩ nhiên, cách khác là trong tư liệu nghiên cứu về các vụ sáp nhập công ty.

Tam sao thất bổn: Co chế mà qua đó đám đông làm trầm trọng thêm các ngụy biện, ảo tưỏng, và tin đồn, nghiên cứu tổng hợp của Sunstein (2009).

Vấn đề Alan Blinder. Bài báo đăng trên Wall Street Journal với sự xung đột quyền lợi không được phoi bày: “Blanket Deposit Insurance Is a Bad Idea” (Bảo hiểm tiền gửi phổ cập là một ý tưỏng dở) 15 tháng 10 năm 2008, đồng tác giả với R. Glenn Hubbard, hiệu trưởng trường Kinh doanh Đại học Columbia.

Kết quả so sánh của các doanh nghiệp gia đình: McConaughy và Fialco (2001), Le Breton-Miller và Miller (2006), Mackie (2001).

Dấn thân và chấp nhận rủi ro về phía mình trong cuộc chơi: Taleb và Martin (2012a).

Thao túng số liệu, dữ liệu lớn, và quyền chọn của nhà nghiên cứu vv…

Hiểu lầm trong tư liệu nghiên cứu khoa học xã hội: Sai lầm tiêu biểu, xem xét tình trạng không hiểu biết vấn đề thông qua những người quảng cáo ầm ĩ về ý tưỏng như Ayres (2007): “Bạn muốn tự bảo hiểm rủi ro cho việc mua chứng khoán của các công ty châu Âu? Hóa ra bạn nên bán một danh mục cân đối cẩn thận gồm 26 hàng hóa và cổ phiếu khác mà có thể bao gồm cổ phiếu Wal-Mart”, trang 11.

Cuộc vận động của Stan Young: Young và Carr (2011). Xem thêm nghiên cứu của Ioannides (2005, 2007).

Cam kết đức tin: Levi (1980).

Muối: Nghiên cứu rất thuyết phục của Freedman và Petitti (2001), dựa vào hình dung dữ liệu chứ không phải các số đo. Lưu ý “không tác giả nào tham khảo ngành muối”, loại vấn đề mà tôi đọc trước tiên.

Đồ thị về ngành dược khổng lồ: Theo mô phỏng Monte Carlo; sử dụng ngưỡng >0.1, hay vượt ra ngoài những mối tương quan được yêu thích trong khoa học xã hội (trên phương diện phân tích, thật khó thực hiện việc phân tích do cần có những ma trận lớn để vẫn ở trong miền giá trị từ giá trị dương đến vô cực). Mối quan hệ có dạng lồi vẫn không đổi (bất biến) theo ngưỡng tương quan.

Giải pháp cho định kiến của nhà nghiên cứu trong thử nghiệm lâm sàng: Goldacre (2009) đề xuất thành lập cơ sở dữ liệu của các thử nghiệm, buộc các nhà nghiên cứu phải ghi lại những thất bại của họ. Bất kể cơ chế nào cũng tốt hơn những gì ta có hiện nay.

Tập thể và tính mỏng manh: Sức mạnh của tập thể dựa vào lợi ích từ tính hiệu quả, nên cũng là tính mỏng manh: người ta bắt đầu thay thế phán đoán cá nhân bằng phán đoán tập thể. Điều này có tác dụng tốt — nó nhanh hơn và rẻ hơn (thế nên cũng hiệu quả hơn) so với khi một cá nhân tự mình sáng chế lại phương pháp cơ bản từ lâu đã được chấp nhận và thậm chí cho là đương nhiên (reinvent the wheel). Nhưng hệt như bất kỳ thứ gì vốn là một cách làm tắt, cuối cùng nó nổ tung ngay trước mặt ta. Trong thế giới ta sống, tác dụng này còn có tính chất lây lan — phạm vi càng lúc càng rộng hơn, tập thể biến thành cả thế gian.

Jobs và đạo đức thợ thủ công. Điều này làm tôi lo lắng: “Playboy: ‘Ông nói rằng những người chế tạo loại máy tính gia đình (PCjr: dòng máy tính đầu tiên của IBM thâm nhập thị trường hộ gia đình) không có niềm tự hào kiểu đó đối với sản phẩm?’ Jobs: ‘Nếu có, họ đã không chế tạo ra loại máy tính này.’” Playboy [nguyên văn], 1 tháng 2 năm 1985.

Vạch trần giả thuyết chiết khấu hyperbola: Read và Airoldi (2012).

Các thảo luận khác về “dữ liệu lớn” và các nhà nghiên cứu đánh bạc với hệ thống: Baumeister và những người khác (2007) nghiên cứu về việc tự báo cáo trong tâm lý học. Kerr (1998) nghiên cứu về giả thuyết theo sau các kết quả, và tương quan ngẫu nhiên trong nghiên cứu của Yauan và Maxwell; Yarkoni nghiên cứu về vấn đề M lớn (chiều không gian) và N nhỏ (dữ liệu).

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.