Căng thẳng là tri thức (và tri thức là căng thẳng) - Hệ hữu cơ và hệ máy móc - Không cần phiên dịch, không phải vào lúc này - Đánh thức con thú trong ta sau hai trăm năm hiện đại hóa
Phỏng đoán táo bạo đưa ra ở đây là: tất cả những gì có sự sống trong đó đều có khả năng cải thiện nghịch cảnh tới một chừng mực nhất định (nhưng không ngược lại). Xem ra bí mật của sự sống là khả năng cải thiện nghịch cảnh.
Thông thường, tự nhiên - sinh vật - vừa mỏng manh vừa có khả năng cải thiện nghịch cảnh, tùy thuộc vào nguồn gốc (và phạm vi) của sự biến động. Cơ thể con người có thể hưởng lợi từ những yếu tố gây căng thẳng (để trở nên mạnh hơn), nhưng chỉ đến một điểm nào đó. Ví dụ, xương của bạn sẽ trở nên rắn chắc hơn khi chịu sự căng thẳng định kỳ, một cơ chế đã được trình bày chính thức và được gọi là quy luật Wolff sau một bài báo năm 1892 của một bác sĩ phẫu thuật người Đức. Nhưng một chiếc đĩa, chiếc ô tô hay một đối tượng vô tri vô giác thì không thể như thế, chúng có thể cứng rắn nhưng về bản chất, chúng không có khả năng cải thiện nghịch cảnh.
Thông thường, những vật vô tri vô giác - có nghĩa là không có sự sống - khi chịu áp lực sẽ bị giảm sức chịu đựng hay bị vỡ. Một trong những ngoại lệ hiếm hoi tôi từng thấy là trong báo cáo thực nghiệm năm 2011 của nghiên cứu sinh Brent Carey, trong đó anh chứng minh rằng vật liệu composite của các ống nano carbon sắp xếp theo một kiểu nhất định sẽ tạo ra phản ứng tự gia cố chưa từng thấy trong các vật liệu tổng hợp, “tương tự như sự tự gia cố nội tại xảy ra trong các kết cấu sinh vật.” Điều này vượt qua ranh giới giữa vật thể sống và vật vô tri vô giác, vì nó có thể dẫn đến sự phát triển các vật liệu chịu lực có khả năng tự điều chỉnh.
Ta có thể sử dụng sự phân biệt này để đánh dấu giữa vật thể sống và vật thể không có sự sống. Việc vật nhân tạo cần có khả năng cải thiện nghịch cảnh để ta có thể sử dụng chúng như biểu mô là một điểm khác biệt đáng kể giữa sinh vật và vật liệu tổng hợp. Ngôi nhà, cỗ máy chế biến thực phẩm, và chiếc bàn máy tính cuối cùng rồi sẽ hao mòn và không thể tự sửa chữa. Chúng có thể trông tốt hơn theo thời gian (khi là hàng thủ công), giống như chiếc quần bò của bạn trông có vẻ hợp thời trang hơn khi sử dụng được một thời gian, nhưng rồi thời gian sẽ hạ gục chúng và những vật liệu bền chắc nhất cuối cùng cũng hệt như tàn tích La Mã. Chiếc quần bò của bạn xem ra có vẻ cải tiến và hợp thời trang hơn khi mòn đi, nhưng chất liệu không trở nên bền chắc hơn, mà cũng không thể tự sửa chữa. Nhưng thử nghĩ tới một chất liệu nào đó làm cho chiếc quần bò trở nên bền chắc hơn, tự sửa chữa, và cải thiện theo thời gian.17
Đúng là tuy con người có thể tự cứu chữa, nhưng cuối cùng họ cũng già yếu và ra đi (hy vọng là họ còn để lại gene, những quyển sách hay những thông tin khác - ấy lại là một thảo luận khác). Nhưng hiện tượng lão hóa đã bị hiểu lầm, chủ yếu là đầy những định kiến tâm lý và sai lầm về logic. Chúng ta quan sát những người già và thấy họ già đi, vì thế chúng ta liên hệ sự lão hóa với việc cơ teo, xương yếu, mất chức năng thần kinh, thích nhạc Frank Sinatra, và các ảnh hưởng thoái hóa tương tự. Nhưng những hiện tượng không thể tự chữa lành này chủ yếu xuất phát từ sự điều chỉnh sai (maladjustment) - hoặc quá ít yếu tố căng thẳng, hoặc quá ít thời gian hồi phục giữa các yếu tố căng thẳng - và đối với tác giả, điều chỉnh sai có nghĩa là tình trạng không ăn khóp giữa thiết kế cơ thể con người và kết cấu của sự ngẫu nhiên của môi trường (trong toán học, tôi gọi đây là các thuộc tính phân phối hay thuộc tính thống kê). Những gì ta quan sát thấy trong quá trình lão hóa là sự kết hợp giữa điều chỉnh sai và sự già yếu, và hóa ra hai hiện tượng này có thể tách biệt với nhau - sự già yếu là không thể tránh khỏi, và không nên tránh (nó sẽ đi ngược lại logic của sự sống, như ta sẽ thấy trong chương sau); nhưng sự điều chỉnh sai thì có thể tránh được. Phần lớn sự lão hóa xuất phát từ việc hiểu lầm ảnh hưởng của tiện nghi - một căn bệnh văn minh: làm cho tuổi thọ ngày càng dài hơn, trong khi con người ngày càng yếu đi. Trong môi trường tự nhiên thời xưa, con người chết đi mà không lão hóa - hay sau một thời gian lão hóa rất ngắn. Ví dụ, một số biểu hiện, như huyết áp, thường có xu hướng xấu đi theo thời gian đối với người hiện đại, nhưng không thay đổi trong cuộc đời của người săn bắn hái lượm cho đến khi họ qua đời.
Và sự lão hóa giả tạo này xuất phát từ việc ngăn chặn khả năng cải thiện nghịch cảnh nội tại.
Phân chia giữa hệ hữu cơ và hệ máy móc này là điểm phân biệt ban đầu để xây dựng cảm nhận trực giác về sự khác biệt giữa hai loại hiện tượng, nhưng ta có thể làm tốt hơn thế. Nhiều sự vật như xã hội, các hoạt động kinh tế, thị trường, và hành vi văn hóa rõ ràng là nhân tạo nhưng tự phát triển để phản ứng trước một kiểu tự tổ chức nào đó. Có thể chúng không phải là sinh vật theo đúng nghĩa, nhưng chúng tương tự sinh vật ở chỗ, chúng nhân rộng và tái tạo - hãy nghĩ về những lời đồn thổi, các ý tưởng, các công nghệ, và các doanh nghiệp. Các sự vật này gần với con mèo hơn so với chiếc máy giặt, nhưng có xu hướng bị nhầm lẫn với chiếc máy giặt. Cũng vì lẽ đó, ta có thể khái quát hóa sự phân biệt của ta vượt lên trên sự phân chia sinh vật và phi sinh vật. Hữu hiệu hơn là sự phân biệt giữa các hệ thống phi phức hợp và phức hợp.
Các cỗ máy nhân tạo với những phản ứng đơn giản đúng là phức tạp, nhưng không “phức hợp”, vì chúng không có sự phụ thuộc lẫn nhau. Bạn bấm công tắc, ví dụ như bật đèn, và bạn nhận được một phản ứng chính xác mà không có sự mơ hồ trong kết quả. Nhưng với những hệ phức hợp, sự phụ thuộc lẫn nhau rất nghiêm trọng. Thử nghĩ về hệ sinh thái: nếu bạn tiêu diệt một động vật nào đó, bạn sẽ phá vỡ chuỗi cung ứng thực phẩm của hệ: những con thú ăn thịt động vật này sẽ chết đói và những con mồi của nó sẽ tăng trưởng không kiểm soát nổi, gây ra những hiện tượng phức tạp và hàng loạt tác dụng phụ dây chuyền. Sư tử bị tiêu diệt bởi người Canaan, người Phoenicia, người La Mã, và người dân vùng núi Libăng về sau, dẫn đến sự sinh sôi nảy nở của loài dê; dê ăn cả rễ cây, làm tàn lụi những cánh rừng ở vùng núi này, các hệ lụy thật khó lường trước khi thời gian trôi qua. Tương tự, nếu bạn đóng cửa một ngân hàng ở New York, điều đó sẽ gây ra ảnh hưởng dậy sóng từ Iceland đến Mông Cổ.
Trong thế giới phức hợp, bản thân ý niệm “nguyên nhân” đã thấy đáng ngờ; gần như không thể dò tìm hay định nghĩa thực sự - và đó cũng là một lý do để ta không nên quan tâm đến những tờ báo, vốn không ngừng đưa ra các nguyên nhân của sự việc.
Bây giờ, vấn đề nan giải của những hệ thống phức hợp có các thành phần tương tác với nhau nằm ở chỗ, chúng truyền đạt thông tin đến các bộ phận thành phần thông qua các yếu tố căng thẳng, hay nhờ vào các yếu tố căng thẳng: cơ thể bạn nhận được thông tin về môi trường không phải thông qua bộ máy tư duy logic, sự thông minh hay khả năng lập luận và tính toán của bạn, mà thông qua sự căng thẳng, thông qua các hoóc môn hay các sứ giả truyền tin khác mà chúng ta vẫn chưa khám phá ra. Như ta đã thấy, xương bạn sẽ trở nên rắn chắc hơn khi phải gánh chịu trọng lượng, ví dụ như sau một thời gian (ngắn) bạn làm việc cho một công ty chuyên di chuyển những cây đàn dương cầm. Xương bạn sẽ trở nên yếu đi sau khi bạn trải qua một kỳ nghỉ Giáng sinh trên một trạm không gian không trọng lực hay nếu bạn dành nhiều thời gian đi xe đạp (mà ít người nhận ra). Da lòng bàn tay bạn sẽ chai đi nếu bạn trải qua một mùa hè trong một trang trại. Da bạn sẽ sáng ra vào mùa đông và sạm đi vào mùa hè (đặc biệt nếu bạn là người gốc Địa Trung Hải, và gần như sẽ không thấy như thế nếu bạn xuất thân từ Ireland hay châu Phi hay những nơi có thời tiết quanh năm không thay đổi nhiều).
Ngoài ra, sai lầm và hệ quả đều là thông tin; đối với các em bé, cảm giác đau là thông tin quản lý rủi ro duy nhất, vì các bộ máy tư duy logic

HÌNH 2. Hình này minh họa lý do tôi nói về xương. Bạn thấy tình huống y hệt về những những người đội nước hay đội ngũ cốc trên đầu ở Ấn Độ, châu Phi và châu Mỹ. Thậm chí còn có một bài hát Levant nói về một người phụ nữ hấp dẫn với chiếc vò hai quai trên đầu. Lợi ích về mặt sức khỏe có thể đánh bại những loại thuốc tăng cường mật độ xương - nhưng những liệu pháp như thế này không có lợi cho dòng lợi nhuận trong báo cáo tài chính của các công ty dược. Thực hiện: Creative Commons
của các em chưa phát triển nhiều. Đối với các hệ thống phức hợp thì tất cả là ở thông tin. Và có nhiều bộ phận truyền đạt thông tin xung quanh ta hơn so với những gì mắt ta nhìn thấy. Đây là cái mà chúng ta sẽ gọi là sự vô minh về nhân quả: thật khó nhìn thấy mũi tên chỉ từ nguyên nhân đến kết quả, khiến cho nhiều phương pháp phân tích thông thường trở nên không thể áp dụng được, ngoại trừ logic tiêu chuẩn. Như tôi đã nói, khả năng dự đoán các biến cố cụ thể thì thấp, và chính tình trạng vô minh này dẫn đến khả năng dự đoán thấp. Chẳng những thế, mà còn do tính phi tuyến, cho nên ta cần có khả năng nhìn thấy vượt lên trên khả năng nhìn thấy bằng các hệ thống thông thường; thế nhưng thay vì thế, cái ta có chỉ là sự vô minh.
Thử xem lại câu chuyện về xương. Tôi có một câu chuyện về xương, và ý tưởng mà tôi sẽ thảo luận sau đây đã làm cho tôi tập trung vào việc nâng những vật nặng thay vì sử dụng các cỗ máy tập thể hình. Nỗi ám ảnh về xương bắt đầu khi tôi tìm thấy một bài báo đăng trên tạp chí Nature năm 2003 của Gerald Karsenty và các đồng nghiệp. Người ta cho rằng sự lão hóa làm cho xương yếu đi (giảm mật độ xương, nên xương giòn, dễ gãy), như thể có mối quan hệ một chiều xảy ra do hoóc môn (phụ nữ bắt đầu bị chứng loãng xương sau khi mãn kinh). Hóa ra, như chứng minh của Karsenty và những người khác vốn thực hiện mạch nghiên cứu này từ lâu, điều ngược lại nói chung cũng đúng: tình trạng giảm mật độ xương và sức khỏe suy thoái cũng gây ra sự lão hóa, bệnh tiểu đường, và đối với nam giới là giảm chức năng tình dục và khả năng sinh sản. Đơn giản là chúng ta không thể tách biệt bất kỳ mối quan hệ nhân quả nào trong một hệ phức hợp. Hơn nữa, câu chuyện về xương và sự hiểu lầm đi kèm về mối quan hệ qua lại minh họa cho việc thiếu căng thẳng (yếu tố căng thẳng ở đây là vật nặng mà xương phải mang) có thể gây ra lão hóa, và việc tước đi các yếu tố căng thẳng của những hệ thống có khả năng cải thiện nghịch cảnh cần căng thẳng sẽ làm cho hệ thống trở nên mỏng manh, và ta sẽ bàn về tính mỏng manh này trong các hệ thống chính trị trong tập II. Phương pháp luyện tập của Lenny, huấn luyện viên thể hình mà tôi từng xem anh tập và cố gắng bắt chước trong chương trước, xem ra cũng gây căng thẳng và giúp củng cố xương chắc khỏe cùng với việc làm săn chắc cơ. Anh không biết nhiều về cơ chế nhưng đã khám phá ra rằng, theo một cách cảm tính, việc nâng tạ đã làm nên điều gì đó cho cơ thể anh. Người phụ nữ trong hình 2, nhờ cả đời mang những vò nước trên đầu, nên có sức khỏe tuyệt vời và dáng vóc thanh tú.
Khả năng cải thiện nghịch cảnh của ta phải có điều kiện. Tần suất căng thẳng khá quan trọng. Con người có xu hướng làm việc với những yếu tố căng thẳng cấp tính tốt hơn so với những yếu tố căng thẳng kinh niên, nhất là khi yếu tố căng thẳng cấp tính được tiếp nối bằng khoảng thời gian hồi phục, để chúng đóng vai trò như những sứ giả truyền tin. Ví dụ, sau một cú sốc cảm xúc mãnh liệt khi nhìn thấy một con rắn bò ra từ bàn phím hay một con ma cà rồng lướt vào phòng, tiếp theo là một khoảng thời gian an toàn êm ả (với trà hoa cúc và nhạc cổ điển của thế kỷ 17) đủ dài để tôi kiểm soát trở lại cảm xúc của mình, thì sẽ có lợi cho sức khỏe của tôi; lẽ dĩ nhiên, miễn là tôi xoay xở để khuất phục được con rắn hay con ma cà rồng sau một trận chiến bền bỉ và dũng cảm rồi chụp một bức ảnh mình đứng cạnh xác nó. Yếu tố căng thẳng đó chắc chắn sẽ tốt hơn so với tình trạng căng thẳng tuy nhẹ nhàng nhưng kéo dài triền miên với một ông sếp, một khoản vay cầm cố, các vấn đề về thuế, cảm giác có tội khi trì hoãn kê khai thuế, áp lực của các kỳ thi, những công việc chán ngắt, những bức thư điện tử phải trả lời, các biểu mẫu phải điền, việc đi lại hàng ngày - những thứ khiến bạn cảm thấy vướng mắc trong chiếc bẫy cuộc đời, hay nói cách khác, những áp lực mà nền văn minh mang lại. Thật ra, các nhà sinh học thần kinh chứng minh rằng loại căng thẳng cấp tính là cần thiết, còn loại kinh niên thì có hại cho sức khỏe chúng ta. Để hiểu mức độ tác hại của một yếu tố căng thẳng ở mức thấp mà không có thời gian hồi phục, hãy xem thử cái gọi là phương pháp tra tấn bằng nước của Trung Quốc: một giọt nước nhỏ liên tục lên một điểm trên đầu bạn, không bao giờ cho bạn hồi phục.
Đúng vậy, phương pháp mà Heracles xoay xở để chế ngự rắn thần Hydra là đốt vết thương ở cổ của cái đầu vừa bị chặt. Nhờ thế, chàng ngăn không cho những cái đầu mới mọc ra và phát huy khả năng cải thiện nghịch cảnh. Nói cách khác, Heracles ngăn chặn sự hồi phục.
Bảng 2 trình bày sự khác biệt giữa hai loại. Lưu ý rằng có thể có những bước trung gian giữa hệ hữu cơ và hệ máy móc, cho dù sự vật có xu hướng tập trung vào một trong hai đầu cực.
BẢNG 2. HỆ HỮU CƠ VÀ HỆ MÁY MÓC (HỆ SINH VẬT HAY HỆ PHI SINH VẬT)
| HỆ MÁY MÓC, KHÔNG PHỨC HỢP | HỆ SINH VẬT, PHỨC HỢP |
| Cắn sửa chữa và bảo trì liên tục | Tự chữa lành |
| Ghét ngẫu nhiên | Thích ngẫu nhiên (những biến thiên nhỏ) |
| Không cắn hồi phục | Cắn hồi phục giữa các trạng thái căng thẳng |
| Không có hay ít có sự phụ thuộc lẫn nhau | Mức độ phụ thuộc lẫn nhau cao |
| Yếu tố căng thẳng làm giảm sức bền vật liệu | Không có yếu tố căng thẳng sẽ dẫn đến chứng teo |
| Lão hóa khi sử dụng (hao mòn) | Lão hóa khi không sử dụng18 |
| Kết quả hoạt động kém đi sau các cú sốc | Kết quả hoạt động vượt bậc sau các cú sốc |
| Thời gian chỉ mang lại sự già yếu | Thời gian mang lại sự lão hóa và già yếu |
Độc giả có thể thấy một điểm gợi ý về vấn đề chính mà chúng ta thường gặp với sự can thiệp từ trên xuống dưới của các hệ thống chính trị (hay các hệ thống phức hợp tương tự), chủ đề của tập II. Các fragilista xem nền kinh tế là chiếc máy giặt cần được bảo trì hàng tháng, hay đánh đồng các thuộc tính của cơ thể bạn với thuộc tính của một chiếc đầu máy đĩa compact. Chính Adam Smith từng ví nền kinh tế như một chiếc đồng hồ mà sau khi đã lên giây có thể tự vận hành. Tôi chắc chắn rằng ông hoàn toàn không nghĩ đến vấn đề phân biệt trong các thuật ngữ này, nhưng ông đã xem xét nền kinh tế như một hệ hữu cơ tuy chỉ thiếu một bố cục trình bày. Vì Adam Smith am hiểu tính vô minh của các hệ thống phức hợp cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau, nên ông đã xây dựng khái niệm “bàn tay vô hình”.
Nhưng than ôi, không như Adam Smith, Plato không nhận thức điều này. Hô hào phép ẩn dụ nổi tiếng về con tàu nhà nước, ông ví nhà nước như một con tàu hải quân, mà lẽ dĩ nhiên đòi hỏi phải có sự giám sát của thuyền trưởng. Cuối cùng, ông lập luận rằng người phù hợp nhất với cương vị thuyền trưởng con tàu này là các vị vua kiêm triết gia, những người nhân từ với sức mạnh tuyệt đối có thể tiếp cận với Hiện thân của cái thiện (Form of the Good). Và thỉnh thoảng người ta nghe tiếng hò reo “ai cai quản chúng ta?” cứ như thể thế giới cần có ai đó để cai quản.
Trạng thái cân bằng, không lặp lại nữa
Các nhà khoa học xã hội sử dụng thuật ngữ “trạng thái cân bằng” (equilibrium) để mô tả sự cân bằng giữa các lực đối lập, ví dụ như cung và cầu, cho nên những xáo trộn nhỏ hay sự sai lệch theo một hướng, như trường hợp quả lắc, sẽ được đối ứng bằng sự điều chỉnh theo hướng ngược lại nhằm đưa sự vật về lại trạng thái ổn định. Nói vắn tắt, điều này được xem là mục tiêu của nền kinh tế.
Xem xét sâu xa hơn điều mà các nhà khoa học xã hội này muốn ta lĩnh hội, mục tiêu này có thể là cái chết. Đối với tính phức hợp, nhà lý thuyết học Stuart Kaufman sử dụng ý tưởng về trạng thái cân bằng để tách biệt hai thế giOT. khác nhau trong bảng 2. Đối với những hệ phi sinh vật, không phức hợp, chẳng hạn như một vật để trên bàn, sự cân bằng (theo định nghĩa truyền thống) xảy ra trong một trạng thái trơ ì. Vì thế, đối với những hệ hữu cơ, sự cân bằng (theo ý nghĩa đó) chỉ xảy ra với cái chết. Hãy xem ví dụ của Kaufman: trong bồn tắm, một xoáy nước bắt đầu hình thành và duy trì sau đó. Kiểu tình huống này về lâu về dài là “không cân bằng”; và xem ra các hệ hữu cơ cũng tồn tại trong một trạng thái như vậy.19 Đối với các hệ thống này, trạng thái bình thường đòi hỏi phải có một mức độ biến thiên hay ngẫu nhiên, sự hoán đổi liên tục của thông tin và căng thẳng; những yếu tố này giúp giải thích sự nguy hại xảy ra cho hệ thống khi ta tước mất sự biến thiên của nó.
TỘI ÁC CHỐNG LẠI TRẺ EM
Chúng ta không chỉ ghét những yếu tố căng thẳng, và không hiểu chúng, mà ta còn mang tội chống lại cuộc sống, sự sống, khoa học và hiểu biết, vì ta làm triệt tiêu sự biến động và biến thiên.
Tôi cảm thấy tức giận và thất vọng khi tôi nghĩ cứ 10 người Mỹ trên tuổi phổ thông trung học thì lại có một người uống một loại thuốc chống suy nhược nào đó, như Prozac. Thật vậy, khi bạn trải qua tâm trạng dao động, bạn phải lý giải tại sao bạn không uống thuốc chống suy nhược. Có thể có một vài lý do hợp lý để uống thuốc, như trong những trường hợp bệnh lý nghiêm trọng, nhưng tâm trạng của tôi, nỗi muộn phiền và niềm lo lắng của tôi là cội nguồn thứ hai của sự thông minh sáng suốt, thậm chí có thể là nguồn thứ nhất. Tôi cảm thấy thư giãn và mất đi năng lượng thể chất khi trời mưa, tôi trở nên hòa hoãn và có xu hướng viết lách chậm hơn, với những hạt mưa chạm vào cửa sổ mà Verlaine gọi là “tiếng nức nở mùa thu” (sanglots). Có những ngày tôi rơi vào tâm trạng u buồn thơ thẩn, mà tiếng Bồ Đào Nha gọi là saudale hay tiếng Turkic gọi là hũzũ (từ tiếng Ảrập có nghĩa là nỗi buồn). Rồi có những ngày khác tôi trở nên sung sức hơn hay nhiều năng lượng hơn, tôi sẽ viết ít hơn, đi bộ nhiều hơn, làm những công việc khác, tranh luận với các nhà nghiên cứu, trả lời thư điện tử, vẽ lên bảng các biểu đồ. Tôi sẽ trở thành thực vật hay một gã khờ hạnh phúc?
May mà thế kỷ trước không có thuốc chống suy nhược Prozac, nếu không thì tâm trạng u uất của Baudelaire, nỗi niềm của Edgar Allan Poe, những bài thơ của Sylvia Plath, những lời nỉ non ai oán của nhiều nhà thơ khác, mọi thứ chất chứa nỗi lòng chắc đều câm lặng hết…
Nếu các công ty dược lớn có thể xóa bỏ các mùa trong năm, có lẽ họ sẽ làm thế, lẽ đương nhiên là vì lợi nhuận.
Còn có một mối nguy hiểm khác: ngoài việc làm hại trẻ em, ta còn làm hại xã hội và tương lai ta. Các biện pháp nhằm làm giảm sự biến thiên và xáo động trong cuộc sống các em cũng làm giảm sự biến thiên và khác biệt trong cái gọi là Xã hội Toàn cầu hóa Văn hóa Vĩ đại.
Bị trừng phạt vì phiên dịch
Một thuộc tính khác của yếu tố căng thẳng thường bị bỏ quên là trong việc hấp thu ngôn ngữ - tôi không biết có ai đã từng học nói tiếng mẹ đẻ trong một cuốn sách giáo khoa, bắt đầu bằng ngữ pháp và sắp xếp từ vựng theo các quy tắc đã học, được kiểm tra bằng những kỳ thi hai quý một lần. Bạn hấp thu một ngôn ngữ tốt nhất là nhờ vào khó khăn tình thế, từ sai sót này tới sai sót khác, khi bạn cần truyền đạt ý tưởng trong những tình huống ít nhiều căng thẳng, nhất là để bày tỏ những nhu cầu khẩn cấp (ví dụ như những nhu cầu thể chất phát sinh sau một bữa cơm chiều ở một vùng nhiệt đói).
Người ta học từ mới không phải với nỗ lực say mê nghiên cứu, mà đúng hơn, với một loại nỗ lực khác: để truyền đạt, chủ yếu thông qua buộc phải hiểu suy nghĩ của người khác, đồng thời lửng lơ nỗi lo sợ phạm sai lầm. Than ôi, thành công, của cải, và công nghệ làm cho phương thức học tập này trở nên khó khăn. Một vài năm trước, khi tôi còn chưa được nhiều người quan tâm chú ý tới, các nhà tổ chức hội nghị nước ngoài không phân công cho tôi một “trợ lý du lịch” xun xoe trôi chảy thứ tiếng Anh Facebook, nên tôi buộc phải tự lo liệu cho mình, vì thế tôi học từ vựng thông qua chỉ trỏ, thử nghiệm rồi sửa sai (theo kiểu bọn trẻ con làm) - không có những chiếc máy cầm tay, không từ điển, không gì cả. Giờ thì tôi bị trừng phạt bởi đặc quyền và tiện nghi - và tôi không thể cưỡng lại tiện nghi. Sự trừng phạt ở đây xuất hiện dưới hình thức một người nói trôi chảy tiếng Anh, chào đón tôi bằng cách giơ cao tấm biển ghi tên tôi sai chính tả tại sân bay, không căng thẳng, không mơ hồ, và không tiếp xúc gì với tiếng Nga, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Croatia, hay tiếng Ba Lan bên ngoài những quyển sách giáo khoa xấu xí (và có tổ chức). Tệ hơn, người ấy lại cứ ngọt xơn xớt; sự dông dài xun xoe xem ra còn đau khổ hơn trong tình trạng mệt mỏi vì chênh lệch múi giờ.
Tuy nhiên, cách tốt nhất để học một ngôn ngữ có lẽ là tình cảnh bị cầm tù ở nước ngoài. Bạn tôi Chad Garcia đã cải thiện tiếng Nga của anh do bị buộc phải ở lại trong khu vực cách ly của một bệnh viện ở Mátxcơva vì một căn bệnh tưởng tượng. Đó là một trò bắt cóc xảo quyệt bằng y khoa, vì trong thời kỳ rối loạn sau khi chấm dứt sự cai trị của Xô viết, các bệnh viện có thể tống tiền du khách bằng cách buộc họ ở lại bệnh viện trừ khi họ phải trả một số tiền lớn để có giấy tờ xác nhận khỏe mạnh. Chad, khi đó gần như không trôi chảy tiếng Nga, buộc phải đọc Tolstoy bằng nguyên bản, và học được một mớ từ vựng mới.
Kế hoạch hóa mọi thù
Chad bạn tôi hưởng lợi nhờ vào kiểu rối loạn mà giờ đây ngày càng ít xảy ra hơn do căn bệnh hiện đại được gọi là kế hoạch hóa mọi thứ (touristification). Đây là thuật ngữ của tôi để nói về một khía cạnh của đời sống hiện đại, đối xử với con người như những chiếc máy giặt với những phản ứng máy móc đơn giản hóa, và một sổ tay hướng dẫn sử dụng chi tiết. Đó là việc xóa bỏ tính bất định và ngẫu nhiên của các sự việc, cố gắng làm cho sự việc trở nên có thể dự đoán đến những chi tiết nhỏ bé nhất. Tất cả những điều này nhằm đạt được sự tiện nghi, thoải mái và hiệu quả.
So sánh một du khách và một kẻ phiêu lưu mạo hiểm hay người đi phượt, thì cũng tương đương với so sánh giữa hiện tượng kế hoạch hóa mọi thứ và chính cuộc sống. Kế hoạch hóa bao gồm việc chuyển đổi các hoạt động (không chỉ có việc đi lại) thành một dạng kịch bản hệt như kịch bản mà các diễn viên phải tuân theo. Hiện tượng kế hoạch hóa mọi thứ sẽ cắt xén các hệ thống và những tổ chức hữu cơ ưa thích tình trạng bất định, thông qua hút hết tính ngẫu nhiên của hệ thống cho đến giọt cuối cùng, đồng thời mang lại cho các hệ thống đó ảo tưởng về lợi ích. Những kẻ có tội là hệ thống giáo dục, quy hoạch nguồn vốn nghiên cứu khoa học theo mục đích luận, kỳ thi tú tài Pháp, các máy tập thể hình, vv…
Và bộ lịch điện tử.
Nhưng hiện tượng kế hoạch hóa tồi tệ hơn chính là cuộc sống mà con người hiện đại chúng ta phải sống trong tình trạng giam cầm, trong những giờ thư giãn của ta: nhạc kịch đêm thứ sáu, các bữa tiệc theo lịch, những nụ cười theo lịch. Một lần nữa, đó chính là cảnh giam cầm trong lầu son gác tía.
Thái độ “định hướng mục tiêu” này làm tổn thương sâu sắc bên trong bản ngã tồn tại của tôi.
Nỗi thèm khát cơ hội thầm kín
Nỗi thèm khát thầm kín này mang ta đến với khía cạnh tồn tại của tính ngẫu nhiên. Nếu bạn không phải là chiếc máy giặt hay chiếc đồng hồ cúc cu - nói cách khác, nếu bạn còn sống - ẩn sâu trong tâm hồn bạn là một nỗi khao khát một mức độ ngẫu nhiên và hỗn độn nào đó.
Có một cảm giác kích động gắn liền với sự ngẫu nhiên. Chúng ta thích thế giới ôn hòa (và thuần hóa cao độ) của những cuộc chơi, từ những môn thể thao thu hút nhiều khán giả cho đến những lần ngưng thở giữa những pha tập bắn tào lao trong chuyến viếng thăm Las Vegas lần tới. Chính tôi, khi viết những dòng này, đang cố gắng tránh sự chuyên chế của một kế hoạch chính xác và rõ ràng, hình thành từ một nguồn cội mơ hồ trong thâm tâm tôi mang lại cho tôi sự bất ngờ. Công việc viết lách chỉ đáng viết khi nó mang lại cho ta ảnh hưởng kích động của một cuộc phiêu lưu, đó là lý do tôi tận hưởng bố cục của quyển sách và không thích sự trói buộc của một bài trên trang ý kiến gồm 750 từ mà ngay cả nếu không có tính chất tầm thường của người biên tập, cũng làm cho tôi chán ngấy đến tận cổ. Và điều đáng kể là, những gì tác giả chán viết cũng sẽ làm độc giả chán đọc.
Nếu tôi có thể dự đoán những năm tháng đời mình chính xác sẽ như thế nào, hẳn tôi sẽ cảm thấy muốn chết đi cho rồi.
Hơn nữa, sự ngẫu nhiên này là cần thiết cho cuộc sống thực tế. Thử nghĩ xem, tất cả của cải trên đời không thể mua được một chất lỏng dễ chịu hơn nước sau một con khát khô cổ. Hiếm có điều gì mang lại cảm giác xúc động hơn một chiếc ví (hay chiếc laptop) mất trên xe lửa vừa tìm lại được. Hơn nữa, từ thời cha ông ta, con người đã được kích thích bởi những tác nhân tự nhiên - nỗi sợ hãi, con đói, niềm mo ước - buộc ta phải giải quyết và trở nên thích nghi với môi trường. Thử nghĩ xem, thật dễ dàng như thế nào để có sức nhấc một chiếc ô tô lên nếu có một em bé đang khóc bên dưới, hay để chạy thục mạng nếu bạn thấy con thú hoang dã đang băng qua phố. Hãy so sánh điều này với sức nặng của nghĩa vụ phải đến phòng tập thể hình vào lúc 6 giờ chiều theo lịch và bị buộc phải đến đó bởi một huấn luyện viên cá nhân nào đó - lẽ dĩ nhiên, trừ khi bạn đang chịu áp lực phải trở thành người trông hệt như một vệ sĩ. Cũng thử nghĩ xem, thật dễ dàng như thế nào để bỏ một bữa ăn khi sự ngẫu nhiên trong môi trường buộc ta phải làm thế, do thiếu lương thực chẳng hạn - so với việc tuân thủ “kỷ luật” của một kế hoạch ăn kiêng 18 ngày.
Trên đời này có một loại người mà cuộc đời họ hệt như một kiểu dự án. Nói chuyện với họ xong rồi, suốt mấy tiếng đồng hồ sau đó bạn không còn cảm giác tốt đẹp về cuộc đòi; đòi trở nên nhạt như thức ăn không muối. Vốn là người hay tìm kiếm sự kích thích, tôi như có một chiếc máy dò, xem ra phù hợp để dò tìm những gì buồn tẻ, như thể chúng ta được trang bị một bộ lọc tự nhiên, chán ghét sự tẻ nhạt. Cuộc sống của tổ tiên ta không có bài tập về nhà, không có các vị sếp, không có các công chức dân chính, không có thành tích học thuật, không có trao đổi với hiệu trưởng, không có vị cố vấn có bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh, không có chiếc bàn thủ tục, không có mẫu đơn, không có chuyến đi tới New Jersey, không có sự chặt chẽ về ngữ pháp, không phải chuyện trò với ai đó làm bạn phát chán: toàn bộ cuộc đòi là sự kích thích ngẫu nhiên và không thứ gì, dù tốt hay xấu, mang lại cảm giác đó là công việc phải làm.20 Có nguy hiểm thật đấy, nhưng không bao giò buồn chán.
Cuối cùng, một môi trường có sự biến thiên (vì thế có sự ngẫu nhiên) không làm ta bị tổn thương do căng thẳng kinh niên, không như những hệ thống con người thiết kế ra. Nếu bạn bước đi trên địa hình mấp mô, chẳng phải như trên địa hình nhân tạo, bạn không bao giò có hai bước y hệt như nhau; thử so sánh điều đó với những chiếc máy tập thể hình không có tính ngẫu nhiên mang lại chính xác điều trái ngược: buộc bạn lặp đi lặp lại không ngừng cùng một chuyển động như cũ.
Phần lớn đòi sống hiện đại là sự tổn thương do căng thẳng kinh niên mà ta có thể tránh khỏi.
Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét mốt mới nhất của sự tiến hóa, chuyên gia vĩ đại về khả năng cải thiện nghịch cảnh.