Lòng mộ đạo đối với những người vô thần - Tony Béo không uống sữa - Luôn luôn yêu cầu các nhà thơ giải thích về thơ của họ - Triết gia giả hiệu thầy tu truyền phép thần
Tony Béo tin rằng người ta hoàn toàn có lý do chính đáng khi buộc Socrates phải chết.
Chương này sẽ giúp ta hoàn tất phần thảo luận về sự khác nhau giữa tri thức có thể nhận thức bằng trí óc, được tường thuật, và loại tri thức kém rõ ràng hơn, được thăm dò hoàn toàn bằng hoạt động chỉnh sửa - hai cột trong bảng 4 tách biệt giữa lời nói và hành động. Có một tư tưởng sai lầm cho rằng sự việc luôn luôn có lý tính mà ta có thể tiếp cận và thấu hiểu một cách dễ dàng.
Quả thật, sai lầm nghiêm trọng nhất trong cuộc sống là lầm tưởng những gì ta không thể nhận thức bằng trí óc là những thứ phi trí tuệ - điều mà Nietzsche đã nhận ra. Theo một cách nào đó, điều này tương tự như vấn đề gà tây, lầm tưởng những thứ ta không nhìn thấy là không tồn tại, hay tương tự như sự đánh đồng giữa không có bằng chứng với bằng chứng không có.
Chúng ta đã rơi vào vấn đề gỗ xanh ngay từ lúc bắt đầu thời kỳ hoàng kim của triết học - ta đã thấy Aristotle hiểu sai về nguyên nhân thành công của Thales; bây giờ ta sẽ chuyển sang Socrates, người vĩ đại nhất trong những bậc thầy vĩ đại.
Plato trình bày tư tưởng của mình chủ yếu thông qua sử dụng một nhân vật mà rõ ràng đã trở thành triết gia ảnh hưởng nhất trong lịch sử, Socrates thành Athens, triết gia đầu tiên theo ý nghĩa hiện đại. Socrates không để lại tài liệu của riêng ông, vì thế ta biết về ông chủ yếu thông qua Plato và Xenophon. Và cũng như đối với Tony Béo, bạn là người viết tiểu sử tự chỉ định của anh, bạn chân thành cố gắng đáp ứng chương trình hành động riêng của Tony, dẫn đến làm méo mó tính cách của anh và tự trình bày một số ý tưởng của tác giả, vì thế tôi chắc chắn rằng Socrates của Plato sẽ mang nhiều tính cách của Plato hơn so với con người thật của Socrates.81
Trong một cuộc đối thoại triết học của Plato với tựa đề Euthyphro, Socrates đang ở bên ngoài tòa án, chờ phiên xử mà sau đó ông bị xử tử hình, thì nhà tiên tri và chuyên gia tôn giáo Euthyphro bắt chuyện với ông. Socrates bắt đầu giải thích rằng đối với những “hoạt động” mà ông bị tòa án kết tội (hủy hoại giới trẻ và du nhập những vị thần mới gây ảnh hưởng có hại cho những vị thần cũ), chẳng những ông không thu phí cho những bài giảng của mình, mà còn sẵn lòng trả tiền cho những ai lắng nghe ông.
Hóa ra Euthyphro đang sắp sửa cáo buộc cha mình tội ngộ sát, nên việc bắt chuyện quả là không tồi. Vì thế, Socrates bắt đầu bằng cách tự hỏi làm thế nào việc buộc cha mình ngộ sát lại phù hợp với nhiệm vụ tôn giáo của Euthyphro.
Kỹ thuật của Socrates là làm cho người đối thoại, người nêu lên một luận điểm, đồng ý với một loạt phát biểu của mình, rồi bắt đầu cho họ thấy những phát biểu mà họ đã đồng ý là không nhất quán với luận điểm ban đầu, qua đó kết luận rằng họ không có chút manh mối gì về điều họ đang nói tới. Socrates sử dụng phương pháp này chủ yếu để cho người ta thấy tình trạng thiếu rõ ràng trong suy nghĩ của họ, họ hiểu biết ít ỏi như thế nào về những khái niệm họ thường sử dụng - và nhu cầu cần có triết học để làm sáng tỏ những khái niệm này.
Trong phần mở đầu cuộc đối thoại Euthyphro, ông bắt gặp người đối thoại sử dụng từ “lòng mộ đạo”, mô tả việc buộc tội cha mình là một hành động ngoan đạo và vì thế gây ra ấn tượng rằng anh đang thực hiện việc cáo buộc trên cơ sở lòng mộ đạo. Nhưng anh không thể đi đến một định nghĩa thỏa đáng với Socrates. Socrates không ngừng gây khó cho anh chàng tội nghiệp vì anh không thể đưa ra một định nghĩa về lòng mộ đạo. Cuộc đối thoại tiếp tục với nhiều định nghĩa hơn (“sự chính trực đạo đức” là gì?) cho đến khi Euthyphro lịch sự cáo lỗi để rút lui. Cuộc đối thoại chấm dứt đột ngột, nhưng ấn tượng đối với độc giả có thể tiếp tục lưu lại cho đến ngày nay, 25 thế kỷ sau, mà giá như không có nó sẽ giúp ta đến gần hơn với bất luận điều gì.
Ta hãy mở lại cuộc đối thoại.
TONY BÉO VÀ SOCRATES
Tony Béo đối phó như thế nào trước việc sát hạch chéo của nhà hiền triết thành Athens nghiêm khắc? Vì bây giờ độc giả đã quen với nhân vật vạm vỡ của chúng ta, ta hãy xem thử cuộc đối thoại tương tự giữa Tony Béo và Socrates như một thực nghiệm tư duy, và lẽ dĩ nhiên, được dịch thuật một cách thỏa đáng.
Rõ ràng, có những điểm tương đồng giữa hai nhân vật. Cả hai đều có thời gian rảnh rỗi và tận hưởng thú nhàn nhã vô hạn, dù vậy, trong trường hợp Tony, thời gian rỗi là kết quả của sự hiểu biết mang lại lợi ích. Cả hai đều thích lập luận, và cả hai đều xem việc chuyện trò chủ động (thay cho tính thụ động của màn hình tivi hay các buổi hòa nhạc) là nguồn tiêu khiển chính. Cả hai đều không thích viết lách: Socrates không thích viết vì ông không thích tính cách định hình và bất biến gắn liền với những lời lẽ viết ra, khi đối với ông, những câu trả lời không bao giờ là câu trả lời sau cùng và không nên cố định. Không nên tạc một điều gì lên đá, thậm chí hiểu theo nghĩa đen: trong cuộc đối thoại Euthyphro, Socrates lấy làm kiêu hãnh về nhà điêu khắc tiền bối Daedalus, mà những bức tượng của ông trở thành người thật ngay sau khi được hoàn thành. Khi bạn nói với một trong những bức tượng của Daedalus, bức tượng sẽ đáp lời bạn, chứ chẳng phải câm lặng như những bức tượng bạn thấy trong Viện bảo tàng nghệ thuật thành phố New York. Về phần mình, Tony không thích viết lách vì những lý do không kém phần đáng kính: anh gần như bị đuổi học vì thi trượt phổ thông ở Bay Ridge, Brooklyn.
Những điểm tương đồng của hai người dừng lại ở đâu đó nhưng vẫn đủ tốt cho một cuộc đối thoại. Lẽ dĩ nhiên, ta có thể dự kiến một chút ngạc nhiên về phía Tony Béo khi đứng trước người mà Nero mô tả với anh là nhà hiền triết vĩ đại nhất mọi thời đại: Socrates nghe nói có một bề ngoài còn tệ hơn cả không hấp dẫn. Socrates thường được mô tả là người bụng bự, tứ chi mảnh khảnh, mắt lồi, mũi hếch. Ông trông có vẻ hốc hác. Thậm chí ông dường như còn bốc mùi, vì nghe nói ông ít tắm hơn nhiều so với những người bằng vai phải lứa khác. Bạn có thể hình dung Tony Béo chỉ vào ông mà chế nhạo: “Xem kìa Nero, cậu muốn tớ nói chuyện với… người lày?” Hoặc cũng không chắc là như vậy: Nghe nói Socrates có một phong thái tự tin và sự bình yên trong tâm hồn đến mức làm cho nhiều thanh niên cảm thấy ông “đẹp trai”.
Điều mà Nero chắc chắn là Tony Béo trước tiên sẽ đến gần Socrates và xác lập quan điểm của mình đối với nhà hiền triết sau khi vận dụng khứu giác để tìm hiểu ông - và như ta đã nói, Tony Béo thậm chí còn không nhận ra rằng đây là một phần trong phương thức hành động của anh.
Bây giờ giả sử Socrates hỏi Tony Béo anh định nghĩa như thế nào về lòng mộ đạo. Câu trả lời của Tony Béo gần như chắc chắn sẽ lạc đề - biết Socrates chẳng những thảo luận miễn phí mà còn sẵn lòng trả tiền cho cuộc trò chuyện, Tony Béo hẳn sẽ cho rằng người ta không cãi cọ lôi thôi với người sẵn lòng trả tiền cho mình để tranh luận với họ.
Nhưng sức mạnh của Tony Béo là anh không bao giờ để cho người khác dựng lên câu hỏi. Anh từng dạy Nero rằng câu trả lời được gieo trồng trong mọi câu hỏi; đừng bao giờ trả lời thẳng vào một câu hỏi vô nghĩa đối với bạn.
TONY BÉO: “Ông bảo tôi định nghĩa xem tính cách gì làm nên sự khác biệt giữa người ngoan đạo và người không ngoan đạo. Có thực là tôi cần phải có khả năng nói cho ông biết điều gì bộc lộ khả năng thực hiện một hành động ngoan đạo không?”
SOCRATES: “Làm thế nào cậu có thể dùng một từ như ‘lòng mộ đạo’ mà không biết ý nghĩa của nó là gì, trong khi giả vờ rằng mình biết ý nghĩa của nó?”
TONY BÉO: “Phải chăng thật sự tôi phải nói cho ông biết bằng tiếng Anh thô thiển đơn giản không phải gốc Hy Lạp, hay bằng tiếng Hy Lạp thuần túy, làm thế nào để chứng minh rằng tôi biết và hiểu ý nghĩa của nó? Tôi không biết diễn tả bằng lời nói nhưng tôi biết nó là gì.”
Rõ ràng Tony Béo sẽ đưa Socrates thành Athens đi xa hơn trên con đường riêng của anh và trở thành người chủ động đặt câu hỏi:
TONY BÉO: “Thử nói tôi nghe xem, thưa cụ. Liệu một đứa bé có cần phải định nghĩa sữa mẹ là gì thì mới biết nhu cầu phải uống sữa hay không?”
SOCRATES: “Không, không cần.”
TONY BÉO (sử dụng đúng phương thức lặp lại của Socrates trong các cuộc đối thoại của Plato): “Và Socrates kính mến, liệu một con chó có cần phải định nghĩa chủ của nó là ai thì mới trung thành với chủ hay không?”
SOCRATES (lúng túng khi có người đặt câu hỏi với ông): “Chó có… bản năng. Nó không chiêm nghiệm về cuộc đời. Nó không xem xét cuộc đời. Con người không phải là chó.”
TONY BÉO: “Tôi đồng ý, Socrates kính mến, rằng chó có bản năng và chúng ta không phải là chó. Nhưng liệu con người chúng ta có khác biệt một cách cơ bản đến mức bị tước bỏ hoàn toàn bản năng xui khiến ta làm những điều mà ta không có chút manh mối gì về chúng? Liệu chúng ta có buộc phải giới hạn đời mình trong phạm vi những gì ta có thể trả lời bằng thứ tiếng Anh Brooklyn nguyên thủy?”
Không chờ câu trả lời của Socrates (chỉ có những kẻ ngốc mới chờ câu trả lời; câu hỏi đặt ra không phải để chờ câu trả lời):
TONY BÉO: “Vậy thì, Socrates yêu quý, tại sao ông lại nghĩ rằng chúng ta cần phải cố định ý nghĩa của sự việc?”
SOCRATES: “Tony To Lớn thân mến, khi ta đang nói về các sự việc thì ta cần biết ta đang nói về điều gì. Toàn bộ ý tưởng của triết học là khả năng chiêm nghiệm và thấu hiểu những gì ta đang làm, xem xét cuộc đời ta. Và một cuộc đời không được xem xét là một cuộc đời không đáng sống.”
TONY BÉO: “Ông cụ Hy Lạp đáng thương của tôi, vấn đề là ở chỗ ông đang giết chết những sự việc mà ta biết nhưng không thể diễn đạt. Và nếu tôi yêu cầu ai đó đang chạy xe đạp ngon trớn hãy cho tôi biết lý thuyết của việc chạy xe đạp, anh bạn đó sẽ ngã xe ngay. Bằng cách ép buộc và chất vấn người ta, ông sẽ làm họ lúng túng và gây tổn thương cho họ.”
Rồi nhìn ông một cách trịch thượng với một nụ cười điệu nhẹ nhàng:
TONY BÉO: “Socrates kính mến… ông biết tại sao người ta buộc ông phải chết không? Đó là vì ông khiến cho người ta cảm thấy ngu dốt vì nhắm mắt tuân theo các thói quen, bản năng, và truyền thống. Thi thoảng cũng có thể ông đúng. Nhưng ông có thể gây rối họ về những sự việc mà họ đang làm tốt mà không gặp rắc rối. Ông đang phá hủy ảo tưởng của họ về chính họ. Ông đang lấy đi niềm vui của tình trạng vô minh trước những sự việc mà người ta không thấu hiểu. Và ông không có câu trả lời cho họ.”
ĐỊA VỊ ĐỨNG ĐẦU CỦA TRI THỨC ĐỊNH NGHĨA
Bạn có thể thấy những gì Tony Béo đang đề cập tới chính là cốt lõi của triết học: quả thật đối với Socrates, những câu hỏi chính yếu tạo thành triết học ngày nay là những câu hỏi được đặt ra đầu tiên như “sự tồn tại là gì?”, “đạo đức là gì?”, “bằng chứng là gì?”, “khoa học là gì?”, “cái này là gì?”, “cái kia là gì?”
Vấn đề mà chúng ta thấy trong cuộc đối thoại Eythyphro tràn ngập trong những cuộc đối thoại khác mà Plato đã viết. Socrates không ngừng tìm kiếm định nghĩa về bản chất cốt lõi của sự việc, chứ không phải tìm cách mô tả các thuộc tính để qua đó ta có thể nhận ra chúng.
Socrates thậm chí còn đi xa hơn, ông chất vấn các nhà thơ và tường thuật rằng họ không có manh mối gì hơn so với công chúng về các tác phẩm của họ. Theo giải thích của Plato về thử nghiệm của ông trong tác phẩm Apology, Socrates kể lại chi tiết ông đã kiểm tra chéo các nhà thơ một cách vô ích như thế nào: “Tôi lấy ra những đoạn trau chuốt nhất trong các tác phẩm của họ, và hỏi ý nghĩa của chúng là gì. Tôi gần như xấu hổ khi nói ra điều này, nhưng tôi phải nói, rằng gần như không ai có thể giải thích tốt hơn về những bài tho chính họ đã làm.”
Và sự ưu tiên cho tri thức định nghĩa này khiến Plato đi đến luận điểm cho rằng bạn không thể biết bất luận điều gì trừ khi bạn biết Hình Thái, nghĩa là những gì nêu ra trong định nghĩa. Nếu ta không thể định nghĩa lòng mộ đạo khi tìm hiểu những đối tượng cụ thể, thì ta hãy bắt đầu với vũ trụ tổng thể mà từ đó các đối tượng cụ thể này sẽ lưu chuyển. Nói cách khác, nếu bạn không thể có được một bản đồ từ một lãnh thổ, thì hãy xây dựng một lãnh thổ từ bản đồ.
Trong những lời biện hộ của Socrates, các câu hỏi của ông dẫn đến kết quả chính: nếu các câu hỏi không giúp ông định nghĩa một điều gì đó, chí ít chúng cũng cho phép ông chắc chắn rằng điều đó không phải là gì.
Lầm tưởng những gì không thể nhận thúc bằng trí tuệ là những thù phi trí tuệ
Lẽ dĩ nhiên, đã có nhiều người đi trước Tony Béo. Nhiều người mà ta không nghe nói tới, do vị trí hàng đầu của triết học và cách thức nó hòa nhập vào những thông lệ hoạt động thường ngày bỏi Cơ đốc giáo và Hồi giáo. Nói tới “triết học”, tôi muốn nói tới tri thức lý thuyết và khái niệm, mọi tri thức, những thứ mà ta có thể viết ra, vì mãi cho tới gần đây, thuật ngữ này nhìn chung đã từng đề cập tới những gì mà ngày nay ta gọi là khoa học - triết học tự nhiên, nỗ lực hợp lý hóa Tự nhiên, thâm nhập vào logic của Tự nhiên.
Cuộc tấn công sôi động vào quan điểm này trong thời hiện đại xuất phát từ Friedrick Nietzsche trẻ trung, cho dù với bề ngoài là những áng văn chương về tinh thần lạc quan và bi quan trộn lẫn với ảo giác về ý nghĩa của “phương Tây”, một “Hellene tiêu biểu”, và “linh hồn Đức”. Nietzsche trẻ trung viết quyển sách đầu tay Sự ra đời của bi kịch (The Birth of Tragedy) vào những năm đầu độ tuổi đôi muơi. Ông săn đuổi Socrates, mà ông gọi là “thầy tu truyền phép thần khoa học” (mystagogue of science), vì “làm cho sự tồn tại có vẻ như có thể hiểu được”. Đoạn văn sáng suốt này phơi bày điều mà tôi gọi là ngụy biện duy lý của kẻ ngốc:
Lẽ ra ông [Socrates] nên tự hỏi mình, biết đâu những gì không thể nhận thức bằng trí tuệ với tôi thì không nhất thiết là phi trí tuệ? Biết đâu có một xứ sỏ của sự khôn ngoan từng trải mà những người giỏi logic đã bị lưu đày biệt xứ?
“Những gì không thể nhận thức bằng trí tuệ với tôi thì không nhất thiết là phi trí tuệ” có lẽ là câu nói hiệu nghiệm nhất trong suốt thế kỷ của Nietzsche - và chúng ta đã sử dụng một phiên bản của nó trong phần mở đầu, trong chính định nghĩa về fragilista, những người tưởng lầm rằng những gì mình không hiểu là những thứ vô nghĩa.
Nietzsche cũng dị ứng với phiên bản chân lý của Socrates, chủ yếu được kích hoạt bỏi chương trình nâng cao nhận thức, vì theo Socrates, người ta không chủ tâm làm điều xấu - một lập luận xem ra đã thâm nhập thời kỳ Khai sáng khi những nhà tư tưởng như Condorcet cho rằng chân lý là nguồn gốc duy nhất và đầy đủ của cái thiện.
Lập luận này chính xác là những gì Nietzsche đã phỉ báng chống lại: tri thức là liều thuốc trị bách bệnh; sai lầm là điều xấu; vì thế khoa học là một sự nghiệp lạc quan. Mệnh lệnh của tinh thần lạc quan khoa học đã chọc tức Nietzsche: người ta đã sử dụng lập luận và tri thức để phục vụ chủ nghĩa không tưởng. Ta hãy quên đi chuyện bi quanlạc quan thường được nói tới khi người ta thảo luận về tư tưởng của Nietzsche, vì cái gọi là tinh thần bi quan Nietzsche không phù hợp với vấn đề ở đây: Vấn đề ở đây là điều tốt của tri thức mà ông nghi ngờ.
Tôi phải mất một thời gian dài để tìm ra vấn đề trọng tâm mà Nietzsche nhắm tới trong Sự ra đời của bi kịch. Ông nhìn thấy hai áp lực: Apollonian và Dionysian. Một bên là sự xác định, cân bằng, duy lý, thấm nhuần lý tính và tự kiềm chế (Apollonian); còn một bên thì u ám, bản năng, hoang dại, không thuần hóa, khó hiểu, trỗi dậy từ những lớp sâu thẳm trong chính con người chúng ta (Dionysian). Văn hóa Hy Lạp cổ đại tiêu biểu cho sự cân bằng giữa hai áp lực, cho đến khi ảnh hưởng của Socrates đối với nhà viết kịch Euripides mang lại tỷ trọng lớn hơn cho Apollonian và phá vỡ áp lực Dionysian, dẫn đến sự vươn lên thái quá của chủ nghĩa duy lý. Điều đó cũng tương đương với việc phá vỡ hóa chất tự nhiên trong cơ thể bạn bằng cách tiêm thêm hoóc-môn. Apollonian mà không có Dionysian thì cũng hệt như có dương mà không có âm, như cách nói của người Trung Quốc.
Sức mạnh tư tưởng của Nietzsche tiếp tục làm tôi ngạc nhiên: ông nhận ra khả năng cải thiện nghịch cảnh. Trong khi nhiều người quy kết một cách sai lầm khái niệm “sự phá hủy có tính sáng tạo” là của nhà kinh tế học Joseph Schumpeter (mà không tự hỏi làm sao những điều có ý nghĩa và sâu sắc lại có thể xuất phát từ một nhà kinh tế học được cơ chứ),82 trong khi đó, như ta thấy, nguồn tham khảo thông thái hơn là Karl Marx, quả thật Nietzsche là người đầu tiên đặt ra thuật ngữ này khi nhắc tới Dionysus, người mà ông gọi là “phá hủy một cách sáng tạo” và “sáng tạo một cách phá hủy”. Nietzsche quả thật đã tìm ra khả năng cải thiện nghịch cảnh theo cách của riêng ông.
Tôi đọc Sự ra đời của bi kịch của Nietzche hai lần, lần đầu hồi còn bé khi tôi vẫn còn non nớt. Lần thứ hai, sau một chặng đường đời suy nghĩ về tính ngẫu nhiên, tôi chợt thấy Nietzsche am hiểu điều mà tôi không thấy được phát biểu công khai trong tác phẩm của ông: rằng sự tăng trưởng tri thức - hay bất luận thứ gì khác - không thể đạt được nếu không có Dionysian. Nó phơi bày những sự việc mà ta có thể chọn lọc vào một lúc nào đó, biết rằng ta có khả năng chọn lựa. Nói cách khác, nó có thể là nguồn gốc của hoạt động chỉnh sửa ngẫu nhiên, và Apollonian có thể là tính duy lý trong quá trình chọn lọc.
Cho phép tôi đưa bậc thầy Seneca vào bức tranh. Ông cũng nhắc tới các thuộc tính Dionysian và Apollonian. Xem ra trong một thư tịch cổ, ông đã trình bày một phiên bản phong phú hơn về các xu hướng của con người. Nói về Chúa Trời (ông còn gọi là “Thiên mệnh”, đánh đồng với sự tương tác của các nguyên nhân), ông cho rằng Chúa có ba hiện thân. Thứ nhất là “Liber Pater,” hay áp lực Bacchic (tương đương với Dionysos trong tư liệu của Nietzsche), mang lại quyền năng sinh sản để trường tồn; thứ hai là Hercules, hiện thân của sức mạnh; và thứ ba là Mercury, tượng trưng cho tài khéo léo, khoa học và lý tính (tương đương với Apollonian của Nietzsche). Phong phú hơn Nietzsche, ông đưa sức mạnh vào như một chiều kích bổ sung.
Như tôi vừa nói, trước đây đã có nhiều người đả phá “triết học” theo ý nghĩa tri thức duy lý trong truyền thống Plato và Aristotle, nhưng điều này không nhất thiết dễ nhận thấy trong tư liệu, mà chủ yếu nằm trong những thư tịch đã bị lãng quên và hiếm khi được đề cập đến. Tại sao bị lãng quên? Vì nền giáo dục có tổ chức ưa thích sự kiệt quệ và đơn giản hóa của chủ nghĩa duy lý ngây tho, dễ dạy, chứ không phải chất liệu phong phú của chủ nghĩa kinh nghiệm, và như tôi đã nói, những người công kích tư duy hàn lâm gần như không có người đại diện (ta sẽ thấy điều này thể hiện rõ ràng trong lịch sử y học).
Thậm chí còn có một học giả cổ điển, tư tưởng cỏi mở hơn nhiều và nhiều thành tựu hơn so với Nietzsche, nhà tư tưởng người Pháp thế kỷ 19 Ernest Renan biết nhiều thứ tiếng, ngoài tiếng Hy Lạp và Latinh, ông còn biết tiếng Hebrew, Aramaic (Syriac), và tiếng Ảrập. Khi tấn công Averroes, ông trình bày ý tưởng nổi tiếng rằng, theo định nghĩa, logic không bao gồm các sai biệt (nuance), mà vì chân lý hoàn toàn nằm trong các sai biệt, nên logic là “một công cụ vô ích để tìm kiếm Chân lý trong khoa học đạo đức và chính trị.”
Như Tony Béo nói, Socrates bị buộc tội chết vì ông phá vỡ những gì đang vận hành ổn thỏa trong con mắt của người Athens. Sự việc quá phức tạp nên không thể diễn đạt bằng lời; nếu làm thế, bạn sẽ giết chết con người. Hay con người - cũng như với ngụy biện gỗ xanh - có thể chú trọng vào những điều đúng đắn, nhưng chúng ta không đủ giỏi để nhận thức nó bằng trí tuệ.
Cái chết và hành động tử vì đạo là sự quảng bá hữu hiệu, nhất là khi người ta đương đầu với số phận mà quan điểm vẫn không lung lay. Người anh hùng là người thấm nhuần bản ngã và niềm tin trí tuệ, và cái chết trở nên quá tầm thường nhỏ bé. Trong khi hầu hết những lý lẽ ta nghe nói về Socrates làm cho ông trở thành anh hùng, nhờ vào cái chết và sự chấp nhận cái chết một cách đầy triết lý, thế nhưng vẫn có những nhà phê bình cổ điển tin rằng ông đã hủy hoại nền tảng của xã hội, hủy hoại hoạt động thử nghiệm và sửa sai được lưu truyền bởi các bậc trưởng lão mà chúng ta không chắc đủ chín chắn để đặt nghi vấn.
Trưởng lão Cato, người mà chúng ta đã gặp trong chương 2, vô cùng dị ứng với Socrates. Cato có suy nghĩ cơ bản tương tự như Tony Béo, nhưng theo một ý nghĩa mang tính công dân hơn, ý nghĩa về sứ mệnh, tôn trọng truyền thống, và cam kết về sự chính trực đạo lý. Ông cũng dị ứng với những thứ Hy Lạp, như thể hiện qua sự dị ứng của ông với các triết gia và bác sĩ - sự dị ứng mà như ta sẽ thấy trong các chương sau, có những lý do hiện đại chính đáng. Sự cam kết của Cato với nền dân chủ khiến ông tin vào nền tự do cũng như các quy tắc tập tục, kết hợp với nỗi lo sợ chuyên quyền. Plutarch trích dẫn câu nói của ông: “Socrates là một kẻ nói nhảm vĩ đại, cố gắng làm cho mình trở thành một bạo chúa trên đất nước của ông, phá hủy các phong tục tập quán và dụ dỗ dân chúng duy trì những quan điểm trái với luật lệ trật tự.”
Vì thế, độc giả có thể thấy người cổ đại đã nhận ra chủ nghĩa duy lý ngây thơ như thế nào: thông qua làm kiệt quệ tư duy, thay vì củng cố, nó dẫn đến tính mỏng manh. Người cổ đại biết rằng tri thức không hoàn chỉnh - tri thức nửa vời - luôn luôn nguy hiểm.
Ngoài người cổ đại còn có nhiều người khác tham gia vào việc bảo vệ và kêu gọi chúng ta tôn trọng loại tri thức thực nghiệm này. Thứ nhất, Edmund Burke, nhà triết học chính trị kiêm chính khách Ireland, cũng phản đối Cách mạng Pháp do phá hủy “sự lành mạnh về tinh thần chung của thời đại.” Ông tin rằng những biến thiên xã hội lớn làm ta liên lụy với những ảnh hưởng không lường trước và vì thế, ông ủng hộ hoạt động thử nghiệm và sửa sai nhỏ (thực chất là hoạt động chỉnh sửa có dạng lồi) trong các hệ thống xã hội, cùng với sự tôn trọng các quy tắc suy nghiệm phức tạp theo truyền thống. Tương tự, nhà triết học chính trị bảo thủ thế kỷ 20 và triết gia lịch sử Michael Oakeshot tin rằng các truyền thống mang lại cho ta tri thức tập thể chọn lọc. Một người khác nữa là Joseph de Maistre, mà như ta thấy, đã nghĩ tới “bước thứ hai”. Ông là người trung thành với tiếng Pháp và là nhà tư tưởng chống lại sự Khai sáng, thẳng thắn chống lại những căn bệnh của Cách mạng Pháp và tin vào sự suy đồi cơ bản của con người trừ khi được khống chế bằng sự chuyên chế nhất định.
Rõ ràng, Wittgenstein là người đứng đầu danh sách những người có tư duy cải thiện nghịch cảnh hiện đại với sự am hiểu sâu sắc về những thứ không thể diễn đạt bằng lời. Và trong số các nhà tư tưởng, ông thấu hiểu tường tận nhất vấn đề gỗ xanh - ông có lẽ là người đầu tiên từng đề cập tới vấn đề này khi nghi ngờ khả năng diễn đạt của ngôn ngữ theo nghĩa đen. Ngoài ra, ông còn là một vị thánh - ông hy sinh cuộc đời, tình bạn, cơ nghiệp, thanh danh, mọi thứ, vì triết học.
Chúng ta có thể thiên về ý nghĩ cho rằng Friedrich Hayek sẽ nằm trong số những người có tư duy cải thiện nghịch cảnh và chống lại chủ nghĩa duy lý. Ông là triết gia kiêm kinh tế gia thế kỷ 20, người chống lại việc quy hoạch xã hội trên cơ sở cho rằng, thông qua các giao dịch, hệ thống định giá sẽ bộc lộ những tri thức thấm nhuần trong xã hội, những tri thức mà người lập kế hoạch xã hội không thể tiếp cận được. Nhưng Hayek bỏ qua khái niệm khả năng chọn lựa như một phương án thay thế cho người lập kế hoạch xã hội. Theo một cách nào đó, ông tin vào trí tuệ, nhưng đó là trí tuệ tập thể hay phân phối - chứ không phải khả năng chọn lựa thay thế cho trí tuệ.83
Nhà nhân loại học Claude Lévi-Strauss chứng minh rằng những người mù chữ có “khoa học cụ thể” riêng, một phương thức tư duy thiêng liêng về môi trường của họ theo các đối tượng và những phẩm chất trực giác “thứ yếu” mà không hẳn kém mạch lạc hơn so với nhiều phương pháp khoa học, và có thể phong phú và thậm chí còn phong phú hơn chúng ta trên nhiều phương diện. Một lần nữa, lại là vấn đề gỗ xanh.
Cuối cùng trong danh sách này là John Gray, triết gia chính trị đương đại và nhà viết tiểu luận chống lại thói ngạo mạn của con người, chống lại những ý tưởng thịnh hành cho rằng thời đại Khai sáng là phương thuốc trị bách bệnh; ông xem một nhóm nhà tư tưởng như những người theo trào lưu Khai sáng chính thống. Gray không ngừng chứng minh rằng những thứ ta gọi là tiến bộ khoa học có thể chỉ là một ảo ảnh. Khi ông, tôi, và nhà tham luận Bryan Appleyard cùng ăn trưa, tôi chuẩn bị tinh thần để thảo luận về các ý tưởng, và đề xướng những suy nghĩ của mình. Tôi ngạc nhiên một cách vui mừng khi hóa ra đó là bữa ăn trưa tuyệt vời nhất tôi từng có trong đời. Có một cảm giác êm ái dịu dàng khi biết rằng ba chúng tôi đều ngầm thấu hiểu cùng một quan điểm, và thay vì thảo luận ý tưởng, chúng tôi tiến tới bước thứ hai là thảo luận việc áp dụng ý tưởng - một điều gì đó có tính chất thế tục, giống như thay vì giữ tiền, bây giờ ta giữ kim loại quý, vì chúng không thuộc sở hữu của chính phủ. Văn phòng làm việc của Gray gần nơi làm việc của Hayek và anh bảo tôi rằng Hayek là một anh chàng khá tẻ nhạt, không hay bông đùa, vì thế cũng thiếu khả năng chọn lựa.
PHÂN BIỆT KẺ NGỐC VÀ KẺ KHÔNG NGỐC
Ta hãy đưa hòn đá luyện đan vào cuộc đối thoại này. Socrates chiêm nghiệm về tri thức, nhưng Tony Béo thì không, anh chẳng có ý tưởng gì về điều đó.
Đối với Tony, sự phân biệt trong cuộc đời chẳng phải là về đúng hay sai, mà là kẻ ngốc hay kẻ không ngốc. Đối với anh, sự việc luôn luôn đơn giản hơn. Trong đời thường, như ta đã thấy với các ý tưởng của Seneca và vụ cá cược của Thales, sự liên lụy với các biến cố rủi ro thực tế quan trọng hơn so với tri thức; ảnh hưởng của quyết định thế chỗ cho logic. “Tri thức” trong sách giáo khoa bỏ sót một phương diện, đó là tính phi đối xứng ngầm ẩn của lợi ích, hệt như khái niệm giá trị bình quân. Nhu cầu tập trung vào kết quả đạt được từ hành động thay vì mải mê nghiên cứu cấu trúc của thế giới (hay tìm hiểu “đúng” và “sai”) đã bị lịch sử tri thức bỏ lỡ. Bỏ lỡ một cách kinh khủng. Kết quả, những gì xảy ra với bạn (lợi ích hay thiệt hại từ một biến cố), luôn luôn là điều quan trọng nhất, chứ không phải bản thân biến cố.
Các triết gia nói về chân lý và sai lầm. Người đời nói về kết quả, sự liên lụy với các biến cố, và các hệ quả (rủi ro và phần thưởng), vì thế, họ nói tới tính mỏng manh và khả năng cải thiện nghịch cảnh. Và đôi khi các triết gia, các nhà tư tưởng cũng như các nhà nghiên cứu đánh đồng giữa Chân lý với Hệ quả (rủi ro và phần thưởng).
Quan điểm của tôi tiến xa hơn ở chỗ, Đúng và Sai (vì vậy cũng là cái mà ta gọi là “niềm tin”) chỉ đóng vai trò thứ yếu trong các quyết định của con người; chính những kết quả xảy ra từ Đúng và Sai mới đóng vai trò chi phối - và kết quả đó gần như luôn luôn phi đối xứng, trong đó hệ quả này phải lớn hơn hệ quả kia, nghĩa là trong đó bao hàm tính phi đối xứng tích cực và phi đối xứng tiêu cực (tính mỏng manh hay khả năng cải thiện nghịch cảnh). Cho phép tôi giải thích.
Tính mỏng manh chù không phái xác suất
Chúng ta khám xét xem hành khách có mang theo vũ khí hay không trước khi họ lên máy bay. Ta tin họ là khủng bố chăng? Đúng hay Sai? Sai, vì họ không chắc là khủng bố (một xác suất rất nhỏ). Nhưng ta vẫn kiểm tra họ vì ta mỏng manh dễ sụp đổ trước khủng bố. Đó là tính phi đối xứng. Ta quan tâm đến kết quả xảy ra, và hệ lụy gây ra nếu điều đó Đúng (hóa ra họ là khủng bố) thì quá lớn trong khi chi phí kiểm tra thì quá thấp. Bạn nghĩ rằng sang năm lò phản ứng hạt nhân sẽ nổ tung chăng? Đúng hay Sai? Sai, ta không nghĩ thế. Thế nhưng bạn vẫn muốn hành xử như thể điều đó Đúng và tiêu tốn hàng triệu đôla để tăng cường an toàn, vì ta mỏng manh dễ đổ vỡ trước các biến cố hạt nhân. Và ví dụ thứ ba: Bạn nghĩ rằng uống viên thuốc ngẫu nhiên này sẽ gây hại cho bạn chăng? Sai. Bạn có uống những viên thuốc này không? Ô không.
Nếu bạn ngồi với một cây bút chì và viết ra mọi quyết định bạn từng có trong tuần qua, hay nếu có thể, trong cả đời bạn, bạn sẽ nhận thấy rằng hầu hết mọi quyết định đều có kết quả (lợi và hại) phi đối xứng, trong đó bên này có hệ quả lớn lao hơn so với bên kia. Về cơ bản, bạn quyết định dựa vào tính mỏng manh chứ không phải dựa vào xác suất. Hay nói cách khác, bạn quyết định chủ yếu dựa vào tính mỏng manh chứ không phải dựa vào Đúng hay Sai.
Ta hãy thảo luận về sự bất cập của ĐúngSai trong việc ra quyết định trong đời sống thực tế, nhất là khi liên quan đến các xác suất. Đúng hay Sai là sự lý giải tương ứng với xác suất cao hay thấp. Các nhà khoa học có khái niệm “độ tin cậy”; một kết quả thu được với độ tin cậy 95 phần trăm có nghĩa là xác suất để kết quả này bị sai sẽ không hơn 5 phần trăm. Lẽ dĩ nhiên, ý tưởng này không thể áp dụng được vì nó bỏ qua độ lớn của tác động, mà lẽ dĩ nhiên, sẽ làm cho sự việc trở nên tồi tệ hơn với những biến cố cực độ. Nếu tôi nói với bạn rằng một kết quả nào đó đúng với độ tin cậy 95 phần trăm, bạn sẽ thấy hoàn toàn hài lòng. Nhưng nếu tôi nói với bạn rằng máy bay an toàn với độ tin cậy 95 phần trăm thì sao? Thậm chí độ tin cậy 99 phần trăm cũng không được, vì xác suất tai nạn 1 phần trăm cũng đủ để báo động (ngày nay các máy bay thương mại hoạt động với xác suất tai nạn dưới 1 phần vài trăm nghìn, và tỷ lệ này vẫn đang cải thiện, vì như ta đã thấy, mỗi một sai lầm sẽ dẫn đến cải tiến Hơn nữa độ an toàn chung). Do vậy, nhắc lại, xác suất (và vì thế, chuyện ĐúngSai) không có tác dụng trong đời sống thực tế; chỉ có kết quả xảy ra mới quan trọng.
Có lẽ trong đời mình, bạn đã ra quyết định cả triệu lần. Có bao nhiêu lần bạn tính toán xác suất? Lẽ dĩ nhiên, bạn có thể làm vậy trong sòng bạc chứ không làm ở nơi nào khác.
Đánh đồng giữa biến cố và việc chịu tác hại của biến cố
Điều này một lần nữa lại đưa ta đến với ngụy biện gỗ xanh. Một biến cố Thiên Nga Đen và tác động của biến cố đó đối với bạn - tác động đến tài chính, cảm xúc, và sự phá hủy mà nó sẽ gây ra - không phải là như nhau. Và vấn đề này thâm căn cố đế trong các phản ứng thông thường; khi bạn vạch ra thất bại của những người dự báo, câu trả lời của họ thường là “chúng ta cần tính toán tốt hơn” để dự đoán biến cố tốt hơn và tìm kiếm các xác suất, thay vì lẽ ra phải “điều chỉnh mức độ chịu tác hại” với rủi ro biến cố và học cách thoát khỏi khó khăn, điều mà tôn giáo và các suy nghiệm truyền thống có vai trò thực thi tốt hơn so với thứ khoa học giả hiệu và ấu trĩ.
KẾT LUẬN TẬP IV
Ngoài các lương y chữa bệnh bằng kinh nghiệm, phần này còn cố gắng minh oan cho những người không phe phái và không thể tự biện hộ, các kỹ sư, các nghiệp chủ làm nghề tự do, các nghệ sĩ sáng tạo, và các nhà tư tưởng chống lại tư duy hàn lâm; không chỉ khuyến khích họ trình bày ý tưởng của mình, mà còn khuyến khích họ chấp nhận sống trong một thế giới họ biết rằng họ không am hiểu. Và họ tận hưởng điều đó.
Để kết luận phần này, nên lưu ý rằng hành động của ta thường khôn ngoan hơn so với xu hướng niềm tin của ta, và cũng hợp lý hơn. Điều tôi vừa làm ở đây là vạch trần hiện tượng phụ Dạy chim cách bay và “mô hình tuyến tính”, thông qua sử dụng các thuộc tính toán học đơn giản của khả năng chọn lựa, không đòi hỏi phải có tri thức hay trí tuệ, mà chỉ đơn thuần là khả năng chọn lựa các phương án, cùng những thứ khác.
Nên nhớ người ta không có bằng chứng xác nhận luận điệu cho rằng hoạt động nghiên cứu có tổ chức đang được quảng bá hiện nay sẽ dẫn đến những điều to tát như các trường đại học hứa hẹn. Và những người đề cao ý tưởng Xô viết-Harvard không sử dụng khả năng quyền chọn, hay các tác dụng bậc hai; chính tình trạng không có khả năng chọn lựa này đã làm cho các quan điểm của họ về vai trò của khoa học công nghệ mất giá trị. Họ cần phải viết lại lịch sử công nghệ.
Những gì sẽ xảy ra tiếp theo?
Khi tôi gặp Alison Wolf, chúng tôi thảo luận về vấn đề đáng sợ với nền giáo dục và ảo tưởng về sự đóng góp hàn lâm, với tập hợp những trường đại học danh tiếng miền đông bắc nước Mỹ (Ivy League) đã trở thành một thứ hàng hóa xa xỉ trong con mắt của tầng lớp thượng lưu Hoa Kỳ và châu Á mới. Hardvard cũng hệt như túi xách Vuitton hay đồng hồ Cartier. Đó là cuộc đua khổng lồ để các bậc phụ huynh tầng lớp trung lưu chôn vùi một khoản đáng kể tiền tiết kiệm của mình vào các tổ chức này, chuyển giao tiền bạc của họ cho các nhà quản lý, các nhà phát triển địa ốc, các giáo sư, và các đại diện khác. Ở Hoa Kỳ, chúng ta đã chồng chất những khoản vay sinh viên để tự động chuyển giao sang những kẻ bóp nặn đặc lợi này. Theo một cách nào đó, vậy chẳng khác gì ăn cướp, bỏi lẽ người ta cần có một “cái tên” trường đại học nghe oách một chút để thăng tiến trong đòi; nhưng ta biết rằng, về mặt tập thể, xã hội xem ra không tiến lên thông qua nền giáo dục có tổ chức.
Alison Wolf đề nghị tôi viết những suy nghĩ của mình về tương lai của nền giáo dục, vì tôi nói với bà rằng tôi lạc quan về vấn đề này. Tôi đáp: nền giáo dục thật là mỏng manh. Nhưng có mưu đồ bất lương nào trong lịch sử tồn tại mãi mãi không? Tôi có niềm tin mãnh liệt rằng Thòi gian và Lịch sử rồi sẽ bóc trần tính mỏng manh. Giáo dục là một thể chế tăng trưỏng mà không có những yếu tố gây căng thẳng từ bên ngoài; cuối cùng rồi sẽ sụp đổ.
Hai tập tiếp theo, tập V và tập VI, sẽ xem xét nhận định cho rằng những sự việc mỏng manh sẽ đổ vỡ; điều mà ta có thể dự đoán. Tập V sẽ trình bày cách dò tìm tính mỏng manh (phần này chuyên sâu về toán học hơn) và trình bày những cơ chế ẩn chứa trong hòn đá luyện đan. Tập VI dựa vào ý tưỏng cho rằng Thòi gian là kẻ bôi xóa chứ không phải người xây dựng, và sẽ xóa nhòa những đối tượng mỏng manh, bất kể đó là công trình xây dựng hay ý tưởng.84