Làm sao để sống sót vượt qua những lời khuyên - Không mất gì hay không được gì - Làm gì trong lần đắm tàu kế tiếp
Một vài thiên niên kỷ trước thời Tony Béo, một chàng trai khác trên bán đảo Ý đã giải đáp vấn đề về khả năng cải thiện nghịch cảnh. Chỉ có điều, tài trí hơn anh bạn béo của chúng ta, chàng trình bày nó trong những áng văn chương xuất chúng. Ngoài ra, chàng cũng thành công chẳng kém trong đời thường - quả thật chàng thành công trong kinh doanh hơn nhiều so với Tony Béo, và trí tuệ không kém Nero. Chàng là triết gia khắc kỷ Seneca mà chúng ta từng đề cập đến, người được cho là người yêu của mẹ Nero (nhưng không phải).
Và chàng đã giải vấn đề về khả năng cải thiện nghịch cảnh - những vấn đề liên quan đến các yếu tố của Bảng Bộ Ba - thông qua sử dụng triết lý khắc kỷ.
Lucius Annaeus Seneca là nhà hiền triết, tình cờ cũng là người giàu nhất Đế chế La Mã, một phần nhờ vào sự nhạy bén thương mại, một phần nhờ làm gia sư cho vị hoàng đế giàu màu sắc Nero, người âm mưu giết mẹ trong mấy chương trước. Seneca theo trường phái triết học khắc kỷ và là người trình bày lỗi lạc tư tưởng này, chủ trương bàng quan trước số mệnh. Tác phẩm của chàng đã mê hoặc những người như tôi và hầu hết bạn bè mà tôi giới thiệu sách của chàng, vì chàng nói với chúng ta, chàng khẳng định những gì mình nói bằng hành động, và nhấn mạnh vào khía cạnh thực hành của chủ nghĩa khắc kỷ, làm thế nào tổ chức một chuyến đi, làm thế nào tự lo liệu cho mình trong khi tự sát (chàng bị hoàng đế ra lệnh phải tự sát), hay làm thế nào để đối phó trước nghịch cảnh và đói nghèo, hay quan trọng hơn, đối phó với của cải.
Vì Seneca đi sâu vào việc ra quyết định thực hành, giới học thuật thường cho rằng chàng không có đủ lý thuyết và triết lý. Thế nhưng không một nhà bình luận nào nhận thấy ở Seneca ý tưởng về tính phi đối xứng, vốn là trọng tâm của quyển sách này và của cuộc đòi, yếu tố then chốt của sự mạnh mẽ và khả năng cải thiện nghịch cảnh. Không ai cả. Luận điểm của tôi là, sự khôn ngoan khi ra quyết định quan trọng hơn nhiều so với tri thức - không chỉ trong thực hành mà cả trong triết học.
Các triết gia khác đi từ lý thuyết đến thực tiễn. Aristotle, khi cố gắng đưa ra những lòi khuyên thực tiễn, và Plato trước đó vài thập niên, với ý tưởng về nhà nước và lòi khuyên đối với những người cai trị, nhất là người cai trị Syracuse, đều vô ích hay dẫn đến thất bại. Để trở thành một vị hoàng đế kiêm triết gia thành công, tốt hơn nên bắt đầu như một hoàng đế chứ không phải như một triết gia, như minh họa qua câu chuyện đương thời sau đây.
Than ôi, những người ra quyết định thời hiện đại đi trên con đường một chiều từ lý thuyết đến thực tiễn. Họ nhất loạt hướng tới những vấn đề phức tạp nhất nhưng không thể áp dụng, gọi là quá trình “làm khoa học”. Có một giai thoại về giáo sư Triffat (tôi đổi tên vì câu chuyện có thể ngụy tạo, cho dù từ những gì tôi chứng kiến, nó rất tiêu biểu). Ông là một trong những học giả được trích dẫn nhiều nhất trong lĩnh vực lý thuyết ra quyết định, viết sách giáo khoa và giúp xây dựng cái thứ to tát và vô ích được gọi là “ra quyết định hợp lý”, chứa đầy những tiên đề to tát và vô ích, các xác suất to tát và thậm chí còn vô ích hơn. Triffat, lúc bấy giờ đang ở Đại học Columbia, đang trăn trở băn khoăn về quyết định có nên nhận bổ nhiệm ở Harvard hay không - nhiều người rao giảng về rủi ro nhưng suốt đời không đứng trước hành động chấp nhận rủi ro nào ngoài những loại quyết định này. Một đồng nghiệp đề nghị ông sử dụng những kỹ thuật hàm lâm của ông vốn được mọi người vô cùng tôn trọng, được vinh danh cao ngất và được trang trí rạng rỡ, những thứ như “độ thỏa dụng kỳ vọng tối đa”; và nói như lời người đồng nghiệp, “ông luôn luôn viết về điều này cơ mà.” Triffat giận dữ đáp: “Thôi nào, chuyện này nghiêm túc!”
Trái lại, Seneca không có gì khác hơn “chuyện này nghiêm túc”. Chàng từng sống sót qua một trận đắm tàu trong đó những thành viên khác trong gia đình đều thiệt mạng, và chàng viết những lá thư với những lời khuyên thực tế và kém thực tế cho bạn bè. Cuối cùng, khi tự kết liễu đời mình, chàng tuân theo những nguyên tắc mà chàng thuyết giảng trong các bài viết một cách xuất chúng và đầy phẩm giá. Vì thế, trong khi tác phẩm của nhà kinh tế học Harvard chỉ được đọc bởi những người đang cố gắng viết báo, tiếp đến tác phẩm của những người này cũng chỉ được đọc bởi những người đang cố gắng viết báo khác, và (hy vọng) sẽ bị nuốt chửng không chút động lòng bởi sự phát hiện của lịch sử, thì tác phẩm của Lucious Annaeus, còn gọi là Seneca Trẻ, mãi hai thiên niên kỷ sau khi chàng qua đòi vẫn còn được những con người chân chính tìm đọc.
Ta hãy tìm hiểu thông điệp của chàng.
Ít thiệt hại hơn từ cuộc đời
Ta bắt đầu bằng xung đột sau đây. Ta đã giới thiệu Seneca là người giàu có nhất Đế chế La Mã. Cơ nghiệp của chàng lên đến ba trăm triệu denarii (để cảm nhận về giá trị này, ta biết cũng trong khoảng thời gian này, Judas đã nhận 30 denarii, tương đương với một tháng lương, để phản bội chúa Jesus). Phải thú nhận, chắc chắn người ta khó lòng tin rằng người viết những dòng tư tưởng này trên một trong hàng trăm chiếc bàn của mình (với chân bàn bằng ngà voi) mà lại là người coi thường của cải vật chất.
Nhận thức truyền thống về chủ nghĩa khắc kỷ trong tư liệu là về sự bàng quan trước số mệnh - cùng những ý tưởng khác về sự hài hòa với vũ trụ mà tôi sẽ bỏ qua ở đây. Tư tưởng khắc kỷ chủ trương xem nhẹ giá trị của sự chiếm hữu trần tục. Khi Zeno vùng Kition, người sáng lập trường phái khắc kỷ, bị đắm tàu (có nhiều vụ đắm tàu trong tư liệu cổ đại), ông cho rằng ông may mắn được cất bớt gánh nặng nên giờ đây có thể hoạt động triết học. Và cụm từ chính có ảnh hưởng âm vang trong sự nghiệp của Seneca là nihil perditi, “tôi không mất gì” sau một biến cố bất lợi. Tư tưởng khắc kỷ làm cho bạn mong muốn nếm trải thử thách của tai họa. Và những người theo chủ nghĩa khắc kỷ xem thường sự xa hoa: Seneca viết về một người sống cuộc đòi hoang phí: “Hắn sống trong nợ nần, bất kể hắn vay mượn từ người khác hay từ tương lai của mình.”50
Nhìn từ góc độ này, chủ nghĩa khắc kỷ trở nên hoàn toàn mạnh mẽ, vì đạt được trạng thái miễn nhiễm trước các tình huống bên ngoài, bất kể xấu hay tốt, và không mỏng manh trước những quyết định do số phận mang lại, chính là sự mạnh mẽ. Các biến cố ngẫu nhiên không ảnh hưởng đến chúng ta theo bất kỳ cách nào (ta quá mạnh nên không thể thua được, và không tham lam hưởng thụ lợi lộc), vì thế ta được xếp vào cột giữa trong Bảng Bộ Ba.
Thế nhưng những gì ta trực tiếp học được từ Seneca, thay vì thông qua các nhà phê bình, là một câu chuyện khác. Phiên bản của Seneca về chủ nghĩa khắc kỷ là khả năng cải thiện nghịch cảnh trước số phận. Không bị thiệt hại từ Nữ thần May mắn, mà thậm chí còn tràn trề lợi lộc.
Quả thật, mục tiêu của Seneca thể hiện qua tư liệu là triết lý, cố gắng bám sát truyền thống khắc kỷ như mô tả trên đây: Chủ nghĩa khắc kỷ không phải là về việc hưởng lợi và lợi lộc, vì thế trong tư liệu, nó không đạt đến mức độ khả năng cải thiện nghịch cảnh, mà chỉ là ý thức kiểm soát số phận và giảm tính mỏng manh về mặt tâm lý. Nhưng các nhà bình luận đã hoàn toàn bỏ sót một điều gì đó. Nếu của cải vật chất là một gánh nặng, đồng thời không cần thiết, vậy có của cải để làm gì? Tại sao Seneca vẫn giữ của cải?
Như tôi từng nói về những nhà tâm lý học trong chương 2 bỏ qua sự tăng trưởng hậu chấn thương mà chỉ tập trung vào thiệt hại sau chấn thương, giới trí thức có điều này chống lại khả năng cải thiện nghịch cảnh: Đối với họ, thế giới có xu hướng dừng lại ở mức độ mạnh mẽ. Tôi không biết điều này là gì, nhưng họ không thích nó. Điều này làm họ tránh cho rằng Seneca muốn hưởng lợi từ số phận, và điều đó không có gì sai trái.
Trước tiên ta hãy học hỏi từ bậc thầy vĩ đại xem chàng kêu gọi giảm thiểu thiệt hại như thế nào, thông điệp tiêu chuẩn của chủ nghĩa khắc kỷ: sự mạnh mẽ, khỏi bị thiệt hại từ cảm xúc, làm thế nào rời xa cột đầu tiên trong Bảng Bộ Ba. Bước thứ hai, chúng ta sẽ thấy chàng thực sự đề xuất khả năng cải thiện nghịch cảnh như thế nào. Và bước thứ ba, ta sẽ khái quát hóa bí quyết của chàng trong một phương pháp tổng quát để tìm kiếm khả năng cải thiện nghịch cảnh trong chương 18 và 19.
Trở nên mạnh mẽ trước các cám xúc theo chủ nghĩa khắc kỷ
Thành công mang lại tình trạng phi đối xứng: giờ đây bạn có nhiều thứ để mất hơn so với những thứ bạn có thể kiếm thêm. Vì thế bạn trở nên mỏng manh. Ta hãy quay lại với câu chuyện thanh gươm Damocles. Không có tin vui đang chờ đọi, mà chỉ có vô vàn tin xấu ẩn nấp. Khi bạn trở nên giàu có, nỗi đau đánh mất cơ nghiệp sẽ to lớn hơn cảm xúc được lợi từ việc có thêm của cải, vì thế bạn bắt đầu sống trong cảm giác bị đe dọa triền miên. Người giàu trở nên mắc kẹt trong đống của cải đang kiểm soát họ, làm họ không thể yên giấc hàng đêm, làm tăng nồng độ hoóc-môn căng thẳng, làm giảm khiếu hài hước, thậm chí có thể làm mọc lông trên sống mũi và những căn bệnh tương tự. Seneca hiểu rằng giàu có làm ta lo sợ về việc mất của, vì thế có tác dụng như sự trừng phạt khi ta phụ thuộc vào của cải. Mọi lợi lộc, không có thiệt hại. Còn hơn thế nữa: sự phụ thuộc vào hoàn cảnh, hay nói đúng hơn, sự phụ thuộc vào các cảm xúc phát sinh từ hoàn cảnh, sẽ dẫn đến một hình thức nô lệ.
Người cổ đại ắt phải quen thuộc với tính phi đối xứng giữa ảnh hưởng của cái tốt và cái xấu, lợi ích và thiệt hại - tôi tìm thấy một nhận định từ trước đó trong tác phẩm của Livy: “Người ta cảm nhận điều tốt không mãnh liệt bằng điều xấu” (segnius homines bona quam mala sentiunt), ông viết trước Seneca một nửa thế hệ. Người cổ đại - chủ yếu là nhờ vào Seneca - đã đi trước các nhà tâm lý học hiện đại và các nhà lý thuyết quyết định kiểu Triffat, những người xây dựng các lý thuyết xung quanh khái niệm “ghét rủi ro” (hay thiệt hại), người cổ đại vẫn sâu sắc hơn, thực tiễn hơn, và vượt lên trên những liệu pháp tầm thường.
Tôi sẽ trình bày lại theo thời hiện đại. Hãy xem thử một tình huống trong đó bạn có nhiều thứ để mất và không có gì nhiều để kiếm chác. Nếu việc có thêm một lượng tài sản nhất định, ví dụ như một nghìn đồng shekel xứ Phoenicia, sẽ không mang lại nhiều lợi ích cho bạn, nhưng bạn lại cảm thấy thiệt hại to lớn khi mất đi số tiền tương đương, khi đó bạn sẽ có tình trạng phi đối xứng. Và tình trạng phi đối xứng này không tốt, bởi vì trong trường hợp này bạn là người mỏng manh.
Phương pháp thực hành để đối phó với tính mỏng manh của Seneca là trải qua các bài tập tinh thần để dứt bỏ sự chiếm hữu, vì thế khi thiệt hại phát sinh, ta sẽ không cảm thấy dằn vặt đau xót, một phương thức để giành lấy sự tự do trong nhiều hoàn cảnh. Điều này cũng tương tự như mua một hợp đồng bảo hiểm để bảo vệ trước thiệt hại. Ví dụ, Seneca thường bắt đầu các chuyến đi với gần như cùng những vật dụng mà chàng sẽ có nếu bị đắm tàu, bao gồm một chiếc chăn để ngủ trên mặt đất, vì nhà trọ thời bấy giờ rất thưa thớt (dù vậy, đặt sự việc vào bối cảnh thời đó, tôi cần làm rõ rằng chàng chỉ mang theo “một hay hai nô lệ”).
Để chứng tỏ điều này rõ ràng là hiện đại như thế nào, tiếp theo tôi sẽ cho thấy tôi đã áp dụng chủ nghĩa khắc kỷ này ra sao để giành lại sự kiểm soát tâm lý đối với tính ngẫu nhiên của cuộc đời. Tôi luôn ghét việc đi làm thuê và sự phụ thuộc vào ý kiến tùy hứng của người khác, nhất là khi phần lớn những gì người ta làm trong các công ty lớn đều vi phạm ý thức đạo đức của tôi. Vì thế, tôi tự làm chủ, ngoại trừ một khoảng thời gian tám năm. Nhưng trước đó, đối với công việc cuối cùng của tôi, tôi viết một lá thư từ chức ngay trước khi bắt đầu nhận nhiệm vụ, khóa nó trong một ngăn bàn, và cảm thấy tự do khi tôi làm việc ở đó. Tương tự, khi tôi còn là một nhà giao dịch, một nghề nghiệp đầy rẫy sự ngẫu nhiên, với tâm lý thiệt hại liên tục khoan sâu vào tâm hồn mình, tôi đã áp dụng bài tập tinh thần là mỗi buổi sáng đều giả định rằng điều khả dĩ tồi tệ nhất đã thật sự xảy ra - khoảng thời gian còn lại trong ngày sẽ là phần thưởng. Thật ra, phương pháp điều chỉnh tinh thần thích nghi với “điều tồi tệ nhất” có những ưu điểm còn hơn cả phép chữa bệnh, vì nó làm cho ta dám chấp nhận những rủi ro mà đối với nó, tình huống xấu nhất trở nên rõ ràng và không mơ hồ, với sự thiệt hại có hạn và biết trước. Thật khó mà giữ vững tinh thần dứt áo ra đi khi sự việc đang diễn biến tốt đẹp, nhưng đấy là lúc người ta cần đến tinh thần đó nhất. Ngoài ra, đôi khi tôi đi du lịch theo kiểu Seneca, trong những hoàn cảnh không tiện nghi (dù không như ông, tôi không được đi cùng với “một hay hai” nô lệ).
Một cuộc sống sáng suốt là biết xác định tâm lý để xóa bỏ cảm giác day dứt trước thiệt hại, mà như ta thấy, được thực hiện bằng cách dứt bỏ về mặt tinh thần mọi vật dụng vật chất để ta không cảm thấy đau lòng khi mất mát. Sự biến động của thế giới không còn tác động tiêu cực đến ta nữa.
Thuần hóa các cám xúc
Nhìn nhận theo cách này, chủ nghĩa khắc kỷ là về việc thuần hóa cảm xúc, chứ không nhất thiết là triệt tiêu cảm xúc. Tư tưởng khắc kỷ không phải là về việc biến con người thành thực vật. Ý tưởng của tôi về nhà hiền triết khắc kỷ thời hiện đại là người biến lo sợ thành thận trọng, biến nỗi đau thành thông tin, biến sai lầm thành khởi động, và biến ước mơ thành nhiệm vụ.
Seneca đề xướng một chương trình rèn luyện hoàn chỉnh để đối phó với cuộc đời và sử dụng cảm xúc một cách thích hợp - nhờ vào những bí quyết nho nhỏ nhưng hữu hiệu. Ví dụ, một bí quyết mà người La Mã khắc kỷ sử dụng để tách rời con giận dữ với hành động đúng đắn và tránh gây ra những thiệt hại mà mình sẽ hối tiếc về sau, là chờ ít nhất một ngày trước khi đánh một người hầu có hành vi phạm lỗi. Con người hiện đại chúng ta có thể không thấy điều này đặc biệt hợp lý, nhưng chỉ cần so sánh nó với hành động đâm vào mắt một nô lệ trong con giận dữ không thể kiểm soát của chính hoàng đế Hadrian sâu sắc thâm trầm. Khi con giận dữ của Hadrian nguôi đi và ông cảm thấy ngập tràn ân hận, thì thiệt hại đã không thể cứu vãn nữa rồi.
Seneca cũng mang đến cho ta cả một danh mục hành động xã hội: đầu tư vào những hành động đúng đắn. Mọi vật có thể bị lấy mất và rời xa ta, nhưng hành động đúng đắn và hành vi đạo đức sẽ còn ở lại.
Làm thế nào trở thành bậc thầy
Cho đến giờ câu chuyện đã được biết rõ, và ta đã học cách đi từ bên trái Bảng Bộ Ba (mỏng manh) sang chính giữa (mạnh mẽ). Nhưng Seneca còn đi xa hơn.
Chàng nói của cải vật chất là nô lệ của người khôn ngoan và là ông chủ của kẻ ngốc. Qua đó chàng phá vỡ một chút thói quen nổi tiếng của người khắc kỷ: chàng giữ lại lợi lộc. Theo tôi, nếu những người khắc kỷ trước đây xác nhận họ ưa thích đói nghèo hơn so với giàu có, ta cần nghi ngờ thái độ của họ, bỏi vì đó có thể chỉ là lời nói. Vì hầu hết đều nghèo, họ có thể bộc lộ sự phù hợp giữa lời nói và hoàn cảnh (ta sẽ thấy qua câu chuyện của Thales xứ Miletus khái niệm về chùm nho xanh - trò chơi nhận thức để làm cho bạn tin rằng chùm nho mà bạn không với tới là chùm nho xanh). Seneca là con người hành động, và ta không thể bỏ qua sự kiện là chàng duy trì sự giàu có của mình. Điều quan trọng là chàng thể hiện sự ưa thích giàu có hơn đói nghèo mà không bị hại vì giàu.
Seneca thậm chí còn phác thảo chiến lược của chàng trong De beneficiis, công khai kêu gọi điều đó trong một bản phân tích chi phí-lợi ích thông qua sử dụng từ “ghi sổ” (bookkeeping): “Việc ghi sổ các khoản lợi ích rất đơn giản: nó đều là các khoản chi tiêu; nếu người ta trả lại, đó là một khoản lợi rõ ràng; nếu người ta không hoàn trả, nó không mất đi, tôi ban tặng nó.” Ghi sổ rất đạo đức, nhưng đúng là ghi sổ.
Vì thế chàng chơi chiêu này với số mệnh: giữ lại cái tốt và vứt bỏ cái xấu; cắt giảm thiệt hại và giữ lại lợi ích, một cách vị kỷ, nghĩa là, bỏ đi sự thiệt hại từ số phận và giữ lại lợi ích một cách phi triết lý. Phân tích chi phí-lợi ích này không hoàn toàn là chủ nghĩa khắc kỷ theo cách thức mà người ta thường hiểu về ý nghĩa của chủ nghĩa khắc kỷ (những người nghiên cứu chủ nghĩa khắc kỷ dường như muốn Seneca và những người khắc kỷ khác suy nghĩ giống như những người nghiên cứu chủ nghĩa khắc kỷ). Ở đây có tình trạng phi đối xứng giữa lợi ích và thiệt hại.
Đó là khả năng cải thiện nghịch cảnh dưới dạng thuần khiết nhất.51
Tính phi đối xứng triệt để
Ta hãy phát biểu tính phi đối xứng của Seneca trong một nguyên tắc đơn giản.
Khái niệm đơn giản tôi sử dụng trên đây là có nhiều thứ để mất hơn khi nghịch cảnh xảy ra. Nếu bạn có nhiều thứ để mất hơn so với những lợi ích mà bạn có thể nhận được từ những biến cố định mệnh, thì bạn có tình trạng phi đối xứng, và không phải là tình trạng phi đối xứng tốt. Tình trạng này khá phổ biến. Ta hãy xem tính phi đối xứng này làm ta trở nên mỏng manh như thế nào.
Ta hãy xem lại gói hàng trong chương 1: nó không thích bị va đập, và nó ghét các thành viên trong Họ Hỗn độn - vì thế, nó mỏng manh (rất mỏng manh vì nó tuyệt đối không được lợi gì từ sự va đập, thế nên nó hết sức phi đối xứng). Gói hàng có khả năng cải thiện nghịch cảnh là gói hàng được lợi nhiều hơn so với bị thiệt hại từ sự va đập. Phép kiểm tra đơn giản: nếu tôi “không có gì để mất” thì mọi kết quả xảy ra đều có lợi và tôi có khả năng cải thiện nghịch cảnh.
Toàn bộ bảng 1 với các bộ ba trong các lĩnh vực và phương diện đều có thể giải thích theo cách này. Mọi thứ.
Để thấy tại sao kết quả phi đối xứng ưa thích biến động, ta chỉ cần nghĩ rằng, nếu bạn chỉ có thể mất ít hơn so với được, nếu biến động xảy ra có xu hướng mang lại lợi ích nhiều hơn so với thiệt hại, thì bạn sẽ thích biến động (cân bằng, sẽ mang lại lợi ích), và bạn cũng có khả năng cải thiện nghịch cảnh.
Vì thế, công việc của tác giả là liên kết giữa bốn yếu tố sau đây với tính phi đối xứng cơ bản.
Tính mỏng manh ngụ ý có nhiều thứ để mất hơn so với những thứ có thể được, tương đương với kết quả có hại nhiều hơn so với kết quả có lợi, tương đương với phi đối xứng (bất lợi).
và
Khả năng cải thiện nghịch cảnh ngụ ý có nhiều thứ để được hơn so với những thứ có thể mất, tương đương với kết quả có lợi nhiều hơn so với kết quả có hại, tương đương với phi đối xứng (thuận lợi).
Bạn sẽ có khả năng cải thiện nghịch cảnh trước một nguồn biến động nếu lợi ích tiềm năng cao hơn thiệt hại tiềm năng (và ngược lại).
Hơn nữa, nếu biến động hay yếu tố căng thẳng dẫn đến kết quả có lợi nhiều hơn kết quả có hại, thì bạn có thể bị thiệt hại nếu thiếu biến động hay thiếu yếu tố căng thẳng.
Bây giờ, làm thế nào ta đưa ý tưởng này - giảm kết quả có hại, tăng kết quả có lợi - vào thực tiễn? Câu trả lời là: Thông qua chiến lược hai đầu trong chương tiếp theo.