NGỤY BIỆN GỖ XANH

Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 43 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14khi Hai Thứ Không Phải Là “Cùng Một Loại”
Chương 14khi Hai Thứ Không Phải Là “Cùng Một Loại”

❊ ❊ ❊

Gỗ xanh có một “màu xanh” khác - Nơi ta đi tìm mũi tên khám phá -
Đặt Iraq vào giữa lòng Pakistan - Prometheus không bao giờ nhìn lại

Tôi đang viết những dòng này ở một nơi phù hợp để suy nghĩ về mũi tên tri thức: Abu Dhabi, thành phố mọc lên từ hoang mạc, nơi cứ như được tưới bằng dầu.

Tôi cảm thấy buồn nôn khi nhìn những tòa nhà của các trường đại học đồ sộ được tài trợ bằng doanh thu từ dầu của chính phủ, với sự thừa nhận rằng doanh thu từ dầu có thể biến thành tri thức thông qua thuê giáo sư từ các trường đại học danh tiếng và đặt con em vào trường (hay đúng như đã xảy ra, chờ cho các em cảm thấy mong muốn đến trường, vì nhiều sinh viên ở Abu Dhabi đến từ Bulgaria, Serbia, hay Macedonia đang nhận một nền giáo dục miễn phí). Thậm chí tốt hơn, chỉ bằng một tấm séc đơn giản, họ có thể nhập khẩu hẳn một trường từ nước ngoài, như Đại học Sorbonne và New York (trong số nhiều trường khác). Vì thế, trong vòng mấy năm, các thành viên trong xã hội này sẽ gặt hái lợi ích của sự cải thiện công nghệ vĩ đại.

Đó xem ra là một cuộc đầu tư hợp lý nếu người ta chấp nhận quan niệm là tri thức đại học tạo ra phồn vinh kinh tế. Nhưng đây là một niềm tin xuất phát từ sự mê tín chứ không phải từ thực nghiệm. Hãy nhớ lại câu chuyện Thụy Sĩ trong chương 5 - một nơi với trình độ giáo dục chính thức rất thấp. Tôi tự hỏi không biết có phải con buồn nôn của tôi xuất phát từ cảm giác là các bộ tộc hoang mạc này đang bị bòn rút tiền bạc bởi các cơ sở giáo dục đang hút cạn nguồn lực của họ và chuyển sang các nhà quản lý từ các trường đại học phương Tây. Sự phồn vinh của họ đến từ dầu, chứ không phải từ bí quyết nghề nghiệp, vì thế tôi chắc chắn rằng việc chi tiêu cho giáo dục là hoàn toàn không sinh lợi, và là sự chuyển giao nguồn lực vĩ đại (thay vì khai thác khả năng cải thiện nghịch cảnh thông qua buộc dân chúng phải kiếm tiền một cách tự nhiên, tùy hoàn cảnh).

Có gì đó thiếu vắng trong mô hình Abu Dhabi. Các yếu tố gây căng thẳng ở đâu?

Hãy nhớ lại ý tưởng của Seneca và Ovid rằng sự tinh xảo phát triển từ nhu cầu, và thành công sinh ra từ khó khăn - thật ra, nhiều cách ngôn từ thời Trung cổ (như necessitas magistra trong Erasmus) đã tìm đường đến với ngôn ngữ hàng ngày của ta, như trong câu “nhu cầu là mẹ của phát minh”. Như thường lệ, câu hay nhất vẫn xuất phát từ bậc thầy về cách ngôn Publilius Syrus: “đói nghèo làm nên kinh nghiệm” (hominem experiri multa pauperts iubet). Nhưng ý tưởng đó cũng được các tác giả cổ điển như Euripides, Pseudo-Theoctitus, Plautus, Apuleus, Zenobius, Juvenal diễn đạt dưới hình thức này hay hình thức khác và lẽ dĩ nhiên, hiện nay nó được gọi là “sự tăng trưởng hậu chấn thương”.

Tôi đã thấy sự khôn ngoan của người cổ đại thể hiện một cách chính xác trái ngược với tình huống ở Abu Dhabi. Ngôi làng quê hương Levant của tôi, làng Amioun, bị cướp bóc và di tản thời chiến tranh, và dân làng trở nên tha phương cầu thực trên khắp hành tinh. Hai mươi lăm năm sau, làng hồi sinh trù phú hơn cả mong đợi: ngôi nhà từng bị nổ tung của chúng tôi trở nên to hơn trước kia. Cha tôi chỉ cho tôi xem những ngôi biệt thự vùng quê trên sườn đồi khi kể về những nhà giàu mới phất này, nhẹ nhàng bảo tôi: “Con cũng thế, con đã ở đây và sẽ trở thành một người thong dong bên bãi biển. Người Amioun chỉ vươn lên khi bị chấn động.” Đó chính là khả năng cải thiện nghịch cảnh.

L’Art pour l’Art, học để hiểu biết

Bây giờ ta hãy xem xét bằng chứng về chiều hướng nhân quả của mũi tên, nghĩa là có đúng tri thức hình thành từ các bài giảng sẽ dẫn đến thịnh vượng hay không. Khảo sát thực nghiệm nghiêm ngặt (chủ yếu nhờ Lant Pritchett, khi ấy là nhà kinh tế học ở Ngân hàng Thế giới) không tìm thấy bằng chứng cho thấy nâng cao trình độ học vấn chung làm tăng thu nhập ở cấp độ quốc gia. Nhưng ta biết điều ngược lại là đúng, rằng sự giàu có làm tăng trình độ giáo dục - đó không phải một ảo tưởng thị giác. Chúng ta không cần viện dẫn số liệu của Ngân hàng Thế giới, ta có thể suy luận suông ra điều này. Ta hãy xem thử chiều mũi tên:

Giáo dục Phồn vinh và tăng trưởng kinh tế

hay:

Phồn vinh và tăng trưởng kinh tế’ Giáo dục

Và thật dễ dàng kiểm tra bằng chứng, nó nằm ngay trước mắt ta. Chỉ cần nhìn vào những nước vừa giàu vừa có trình độ học vấn nhất định và xem thử yếu tố nào có trước. Cứ xem xét lập luận theo kiểu càng đơn giản càng tốt rất hiệu nghiệm của nhà kinh tế học tinh nghịch Ha-Joon Chang. Năm 1960, Đài Loan có tỷ lệ biết chữ thấp hơn nhiều so với Philippines và có thu nhập trên đầu người bằng một nửa Philippines; ngày nay Đài Loan có thu nhập cao gấp 10 lần Philippines. Đồng thời, Hàn Quốc có tỷ lệ biết chữ thấp hơn nhiều so với Argentina (vốn là một trong những nước có tỷ lệ biết chữ cao nhất thế giới) và thu nhập trên đầu người chỉ bằng một phần năm Argentina; ngày nay Hàn Quốc có thu nhập cao hơn gấp ba lần. Hơn nữa, trong cùng kỳ, châu Phi hạ Sahara có tỷ lệ biết chữ gia tăng đáng kể, đi kèm với sự giảm sút mức sống. Chúng ta có thể đưa ra thêm nhiều ví dụ nữa (nghiên cứu của Pritchet khá thấu đáo), nhưng tôi tự hỏi tại sao người ta không nhận ra chân lý đơn giản, đó là hiệu ứng mắc lừa bởi ngẫu nhiên: nhầm tưởng sự xuất hiện cạnh nhau là tính nhân quả, nghĩa là, nếu các nước giàu có trình độ giáo dục cao, ngay lập tức suy luận rằng giáo dục làm cho họ giàu mà thậm chí chẳng buồn kiểm tra. Ở đây lại là một hiện tượng phụ. (Sai lầm trong lập luận phần nào cũng là do mong muốn, vì giáo dục được xem là “tốt”; tôi tự hỏi sao người ta không tạo ra một hiện tượng phụ liên hệ giữa sự giàu có của một nước với điều gì “xấu” như sự suy đồi đạo đức chẳng hạn, rồi suy luận rằng sự suy đồi đạo đức hay một căn bệnh giàu có khác như tỷ lệ tự tử cao, cũng mang lại phồn vinh.)

Tôi không nói rằng đối với cá nhân, giáo dục là vô ích: giáo dục mang lại những phẩm chất và sự chứng nhận có ích cho sự nghiệp cá nhân - nhưng những ảnh hưởng như vậy bị rửa trôi ở cấp quốc gia. Giáo dục giúp bình ổn thu nhập gia đình qua các thế hệ. Một thương nhân kiếm ra tiền, rồi cho con cái đi học trường Sorbonne, họ trở thành bác sĩ và thẩm phán. Gia đình duy trì sự giàu sang vì bằng cấp giúp các thành viên gia đình vẫn thuộc giới trung lưu sau khi tài sản của ông bà cha mẹ không còn. Nhưng các ảnh hưởng này không có tác dụng ở cấp độ quốc gia.

Hơn nữa, nhà kinh tế học người Anh Alison Wolf còn vạch ra khiếm khuyết logic khi đi từ luận điểm cho rằng thật khó hình dung ra Microsoft hay ngành hàng không vũ trụ Anh nếu không có tri thức tiên tiến cho đến ý tưởng cho rằng giáo dục nhiều hơn có nghĩa là sẽ thịnh vượng hơn. “Mối quan hệ một chiều đơn giản làm mê hoặc các chính khách và các nhà bình luận đến thế - rằng đầu vào chi tiêu giáo dục dẫn đến đầu ra tăng trưởng kinh tế - đơn giản là không tồn tại. Hơn nữa, ngành giáo dục càng lớn và càng phức hợp, mọi mối quan hệ với năng suất càng trở nên kém hiển nhiên.” Cũng tương tự như Pritchett, bà xem xét những nước như Ai Cập, và vạch ra rằng bước nhảy vĩ đại trong giáo dục đang diễn ra đã không biến thành sự Tăng Trưởng GDP Vàng Son Vô Cùng Hoan Hỉ Giúp Các Nước Trở Nên Quan Trọng Hay Không Quan Trọng Trên Bảng Xếp Hạng như thế nào.

Lập luận này không phải để chống đối việc thực hiện các chính sách giáo dục nhà nước vì những mục đích cao quý như giảm bất bình đẳng trong dân số, cho phép người nghèo tiếp cận văn chương cao đẹp và đọc các tác phẩm của Dickens, Victor Hugo, hay Julien Gracq, hay giải phóng phụ nữ ở các nước nghèo, tình cờ cũng giúp giảm tỷ lệ sinh đẻ. Nhưng khi đó, người ta không nên viện cớ “tăng trưởng” hay “thịnh vượng” trong những vấn đề này.

Có lần tôi tình cờ gặp Alison Wolf trong một bữa tiệc (các bữa tiệc quả là tuyệt vời về khả năng chọn lựa). Khi tôi gặp bà đang giải thích cho những người khác bằng chứng về tính phi hiệu quả trong việc tài trợ giáo dục chính thức, một người tỏ vẻ thất vọng trước tinh thần hoài nghi của chúng tôi. Wolf đáp lời, “nền giáo dục thật sự là ở đây” và bà chỉ vào căn phòng đầy người đang trò chuyện. Vì lẽ đó, tôi không nói rằng tri thức là không quan trọng; tinh thần hoài nghi trong thảo luận này áp dụng cho loại tri thức hàng hóa tô hồng đóng gói sẵn, kiểu vật liệu mà người ta có thể mua trên thị trường mở và sử dụng để tự quảng bá cho chính mình. Hơn nữa, cho phép tôi nhắc độc giả rằng sự học rộng biết nhiều và giáo dục có tổ chức không phải là cùng một loại.

Lại một câu chuyện tiệc tùng khác. Có lần, trong một bữa tối chính thức thú vị, một anh chàng phàn nàn về trình độ giáo dục ở Hoa Kỳ đang sa sút do điểm toán thấp đáng báo động. Cho dù tôi đồng ý với mọi quan điểm khác của anh, tôi cảm thấy buộc phải can thiệp. Tôi ngắt lời anh bằng nhận định rằng giá trị của nước Mỹ là sự chấp nhận rủi ro với “mối quan hệ có dạng lồi” và tôi vui mừng vì chúng ta không có cái văn hóa theo kiểu của những bà mẹ ấp ủ bảo bọc con cái quá đáng, kiểu sự việc mà tôi đang viết ở đây. Mọi người đều sốc, hoặc cảm thấy bối rối, hoặc không tán thành một cách rõ rệt nhưng thụ động, ngoại trừ một người duy nhất đứng ra ủng hộ tôi. Hóa ra bà là người đứng đầu hệ thống trường học thành phố New York.

Cũng nên lưu ý, tôi không nói rằng các trường đại học không tạo ra tri thức chút nào và không giúp tăng trưởng (lẽ dĩ nhiên, ngoại trừ hầu hết bộ môn kinh tế học tiêu chuẩn và những sự mê tín khác cản trở bước tiến chúng ta); tất cả những gì tôi đang nói là vai trò của chúng đã được thổi phồng quá đáng và các thành viên của chúng xem ra đang khai thác phần nào tính cả tin của chúng ta để thiết lập mối quan hệ nhân quả sai lầm, chủ yếu dựa trên những ấn tượng bên ngoài.

Những người bạn ăn tối lịch sự

Ngoài việc ổn định thu nhập gia đình, giáo dục cũng có những lợi ích khác. Ví dụ, giáo dục giúp tạo ra những người bạn ăn tối lịch sự, một điều chẳng tầm thường chút nào. Nhưng ý tưởng giáo dục con người để cải thiện nền kinh tế thì khá mới lạ. Mới 50 năm trước, chính phủ Anh đã dẫn chứng bằng tư liệu những mục đích của giáo dục khác với mục đích mà ta có ngày nay: nâng cao giá trị, tạo ra những công dân tốt, và “hiểu biết”, chứ không phải tăng trưởng kinh tế (lúc bấy giờ họ không phải là những kẻ bị mắc lừa) - một luận điểm mà Alison Wolf cũng đưa ra.

Tương tự, trong thời cổ đại, học là để hiểu biết, để trở thành người tốt, đáng để chuyện trò, chứ không phải để tăng trữ lượng vàng trong những kho báu được canh gác cẩn mật. Các nghiệp chủ, nhất là những người làm công việc kỹ thuật, không nhất thiết là những người thú vị nhất để ta cùng ăn tối. Tôi nhớ lại một quy tắc cảm tính tôi sử dụng để tuyển dụng nhân sự trong công việc của tôi trước đây (gọi là “phân biệt giữa những người mà khi đến viện bảo tàng họ nhìn vào Cézane trên tường và những người chú trọng vào những gì chứa trong cái thùng rác”): cuộc chuyện trò với họ càng thú vị bao nhiêu, họ càng có văn hóa bao nhiêu, thì họ càng bị mắc bẫy bấy nhiêu trong suy nghĩ cho rằng mình sẽ hoạt động hữu hiệu trong mọi công việc thực tế (điều mà các nhà tâm lý học gọi là hiệu ứng hào quang [halo effect]), sai lầm khi nghĩ rằng các kỹ năng trong hoạt động trượt tuyết sẽ được chuyển hóa tốt đẹp thành các kỹ năng trong việc quản lý một cửa hàng đồ gốm hay một bộ phận ngân hàng, hay người chơi cờ giỏi sẽ là một nhà chiến lược trong đòi thường).65

Rõ ràng, thật là sai lầm khi đánh đồng giữa kỹ năng làm việckỹ năng nói. Kinh nghiệm của tôi về những người thực hành giỏi là họ có thể vô cùng khó hiểu - họ không phải dành nhiều năng lượng để biến những hiểu biết và sự mạch lạc nội tâm thành phong cách tao nhã và ngôn ngữ dễ hiểu. Các nghiệp chủ được chọn để trở thành những người hành động chứ không phải các nhà tư tưởng; người hành động chỉ giỏi làm chứ không giỏi nói; và thật là bất công, sai lầm và xúc phạm khi xét đoán họ bằng lời nói. Điều này cũng đúng với nghề thủ công: chất lượng nằm ở sản phẩm của họ chứ không phải ở cuộc chuyện trò với họ - thật ra, họ có thể dễ dàng có những niềm tin sai lầm dẫn họ đến chỗ làm ra những sản phẩm tốt hơn, như một tác dụng phụ, vậy thì đã sao? Mặc khác, các công chức, do thiếu một thước đo thành công khách quan và thiếu áp lực thị trường, nên được tuyển chọn dựa vào “hiệu ứng hào quang” của hình thức và vẻ ngoài thanh lịch. Tác dụng phụ là làm cho họ giỏi hơn trong các cuộc chuyện trò. Tôi chắc chắn rằng một buổi ăn tối với nhân viên Liên hiệp quốc thì sẽ bao trùm nhiều chủ đề thú vị hơn so với một người trong số họ hàng của Tony Béo hay một nghiệp chủ máy tính bị ám ảnh với các mạch điện tử.

Ta hãy xem xét kỹ hơn sai lầm tư duy này.

Trong một trong những quyển sách về tài chính hiếm hoi không lừa bịp với tựa đề What I Learned Losing a Million Dollars (Những gì tôi học được khi mất một triệu đôla), người kể chuyện đã có một phát hiện lớn: Anh nhận thấy Joe Siegel, một trong những nhà buôn thành công nhất mặt hàng gọi là “gỗ xanh” (gỗ tươi mới đốn), thật sự tưởng rằng nó là những súc gỗ son xanh chứ không phải gỗ tươi mới đốn gọi là xanh vì nó chưa khô. Thế mà nghề nghiệp của gã là kinh doanh mặt hàng này! Trong khi đó, người kể chuyện say mê theo đuổi những lý thuyết trí tuệ cao siêu, ghi chép tường thuật về điều gì làm cho giá hàng hóa thay đổi, và rồi phá sản.

Chẳng phải gã chuyên gia gỗ thành công là kẻ dốt nát về những vấn đề chính yếu như cách gọi “xanh” cho những súc gỗ tươi. Gã cũng biết những điều về gỗ mà những người ngoài ngành cho là không quan trọng. Những người mà ta gọi là dốt chưa chắc đã dốt.

Vấn đề nằm ở chỗ, việc dự đoán đơn đặt hàng gỗ và việc tường thuật thông thường không liên quan gì đến những chi tiết mà người bên ngoài cho là quan trọng. Những người làm việc trong ngành không phụ thuộc vào một kỳ thi tiêu chuẩn bang; họ được chọn không phải theo cách kể chuyện - những lập luận hùng hồn không làm nên khác biệt gì. Sự tiến hóa không dựa vào những câu chuyện kể, mà là dựa vào hành động. Sự tiến hóa không cần phải có một từ để diễn tả màu xanh.

Vì thế ta gọi ngụy biện gỗ xanh để diễn tả tình huống trong đó người ta nhầm lẫn giữa nguồn tri thức cần thiết - màu xanh của gỗ tươi mới đốn - với nguồn tri thức khác, không dễ thấy từ bên ngoài, không dễ theo dõi, không dễ kể lại.

Thế giới tri thức của tôi bị vỡ tan như thể mọi thứ tôi từng học tập nghiên cứu chẳng những vô ích mà còn là một sự gian lận có tổ chức, như sau: Thoạt đầu khi tôi trở thành chuyên gia về chứng khoán phái sinh, hay chuyên gia về “biến động” (tôi chuyên về tính phi tuyến), tôi tập trung vào tỷ giá hối đoái, một lĩnh vực tôi đã gắn bó vài năm. Tôi phải làm việc cùng các nhà giao dịch ngoại hối - những người không dính líu đến các công cụ kỹ thuật như tôi; công việc của họ chỉ đơn thuần bao gồm mua bán tiền tệ. Trao đổi tiền tệ là một nghề rất cổ xưa với truyền thống và những mánh khóe lâu đòi; hãy nhớ lại câu chuyện chúa Jesus và những người đổi tiền. Đến với công việc này từ một môi trường thuộc liên minh các trường đại học danh tiếng nhất miền đông bắc nước Mỹ (Ivy League), tôi tham gia với một cú sốc. Bạn có thể nghĩ rằng những người chuyên về ngoại hối sẽ am hiểu kinh tế học, địa chính trị, toán học, giá tương lai của tiền tệ, chênh lệch giá giữa các nước. Hay họ cần mẫn đọc các báo cáo kinh tế in bằng giấy láng của các viện nghiên cứu đủ loại. Bạn cũng có thể hình dung những nhân vật quốc tế đeo cà vạt lớn trong buổi opera vào tối thứ bảy, khiến những người hầu rượu phải hồi hộp, và học nhảy tango vào những buổi chiều thứ tư, hay nói thứ tiếng Anh chỉ có thể lĩnh hội bằng trí tuệ. Không cái nào đúng cả.

Ngày đầu tiên đi làm của tôi là một phát hiện kinh ngạc về thế giới thực tế. Thành phần làm việc trong lĩnh vực ngoại hối lúc bấy giờ chủ yếu bao gồm những anh chàng người Ý khu vực New JerseyBrooklyn. Họ là những người bình thường, hết sức bình thường, khỏi nghiệp trong các văn phòng hậu kiểm của các ngân hàng, chuyên làm công việc chuyển tiền, và khi thị trường mở rộng, thậm chí bùng phát, với sự tăng trưỏng thương mại và thả nổi đồng tiền, họ phát triển thành các nhà giao dịch, trỏ nên nổi tiếng trong nghề và trỏ nên phát đạt.

Cuộc chuyện trò đầu tiên của tôi với một chuyên gia là với một anh chàng tên B mặc một bộ vét Brioni may đo. Tôi được biết anh là nhà giao dịch đồng franc Thụy Sĩ lớn nhất thế giới, một huyền thoại thời ấy - anh đã dự đoán sự sụp đổ đồng đôla vào thập niên 1980 và kiểm soát được lượng giao dịch khổng lồ. Nhưng cuộc chuyện trò ngắn ngủi với anh cho thấy anh không biết nước Thụy Sĩ nằm ỏ đâu trên bản đồ; thật là khù khờ, tôi còn tưỏng anh là người Ý gốc Thụy Sĩ, thế nhưng anh không biết ỏ Thụy Sĩ cũng có những người nói tiếng Ý. Anh chưa bao giờ đến đó. Khi tôi nhận ra anh không phải là trường hợp duy nhất, tôi bắt đầu sửng sốt nhìn thấy những năm tháng học tập của mình bốc hoi ngay trước mắt. Đó là lúc tôi ngưng đọc các báo cáo kinh tế. Tôi cảm thấy buồn nôn mất một thời gian trong quá trình “từ bỏ tri thức” của mình; thật ra, có lẽ tôi cũng chưa hồi phục.

Nếu New York vốn là dân lao động cổ cồn xanh, thì Luân Đôn còn cổ cồn xanh Hơn nữa, và thậm chí còn thành công hơn. Những người tham gia hoàn toàn là những người bình dân, thậm chí còn tách biệt với cái xã hội có ngôn ngữ đúng cú pháp. Họ là người ở khu đông Luân Đôn, những con người bình thường (cực kỳ bình thường) với giọng nói riêng biệt, sử dụng hệ thống đánh số riêng. Số 5 là “Lady Godiva” hay “ching”, số 15 là “commodore”, số 25 là “pony” vv… Tôi phải học ngôn ngữ khu Đông để có thể giao tiếp, và chủ yếu đi nhậu với các đồng nghiệp khi tôi đến đó; lúc bấy giờ, các nhà giao dịch Luân Đôn uống bia gần như mỗi ngày vào bữa trưa, đặc biệt là vào ngày thứ sáu trước khi thị trường New York mở cửa. “Bia biến cậu thành một con sư tử,” một anh chàng nói với tôi khi anh vội vã uống cạn ly bia trước khi thị trường New York mở cửa.

Quang cảnh vui nhộn nhất là khi nghe loa phóng thanh truyền đi những cuộc trao đổi giữa công chúng Bensonhurst New York và các tay môi giới gốc đông Luân Đôn, nhất là khi các anh chàng Brooklyn cố gắng bắt chước một chút kiểu phát âm khu đông Luân Đôn để phía môi giới hiểu ý mình (dân khu đông Luân Đôn nhiều khi không nói tiếng Anh tiêu chuẩn).

Đó là cách tôi học được bài học rằng giá cả và thực tế qua con mắt của các nhà kinh tế học không phải là như nhau. Biến số này có thể là một hàm số theo biến số kia, nhưng hàm số ấy quá phức tạp nên không thể biểu thị bằng toán học. Mối quan hệ có thể có khả năng chọn lựa trong nhiều lĩnh vực, điều mà những người không rành câu cú ấy lại am hiểu sâu sắc.66

Tony Béo đã làm giàu (và béo) như thế nào

Tony Béo đã trở thành Tony Béo (theo nghĩa đen), giàu có và nặng nề hơn, sau cuộc chiến tranh Kuwait (theo thứ tự thông thường, nghĩa là giàu trước rồi mới béo). Đó là vào tháng 1 năm 1991, ngày Hoa Kỳ tấn công Baghdad để giải phóng Kuwait vốn đã bị Iraq xâm lược.

Mọi người trí thức đều am hiểu về các lý thuyết, xác suất, tình huống và tất cả mọi thứ trong lĩnh vực kinh tế xã hội. Ngoại trừ Tony Béo. Anh thậm chí còn không biết Iraq nằm ở đâu, không biết đó là một tỉnh của Morocco hay một tiểu vương quốc với thức ăn cay xè ở phía đông Pakistan - anh không biết về thức ăn ở đó, nên địa phương đó cũng không tồn tại đối với anh.

Tất cả những gì anh biết là trên đời có những kẻ ngốc.

Nếu bạn hỏi bất kỳ một “nhà phân tích” hay một nhà báo tài trí nào lúc bấy giờ, họ cũng đều dự đoán giá dầu sẽ tăng trong trường hợp có chiến tranh. Nhưng mối quan hệ nhân quả đích thị là thứ Tony không cho là đương nhiên. Vì thế anh đánh cược ngược lại: mọi người đều chuẩn bị cho sự gia tăng giá dầu do chiến tranh, thế nên giá ắt phải điều chỉnh trước dự đoán đó. Chiến tranh có thể làm tăng giá dầu, nhưng không phải là một cuộc chiến tranh đã lên lịch - vì giá điều chỉnh theo kỳ vọng. Như anh nói, nó phải “nằm trong giá rồi”.

Quả thật, trước tin tức chiến tranh, giá dầu sụp đổ từ khoảng 39 USD một thùng xuống còn gần một nửa giá trị, và khoản đầu tư 300.000 đôla của Tony biến thành 18.000.000 đôla. Về sau anh bảo với Nero khi họ ăn trưa với nhau lúc anh thuyết phục người bạn ngoài vùng New Jersey của mình hãy đánh cược vào sự sụp đổ của hệ thống tài chính: “Chẳng có mấy dịp như thế trong đời, cậu không nên bỏ lỡ. Những vụ cá độ đầu cơ tốt đến với cậu, chứ cậu không thể có nó bằng cách chăm chú vào mấy cái tin tức.”

Và lưu ý nhận định chính của Tony Béo: “Kuwait và dầu không phải là cùng một tứ [thứ, do anh nói ngọng].” Đây sẽ là nền tảng cho khái niệm đánh đồng hai chuyện khác nhau. Triển vọng kiếm lời của Tony nhiều hơn triển vọng bị lỗ, và đối với anh, chỉ cần thế.

Quả thật, nhiều người đã thua lỗ do giá dầu giảm, tuy họ dự đoán đúng về chiến tranh. Họ cứ nghĩ đó là như nhau. Nhưng họ đã tích trữ quá nhiều. Tôi nhớ khoảng thời gian đó tôi có đến văn phòng của một nhà quản lý quỹ lớn, anh có bản đồ Iraq trên tường với cách bài trí hệt như một phòng tác chiến. Các thành viên nhóm biết mọi thứ về Kuwait, Iraq, Washington, Liên hiệp quốc. Ngoại trừ sự kiện đơn giản là nó không liên quan đến dầu - không phải là cùng một “tứ”. Tất cả những phân tích này đều hay đấy, nhưng nó cũng không liên quan đến mọi thứ. Lẽ dĩ nhiên, anh bạn quản lý quỹ bị thất bại nặng nề do giá dầu giảm mạnh và theo tôi biết, giờ đã chuyển sang trường luật.

Ngoài quan điểm phi liên tưởng về sự việc, còn có một bài học khác. Những người có quá nhiều phương pháp và thủ thuật tinh xảo trong não bộ sẽ bắt đầu bỏ sót những thứ rất cơ bản. Con người trong thế giới thực tế không thể bỏ sót những thứ này; bằng không họ sẽ làm nổ tung chiếc máy bay. Không như các nhà nghiên cứu, họ được chọn lọc để sống sót chứ không phải để phức tạp hóa vấn đề. Vì thế, tôi thấy trong hành động người ta càng đơn giản càng tốt: càng nghiên cứu nhiều, những vấn đề cơ bản càng trở nên kém rõ ràng; mặt khác, hành động giúp bóc trần sự việc trong hình thái khả dĩ đơn giản nhất.

SỰ ĐÁNH ĐỒNG HAI THỨ KHÁC NHAU

Lẽ dĩ nhiên, có nhiều thứ không phải là như nhau trong đòi. Ta hãy khái quát hóa sự đánh đồng hai thứ khác nhau.

Bài học “không phải là như nhau” này tương đối tổng quát. Khi bạn có một khả năng chọn lựa, nghĩa là có khả năng cải thiện nghịch cảnh, và nhìn thấy cơ hội cá cược với kết quả có lợi lớn và kết quả có hại nhỏ, những gì bạn làm chỉ có mối quan hệ xa vời so với những gì Aristotle nghĩ bạn sẽ làm.

Chúng ta có biến số (ở đây là nhận thức, ý tưởng, lý thuyết) và một hàm số theo biến số (ở đây là giá cả hay thực tế). Đánh đồng hai thứ có nghĩa là bạn nhầm lẫn cái này với cái kia, quên đi rằng ta có một hàm số, và hàm số đó có những thuộc tính khác.

Bây giờ, giữa biến số và hàm số càng phi đối xứng chừng nào thì sự khác biệt giữa chúng càng lớn. Cuối cùng, chúng có thể chẳng còn liên quan với nhau.

Điều này nghe có vẻ tầm thường, nhưng có những ý nghĩa to lớn, như trong khoa học thông thường - không phải là khoa học “xã hội”, mà là khoa học thông minh. Jim Simons là người đã thoát khỏi vấn đề đánh đồng hai thứ khác nhau này; ông là nhà toán học vĩ đại, làm giàu nhờ xây dựng một cỗ máy vĩ đại để giao dịch giữa các thị trường. Nó mô phỏng các phương pháp mua và bán của các nhà giao dịch cổ cồn xanh và có ý nghĩa thống kê nhiều hơn bất kỳ ai khác trên hành tinh này. Ông khẳng định không bao giờ thuê các nhà kinh tế học và tài chính, mà chỉ thuê các nhà vật lý và toán học, những người liên quan đến quá trình nhận thức diễn biến tiếp cận logic bên trong của sự việc, mà không lý thuyết hóa. Ông cũng chẳng bao giờ lắng nghe các nhà kinh tế học hay đọc các báo cáo của họ.

Nhà kinh tế học vĩ đại Ariel Rubinstein67 thấu hiểu ngụy biện gỗ xanh: phải có sự thông tuệ và trung thực để nhìn nhận sự việc như thế. Rubinstein là một trong những người đi đầu trong lĩnh vực lý thuyết trò chơi, bao gồm các thực nghiệm tư duy; ông cũng là chuyên gia vĩ đại nhất ngồi trong các quán cà phê trên khắp hành tinh để tư duy và viết lách. Rubinstein cũng từ chối xác nhận rằng tri thức về các vấn đề lý thuyết của ông có thể chuyển hóa thành hoạt động thực hành trực tiếp. Đối với ông, bộ môn kinh tế học cũng hệt như một câu chuyện ngụ ngôn; người viết chuyện ngụ ngôn kích thích các ý tưởng, có lẽ gián tiếp khoi nguồn cảm hứng cho hoạt động thực hành, nhưng chắc chắn không chỉ đạo hay quyết định việc thực hành. Lý thuyết nên độc lập với thực hành và ngược lại; và chúng ta không nên đưa các học giả kinh tế ra khỏi khuôn viên của họ và đặt họ vào vị trí ra quyết định. Kinh tế học không phải là một khoa học và không nên cố vấn chính sách.

Trong hồi ký sáng suốt của mình, Rubinstein kể lại chi tiết việc ông cố gắng thuyết phục một nhà buôn Levant ở khu chợ Hồi giáo áp dụng ý tưởng từ lý thuyết trò chơi vào việc mặc cả thay cho các cơ chế từ xưa. Phương pháp đề xuất không đem lại mức giá có thể chấp nhận cho cả hai bên. Sau đó người lái buôn bảo ông: “Chúng tôi đã thương lượng theo cách thức của mình hàng bao đời nay, thế mà ông đến và cố gắng thay đổi nó sao?” Rubinstein kết luận: “Tôi chia tay ông ấy trong ngượng ngùng.” Ta chỉ cần có thêm hai người nữa giống như Rubinstein trong nghề nghiệp này, và từ đó mọi việc trên trái đất này sẽ tốt hơn.

Đôi khi, ngay cả khi lý thuyết kinh tế có ý nghĩa, thì việc ứng dụng cũng không thể áp đặt từ một mô hình theo cách thức từ trên xuống dưới, vì thế, để áp dụng lý thuyết, ta vẫn cần có hoạt động thử nghiệm và sửa sai tự định hướng và có tổ chức. Ví dụ, khái niệm chuyên môn hóa từng ám ảnh các nhà kinh tế học từ thời Ricardo (và trước đó) đã làm nổ tung các nước khi bị áp đặt bởi các nhà hoạch định chính sách, vì nó làm cho các nền kinh tế dễ bị sai lầm; nhưng nó có tác dụng tốt khi đạt được bằng những phương tiện tích cực và tiến hóa, với các biện pháp giảm xóc và các lớp dư thừa. Một trường hợp khác, trong đó các nhà kinh tế học có thể khơi nguồn cảm hứng nhưng không nên khuyên ta nên làm gì, sẽ được trình bày khi thảo luận về lợi thế so sánh Ricardo và tính mỏng manh của mô hình trong phần phụ lục.

Sự khác biệt giữa liên tưởng và thực tiễn - những sự việc quan trọng không thể dễ dàng liên tưởng - chủ yếu nằm ở khả năng chọn lựa, những khả năng chọn lựa bị bỏ lỡ. Thông thường, “điều đúng đắn” ở đây là kết quả có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Và tôi lập luận rằng, bạn không cần đến trường để học về khả năng chọn lựa, mà ngược lại, bạn đến trường để trở nên mù quáng, không nhìn thấy nó.

PROMETHEUS VÀ EPIMETHEUS

Theo truyền thuyết Hy Lạp, có hai anh em thần Titan, Prometheus và Epimetheus. Prometheus có nghĩa là “người tư duy trước” trong khi Epimetheus có nghĩa là “người tư duy sau”, tương tự như những người bóp méo lý thuyết để phù hợp với các biến cố quá khứ khi liên hệ lại sự việc sau khi đã xảy ra. Prometheus mang đến cho ta lửa và đại diện cho sự tiến bộ văn minh, trong khi Epimetheus tiêu biểu cho tư duy tụt hậu, cũ kỹ, và kém thông minh. Chính Epimetheus đã nhận món quà của Pandora, chiếc hộp to, với những hệ lụy không thể cứu vãn.

Khả năng chọn lựa là Prometheus, liên tưởng là Epimetheus. Prometheus có những sai lầm nhẹ nhàng và có thể cứu vãn; Epimetheus tượng trưng cho tính nghiêm trọng và không thể cứu vãn của những hệ lụy xảy ra khi mở chiếc hộp Pandora.

Nhờ chủ nghĩa cơ hội và khả năng chọn lựa, bạn có thể tạt ngang qua tương lai. Cho đến giờ, trong tập IV, chúng ta đã thấy sức mạnh của khả năng chọn lựa như một phương án khác để hành động, mang tính cơ hội, với ưu điểm lớn xuất phát từ tính phi đối xứng, trong đó lợi ích thì lớn còn thiệt hại thì nhẹ nhàng. Đây là cách thức - cách duy nhất - để thuần hóa tình trạng bất định, để hành động một cách hợp lý khi ta không thể biết trước tương lai; trong khi dựa vào sự liên tưởng đích xác là điều ngược lại: ta sẽ bị khống chế và bị cản trở bước tiến bỏi tình trạng bất định. Bạn không thể dự đoán tương lai bằng cách xem xét quá khứ một cách ngây thơ.

Điều này cho ta thấy sự khác biệt giữa hành động và tư duy. Nhìn từ góc độ giới trí thức thì điều này thật khó hiểu. Như Yogi Berra nói: “Theo lý thuyết, không có sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn; nhưng trong thực tiễn thì có.” Cho tới giờ, ta đã thấy lập luận cho rằng trí tuệ gắn liền với tính mỏng manh và dẫn đến những phương pháp xung đột với hoạt động chỉnh sửa. Cho tới giờ, ta đã thấy quyền chọn là một biểu hiện của khả năng cải thiện nghịch cảnh. Ta chia tri thức ra thành hai loại: loại chính quy và loại của Tony Béo, đặt nền tảng trên khả năng cải thiện nghịch cảnh của việc thử nghiệm và sửa sai, và chấp nhận rủi ro với kết quả thiệt hại thấp, chiến lược hai đầu - một hình thức chấp nhận rủi ro không dựa vào trí thông minh (mà đúng hơn, nó có sự sáng suốt riêng của nó). Trong một thế giới mù mờ nhá nhem, đó là cách duy nhất để ta tiến tới.

Bảng 4 tóm tắt các khía cạnh đối nghịch khác nhau giữa nói và làm, giữa liên tưởng và hoạt động chỉnh sửa, chủ đề của ba chương tiếp theo.

BẢNG 4. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA MỤC ĐÍCH LUẬN VÀ KHẢ NĂNG CHỌN LỰA

TRI THỨC LIÊN TƯỞNG

KHẢ NĂNG CẢI THIỆN NGHỊCH CẢNH: HOẠT ĐỘNG CHỈNH SỬA CÓ KHẢ NĂNG CHỌN LỰA, THỬ NGHIỆM VÀ SỬA SAI

Ghét tình trạng bất định (mỏng manh trước sự thay đổi, hiểu sai về quá khứ theo kiểu gà tây)

Thuần hóa tình trạng bất định (có khả năng cải thiện nghịch cảnh trước những gì không biết)

Nhìn vào quá khứ, điều chỉnh quá đáng theo quá khứ

Nhìn về tương lai

Epimetheus

Prometheus

Hành động theo mục đích

Hành động theo chủ nghĩa cơ hội

Phong cách du khách

Phong cách đi phượt

Mỏng manh, tính duy lý ngây thơ

Tính duy lý mạnh mẽ

Thoải mái về mặt tâm lý

Không thoải mái về mặt tâm lý, nhưng cảm nhận hồi hộp và phiêu lưu

Lõm (lợi ích biết trước và dễ thấy; không nhìn thấy sai lầm)

Lồi (sai lầm nhỏ và biết trước; lợi ích tiềm năng lớn)

Vướng vào vấn đề gà tây (nhầm lẫn giữa bằng chứng cho sự không có với không có bằng chứng)

Có thể hưởng lợi từ những kẻ ngốc và vấn đề gà tây

Vướng vào các hiện tượng phụ và ngụy biện gỗ xanh

Thoát khỏi ngụy biện gỗ xanh

Cơ chế duy nhất của giới học thuật bên ngoài phòng thí nghiệm và khoa học vật lý

Cơ chế chính của thực tiễn

Liên tưởng là nhận thức

Liên tưởng là công cụ

Rơi vào cái bẫy của câu chuyện

Không phụ thuộc vào một câu chuyện - chuyện kể chỉ có tính chất kích thích

Lĩnh vực thu hẹp, không gian hành động khép kín

Lĩnh vực mở rộng, không gian hành động mở rộng

Cần hiểu logic của sự việc

Chỉ cần am hiểu đôi chút, đủ để có tính duy lý trong việc so sánh hai kết quả (thực hiện quyền chọn tốt hơn)

Không hưởng lợi từ hòn đá luyện đan
(còn gọi là độ lệch lồi, xem chương 19)

Dựa vào hòn đá luyện đan

Tất cả những điều này không có nghĩa là hoạt động chỉnh sửa cũng như việc thử nghiệm và sửa sai thì không có sự liên tưởng hay không có chuyện kể; chúng chỉ không phụ thuộc quá đáng vào sự liên tưởng; sự liên tưởng không phải là nhận thức mà là công cụ. Các bậc phụ huynh người Anh khống chế con cái họ bằng câu chuyện tưởng tượng rằng nếu các em không ngoan hay không chịu ăn com, ông kẹ hay một con thú hoang nào đó có thể đến bắt các em. Tôn giáo thường sử dụng phương pháp tương tự để giúp người trưởng thành thoát khỏi ưu phiền, hay tránh nợ. Nhưng giới trí thức có xu hướng tin tưởng và xem ý tưởng của họ là quá đúng theo nghĩa đen, và vì thế hết sức nguy hiểm.

Ta hãy xem vai trò của sự suy nghiệm có trong truyền thống. Nói đơn giản, cũng hệt như quá trình tiến hóa xảy ra đối với các cá nhân, sự tiến hóa cũng tác động đến các kinh nghiệm ngấm ngầm, không thể giải thích này lưu truyền qua các thế hệ; điều mà Karl Popper68 gọi là nhận thức luận tiến hóa (evolutionary epistemology). Nhưng cho phép tôi thay đổi ý tưởng của Popper đôi chút: tôi cho rằng sự tiến hóa này không phải là sự cạnh tranh giữa các ý tưởng, mà là giữa con người và các hệ thống dựa vào ý tưởng. Một ý tưởng không tồn tại bởi vì nó tốt hơn trong quá trình cạnh tranh, mà đúng hơn, vì người có ý tưởng đó đã tồn tại! Vì lẽ đó, sự khôn ngoan mà bạn học hỏi từ bà ngoại (hay bà nội) sẽ ưu việt hơn nhiều (về mặt thực nghiệm, và vì thế cũng ưu việt về mặt khoa học) so với những gì bạn học được từ trường kinh doanh (và lẽ dĩ nhiên, cũng rẻ hơn nhiều). Tôi buồn vì chúng ta ngày càng rời xa bà ngoại bà nội chúng ta.

Những vấn đề chuyên gia (trong đó vị chuyên gia am hiểu nhiều nhưng vẫn ít hơn so với những gì ông ta nghĩ ông ta hiểu) thường dẫn đến tính mỏng manh, và ngược lại, việc chấp nhận sự vô minh sẽ giúp mang lại khả năng cải thiện nghịch cảnh.69 Các vấn đề chuyên gia đặt bạn vào phía bên thiệt hại của tính phi đối xứng. Ta hãy xem xét vấn đề liên quan đến rủi ro. Khi bạn mỏng manh, bạn cần am hiểu nhiều hơn so với khi bạn có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Trái lại, khi bạn tưởng bạn biết nhiều hơn so với những gì bạn thật sự biết, bạn sẽ trở nên mỏng manh (trước những sai lầm).

Trên đây chúng ta đã thấy bằng chứng về việc học tập trên lớp không dẫn đến giàu sang, mà đúng hơn, sự giàu sang dẫn đến học tập (một hiện tượng phụ). Tương tự, chúng ta sẽ thấy, sự chấp nhận rủi ro có khả năng cải thiện nghịch cảnh - chứ không phải nền giáo dục và nghiên cứu chính quy có tổ chức - nhìn chung là nguyên nhân dẫn đến đổi mới và tăng trưởng, khác với câu chuyện được ngụy tạo bởi những người viết sách giáo khoa. Điều đó không có nghĩa lý thuyết và nghiên cứu không có vai trò gì; cũng hệt như khi ta bị mắc lừa bỏi ngẫu nhiên, ta cũng bị mắc lừa khi đánh giá quá cao vai trò của những ý tưởng nghe có vẻ hay ho. Ta sẽ xem xét những mẫu chuyện phét lác của các sử gia về tư tưởng kinh tế, y học, công nghệ và các lĩnh vực khác, vốn có xu hướng xem thường những người thực hành một cách có hệ thống và rơi vào ngụy biện gỗ xanh.

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.