I. LÀM SAO ĐỂ YÊU THÍCH NHỮNG LÀN GIÓ

Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 36 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Mở Đầu
Phần Mở Đầu

❊ ❊ ❊

Gió dập tắt nến nhưng lại thổi bùng những đốm lửa.

Cũng hệt như những sự kiện ngẫu nhiên, những tình huống bất trắc và rối loạn: bạn muốn khai thác chúng chứ không trốn chạy. Bạn muốn là đốm lửa và mong chờ làn gió. Điều này tóm tắt thái độ không khuất phục của tác giả quyển sách này trước những biến cố ngẫu nhiên và bất định.

Chúng ta không chỉ muốn sống còn trong con bất ổn, không chỉ muốn vượt qua. Ta muốn tồn tại qua nghịch cảnh, và hơn thế nữa - cũng hệt như những người khắc kỷ La Mã năng động (Roman Stoics) - ta muốn trở nên tốt hơn trước. Sứ mệnh của ta là làm thế nào để thuần hóa, thậm chí chế ngự hay khuất phục những tình huống bất ngờ, u ám và không thể giải thích được.

Làm thế nào đây?

II. KHẢ NĂNG CẢI THIỆN NGHỊCH CẢNH

Có đối tượng được hưởng lợi từ những cú sốc, trở nên lớn mạnh và tăng trưởng khi rơi vào tình trạng biến động, ngẫu nhiên, rối loạn, và những yếu tố gây căng thẳng, từ đó trở nên yêu thích phiêu lưu mạo hiểm, rủi ro và bất định. Thế nhưng, cho dù hiện tượng này là phổ biến, lại không có một từ ngữ nào mô tả sự trái ngược với tính mỏng manh dễ vỡ (fragile). Ta hãy gọi đó là khả năng cải thiện nghịch cảnh (antifragile).

Khả năng cải thiện nghịch cảnh không chỉ đơn thuần là sự bền bỉ hay khả năng hồi phục (resilience) và sự mạnh mẽ (robustness). Khả năng hồi phục giúp ta chống lại các cú sốc và trở về trạng thái cũ; trong khi khả năng cải thiện nghịch cảnh giúp ta trở nên tốt hơn so với trước. Thuộc tính này tiềm ẩn trong tất cả những gì từng thay đổi theo thời gian: sự tiến hóa, văn hóa, các ý tưởng, các cuộc cách mạng, các hệ thống chính trị, đổi mới công nghệ, thành công văn hóa và kinh tế, sự sống còn của công ty, những bí quyết nấu ăn ngon (ví dụ như súp gà hay sốt bò với một giọt rượu cognac), sự nổi lên của các thành phố, các nền văn hóa, các hệ thống pháp lý, những khu rừng xích đạo, hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn…, thậm chí cả sự tồn tại của chúng ta trên hành tinh này. Khả năng cải thiện nghịch cảnh giúp ta xác định ranh giới giữa những vật thể sống hữu cơ (chẳng hạn như cơ thể con người) và những vật thể vật chất tro ì như chiếc dập ghim trên bàn làm việc của bạn.

Khả năng cải thiện nghịch cảnh thích sự ngẫu nhiên và bất định, cũng có nghĩa là thích những sai sót hay lỗi lầm. Khả năng cải thiện nghịch cảnh có một đặc điểm khác thường là cho phép ta đối phó với những gì ta không biết trước, giúp ta xử lý những vấn đề ta không am hiểu một cách tốt đẹp. Nói sâu xa hơn: ta thường làm tốt hơn ta nghĩ, nhờ khả năng cải thiện nghịch cảnh. Tôi thà rằng khờ khạo mà có khả năng cải thiện nghịch cảnh, còn hơn cực kỳ thông minh nhưng lại mong manh dễ gục ngã vào bất cứ lúc nào.

Thật dễ dàng nhận ra mọi thứ quanh ta là thước đo của những yếu tố gây căng thẳng và biến động: các hệ thống kinh tế, cơ thể, tinh thần, và dinh dưỡng của bạn (tiểu đường và nhiều căn bệnh hiện đại tương tự xem ra gắn liền với tình trạng thiếu tính ngẫu nhiên trong dinh dưỡng và không có yếu tố gây căng thẳng của việc thỉnh thoảng thiếu ăn). Thậm chí còn có những hợp đồng tài chính có khả năng cải thiện nghịch cảnh: những hợp đồng này được chính thức soạn thảo nhằm hưởng lợi từ sự biến động của thị trường.

Khả năng cải thiện nghịch cảnh giúp ta tìm hiểu rõ ràng hơn về tính mỏng manh dễ vỡ. Cũng hệt như việc ta không thể cải thiện sức khỏe nếu không đẩy lùi bệnh tật, hay không thể tích lũy của cải nếu không giảm bớt thua lỗ, khả năng cải thiện nghịch cảnh và tính mỏng manh dễ vỡ là hai thái cực trên một chuỗi phân bố.

Thông qua nắm bắt cơ chế của khả năng cải thiện nghịch cảnh, ta có thể xây dựng một tài liệu hướng dẫn tổng quát có hệ thống để ra những quyết định bất ngờ trong sự bất định của hoạt động kinh doanh, chính trị, y học, và trong đời sống nói chung - bất kỳ nơi nào mà những biến cố bất ngờ chiếm ưu thế, hay bất kỳ tình huống ngẫu nhiên không thể lường trước, sự mo hồ hoặc hiểu biết không đầy đủ về sự việc.

Tìm hiểu xem một đối tượng nào đó có mỏng manh dễ vỡ hay không thì dễ dàng hơn nhiều so với tiên đoán sự xuất hiện của biến cố gây hại đến đối tượng đó. Tính mỏng manh dễ vỡ có thể xác định được, nhưng rủi ro thì không thể đo lường (ngoại trừ các sòng bạc hay tư duy của những người tự xưng là “chuyên gia mạo hiểm”). Điều này mang lại một cách tiếp cận cho những gì mà tôi gọi là vấn đề Thiên Nga Đen - ta không thể tính toán rủi ro của những biến cố hiếm hoi và dự đoán sự xuất hiện những biến cố đó. Ta có thể dò tìm độ nhạy trước những thiệt hại do tình trạng biến động gây ra, nhưng ta gần như không thể dự báo biến cố dẫn đến thiệt hại. Vì thế, đối với các phương pháp dự đoán, báo trước và quản lý rủi ro, chúng tôi đề nghị chỉ dừng lại ở mức độ xem xét lướt qua tiêu đề mà thôi.

Trong mỗi lĩnh vực áp dụng, chúng tôi đề xuất các quy tắc để đi từ tính mỏng manh dễ vỡ hướng tới khả năng cải thiện nghịch cảnh, thông qua giảm dần tính mỏng manh hay tăng dần khả năng cải thiện nghịch cảnh. Và ta gần như luôn luôn có thể tìm được khả năng cải thiện nghịch cảnh (hay tính mỏng manh) bằng một phép thử đơn giản về tính phi đối xứng: sau các biến cố ngẫu nhiên (hay các cú sốc nào đó), bất kỳ đối tượng nào hưởng lợi nhiều hơn so với thiệt hại thì sẽ có nhiều khả năng cải thiện nghịch cảnh; còn ngược lại, đối tượng đó có tính chất mỏng manh dễ vỡ.

Tước đoạt khả năng cải thiện nghịch cảnh

Điều quan trọng là, nếu khả năng cải thiện nghịch cảnh là thuộc tính của mọi hệ thống tự nhiên (và phức hợp) đang tồn tại, thì việc tước bỏ tính biến động, tính ngẫu nhiên, và các yếu tố gây căng thẳng sẽ phương hại đến các hệ thống này. Chúng sẽ suy yếu, lụi tàn, hay nổ tung. Chúng ta đã từng làm suy yếu nền kinh tế, đòi sống chính trị, giáo dục, hay sức khỏe của chúng ta, gần như mọi thứ… bằng cách kiềm chế tính ngẫu nhiên và biến động. Cũng hệt như việc nằm cả tháng trời trên giường (có thể với một nguyên bản của tác phẩm Chiến tranh và hòa bình hay truy cập trọn 68 tập của bộ phim truyền hình The Sopranos) sẽ dẫn đến bệnh teo cơ, các hệ thống phức hợp sẽ suy yếu dần, thậm chí bị tiêu diệt nếu bị tước đoạt các yếu tố biến động. Phần lớn thế giới hiện đại và có tổ chức ngày nay đã làm hại ta bằng những chính sách tập quyền từ trên xuống dưới và những kế hoạch máy móc (còn được gọi là “ảo tưởng Xô viết-Harvard” trong quyển sách này), nói chính xác ra, đã gây chấn thương cho khả năng cải thiện nghịch cảnh của các hệ thống.

Đây chính là bi kịch của tính hiện đại: cũng hệt như với những ông bố bà mẹ lo lắng bảo bọc ta thái quá, những người cố gắng giúp đỡ ta thường làm hại ta nhiều nhất.

Nếu mọi thứ áp đặt từ trên xuống dưới làm suy yếu và cản trở khả năng cải thiện nghịch cảnh và tăng trưởng, thì mọi thứ từ dưới lên trên sẽ lớn mạnh trong áp lực và hỗn loạn. Bản thân quá trình khám phá (hay phát minh đổi mới, hay tiến bộ công nghệ) phụ thuộc vào sự chỉnh sửa khả năng cải thiện nghịch cảnh và sự năng động chấp nhận rủi ro hơn là phụ thuộc vào học thuật chính quy.

Hưởng lợi bằng tổn thất của những người khác

Yếu tố làm suy yếu xã hội nhiều nhất và tạo ra khủng hoảng nhiều nhất chính là tình trạng thiếu tinh thần dấn thân và chấp nhận rủi ro cho chính mình trong cuộc chơi. Có những người cải thiện nghịch cảnh trên tổn thất của những người khác bằng cách hưởng lợi từ sự náo động, biến thiên và rối loạn, trong khi làm cho những người khác bị liên lụy rủi ro thiệt hại hay mất mát. Và khả năng cải thiện nghịch cảnh bằng tổn thất của người khác được che giấu - với sự mù mờ về khả năng cải thiện nghịch cảnh của giới trí thức Xô viết-Harvard - tính chất phi đối xứng này hiếm khi được xác định và chưa bao giờ được giảng dạy (cho đến giờ). Hơn nữa, như chúng ta đã phát hiện trong cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ năm 2008, những kẻ thổi phồng rủi ro cho những người khác này dễ dàng được che giấu nhờ vào tính phức tạp ngày càng tăng của các thể chế hiện đại và các sự vụ chính trị. Trong khi trước đây, chỉ những người mạo hiểm chấp nhận rủi ro, đón nhận thiệt hại vì hành động của mình mới trở thành những người có địa vị và thân phận, đồng thời chỉ những người làm thế vì lợi ích của những người khác mới trở thành anh hùng, thì giờ đây, chính xác điều ngược lại đang diễn ra. Chúng ta đang chứng kiến sự vươn lên của một tầng lớp mới những anh hùng đảo nghịch, nghĩa là những quan chức, những ngân hàng, những thành viên tham dự hội nghị Davos của Hiệp hội Quốc tế của những kẻ lòe thiên hạ bằng những danh hiệu mỹ miều (IAND: International Association of Name Droppers) và những học giả với quá nhiều quyền lực mà không phải gánh chịu thiệt hại và (hoặc) không có trách nhiệm giải trình. Họ đánh bạc với hệ thống trong khi người dân phải trả giá.

Và chưa từng bao giờ trong lịch sử lại có quá nhiều người không dám chấp nhận rủi ro (nghĩa là không bị liên lụy rủi ro cá nhân) nhưng lại phát huy quá nhiều quyền kiểm soát đến thế.

Nguyên tắc đạo đức cốt lõi là như sau: Người ta không nên đạt được khả năng cải thiện nghịch cảnh trên tổn thất đổ vỡ của những người khác.

III. GIAI THOẠI VỀ THIÊN NGA ĐEN

Tôi muốn sống hạnh phúc trong một thế giới mà tôi không am hiểu.

Thiên Nga Đen (viết hoa) là những biến cố bất thường và không thể dự đoán có quy mô lớn mang lại những hệ quả lớn lao; những biến cố này không được nhà quan sát nào đó dự đoán; và người không dự đoán được những biến cố này bị gọi là “kẻ ngốc” vào cái lúc họ vừa bất ngờ lẫn phải gánh chịu thiệt hại. Tôi từng nhận định rằng phần lớn lịch sử bắt nguồn từ những biến cố Thiên Nga Đen, trong khi chúng ta cứ mãi lo vun vén tri thức về những sự việc bình thường, và từ đó mãi xây dựng những mô hình, lý thuyết và những miêu tả không có khả năng theo dõi hay đo lường được triển vọng của những biến cố bất thường này.

Các biến cố Thiên Nga Đen chiếm đoạt và điều khiển trí não ta, khiến ta cảm thấy đã dự đoán được “phần nào” hay “hầu hết”, vì ta có thể giải thích được các biến cố đó sau khi sự việc đã xảy ra. Ta không nhận ra vai trò của các biến cố đó do ảo tưởng về khả năng dự đoán của ta. Cuộc đời là một mê cung phức tạp hơn nhiều so với những gì thể hiện qua trí nhớ của ta - trí óc ta đã chuyển hóa lịch sử thành một điều gì đó bình lặng êm ái và tuyến tính, khiến ta đánh giá quá thấp tính ngẫu nhiên. Nhưng khi ta nhìn ra tính ngẫu nhiên, ta lo sợ và phản ứng thái quá. Do nỗi lo sợ này và niềm khao khát về trật tự, nên một vài hệ thống nhân sinh, thông qua phá vỡ logic vô hình hoặc không được hữu hình cho lắm của sự việc, có xu hướng gánh chịu thiệt hại từ các biến cố Thiên Nga Đen và gần như không bao giờ khai thác được lợi ích gì. Bạn có được trật tự giả tạo khi bạn đi tìm trật tự; chỉ khi bạn chấp nhận tính ngẫu nhiên bạn mới đạt được một thước đo trật tự và kiểm soát.

Các hệ thống phức hợp đầy ắp những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau - khó dò tìm - và những phản ứng phi tuyến tính. “Phi tuyến tính” có nghĩa là khi bạn tăng gấp đôi liều thuốc hay tăng gấp đôi số lượng lao động trong nhà máy chẳng hạn, bạn sẽ không nhận được gấp đôi kết quả ban đầu; mà đúng hơn, bạn sẽ nhận được nhiều hơn hay ít hơn rất nhiều. Hai tuần ở Philadelphia sẽ không mang lại niềm vui gấp đôi so với một tuần - tôi đã thử rồi. Khi kết quả đáp ứng được biểu diễn thành đồ thị, nó không phải là một đường thẳng (“tuyến tính”), mà là một đường cong. Trong những môi trường như thế, các mối quan hệ nhân quả giản đơn bị đặt sai chỗ; chỉ xem xét từng bộ phận riêng rẽ thì khó mà nhìn thấy cách sự việc vận hành.

Các hệ thống phức hợp nhân tạo có xu hướng phát triển các dòng và các chuỗi phản ứng nhanh chóng làm giảm hay thậm chí làm triệt tiêu khả năng dự đoán và gây ra những biến cố ngoại cỡ. Vì vậy, thế giới hiện đại có thể đang nâng cao tri thức công nghệ; nhưng nghịch lý thay, điều đó đồng thời lại làm cho sự việc trở nên khó dự đoán hơn nhiều. Giờ đây, vì những lý do liên quan đến sự gia tăng các mô hình nhân tạo, xa rời dần các mô hình tự nhiên từ bao đời, và mất đi sức mạnh do những yếu tố phức tạp trong việc thiết kế mọi thứ, vai trò của các biến cố Thiên Nga Đen ngày càng tăng. Ngoài ra, chúng ta còn là nạn nhân của một căn bệnh mới mà trong quyển sách này ta gọi là chứng cuồng hiện đại (neomania), hay “sự tiến bộ,” khiến ta xây dựng những hệ thống dễ bị tổn thương trước các biến cố Thiên Nga Đen.

Một khía cạnh phiền phức của vấn đề Thiên Nga Đen - thật ra là điểm quan trọng thường bị bỏ qua - nằm ở chỗ, đơn giản là ta không thể tính toán được xác suất xảy ra các biến cố hiếm hoi này. Hiểu biết của ta về những trận lụt hàng trăm năm mới xảy ra một lần thì ít ỏi hơn nhiều so với những trận lụt xảy ra trong năm năm; sai số mô hình sẽ tăng vọt khi tính toán những xác suất nhỏ. Biến cố càng hiếm hoi, hiểu biết của ta về tần suất xảy ra biến cố càng ít ỏi và khó dò tìm; thế nhưng biến cố càng hiếm hoi, những “nhà khoa học” tham gia vào việc dự đoán, lập mô hình, và sử dụng phần mềm PowerPoint trong các hội nghị với các phương trình trên những phông nền đủ màu sắc lại càng trở nên tự tin hơn.

Điều bổ ích hơn là, Mẹ Thiên Nhiên - nhờ vào khả năng cải thiện nghịch cảnh của mình - là chuyên gia giỏi nhất về các biến cố hiếm hoi và là nhà quản lý các Thiên Nga Đen giỏi nhất; trong hàng tỉ năm, Mẹ Thiên Nhiên đã đạt đến trạng thái này mà không cần những mệnh lệnh hướng dẫn và kiểm soát từ một vị giám đốc được đào tạo bởi các trường đại học danh tiếng ở miền đông bắc Hoa Kỳ (Ivy League) do một hội đồng nghiên cứu bổ nhiệm. Khả năng cải thiện nghịch cảnh không chỉ là liều thuốc giải độc Thiên Nga Đen; am hiểu khả năng cải thiện nghịch cảnh giúp ta đỡ lo sợ về mặt tri thức hơn để chấp nhận vai trò của các biến cố này là những yếu tố cần thiết đối với lịch sử, công nghệ, tri thức, mọi thứ.

Sức mạnh không có nghĩa là đã đủ mạnh

Ta biết rằng Mẹ Thiên Nhiên không chỉ “an toàn” mà còn rất hung hãn trong việc tàn phá và thay thế, chọn lọc và cải tổ. Khi các biến cố hiếm hoi xảy ra, chỉ “mạnh mẽ” không thôi sẽ không đủ. Trong dài hạn, trước sự tàn nhẫn của thời gian, mọi thứ không dễ bị tổn thương nhất cũng có thể đổ vỡ, thế mà hành tinh của chúng ta vẫn còn đây, có lẽ đã bốn tỉ năm rồi, và đó không chỉ đơn thuần là mạnh mẽ: bạn cần một sự mạnh mẽ hoàn hảo để một vết nứt không dẫn đến sụp đổ toàn hệ thống. Biết rằng sự mạnh mẽ hoàn hảo là không thể đạt được, ta cần một cơ chế qua đó hệ thống sẽ liên tục tự tái tạo thông qua khai thác sử dụng chứ không chỉ chấp nhận chịu đựng các biến cố ngẫu nhiên, các cú sốc không thể dự đoán, các yếu tố gây căng thẳng, và sự biến động.

Khả năng cải thiện nghịch cảnh giúp ta hưởng lợi từ những sai số dự báo, trong dài hạn. Nếu bạn theo dõi ý tưởng này cho đến kết luận, thì những đối tượng nào hưởng lợi từ tính ngẫu nhiên sẽ chiếm lĩnh thế giới ngày nay, trong khi những đối tượng nào bị tổn thương bỏi tính ngẫu nhiên sẽ lụi tàn. Quả thật, đúng là như vậy. Chúng ta thường có ảo tưởng rằng thế giới vận hành nhờ vào việc thiết kế lập trình, nhờ vào nghiên cứu của các trường đại học và tài trợ của nhà nước, nhưng có những bằng chứng thuyết phục, vô cùng thuyết phục, cho thấy đó chỉ là ảo tưởng; tôi gọi ảo tưởng này là dạy chim cách bay. Công nghệ là kết quả của khả năng cải thiện nghịch cảnh, được khám phá bởi những người dám chấp nhận rủi ro dưới hình thức chỉnh sửa, thử nghiệm và sửa sai, với thiết kế được thúc đẩy bỏi lòng say mê thầm lặng. Các kỹ sư và những người mày mò sửa chữa là người xây dựng mọi thứ, trong khi sử sách được viết bỏi các học giả, thế nên chúng ta phải sàng lọc lại các lý giải lịch sử về tăng trưỏng, đổi mới, và nhiều thứ tương tự.

Về khả năng đo lường sự việc

Tính mỏng manh có thể xác định được phần nào, còn rủi ro thì hoàn toàn không thể đo lường, nhất là những rủi ro gắn liền với các biến cố hiếm hoi.1

Tôi nói rằng chúng ta có thể ước lượng, thậm chí đo lường tính mỏng manh và khả năng cải thiện nghịch cảnh, nhưng không thể tính toán rủi ro và xác suất của những cú sốc và biến cố hiếm hoi, bất kể ta đạt được trình độ tinh vi đến mức nào. Quản lý rủi ro trên thực tế là việc nghiên cứu một biến cố xảy ra trong tương lai, và chỉ một vài nhà kinh tế học cũng như những kẻ ngông cuồng khác mới có thể khẳng định - trái với thực tế - việc “đo lường” khả năng xảy ra các biến cố hiếm hoi này trong tương lai, cùng những người dễ bị lừa ngồi lắng nghe họ - trái với kinh nghiệm và thành tích quá khứ của những khẳng định đó. Nhưng tính mỏng manh và khả năng cải thiện nghịch cảnh là một phần thuộc tính hiện tại của một đối tượng, một chiếc bàn cà phê, một công ty, một ngành công nghiệp, một đất nước, một hệ thống chính trị. Ta có thể dò tìm tính mỏng manh, nhìn ra nó, thậm chí trong nhiều trường hợp còn có thể đo lường, hay chí ít đo lường tính mỏng manh tương đối với một sai số nhỏ; trong khi việc so sánh rủi ro cho đến giờ vẫn không đáng tin cậy. Bạn không thể nói một cách đáng tin cậy rằng một biến cố xa vời hay một cú sốc nào đó có nhiều khả năng xảy ra hơn một biến cố khác (trừ khi bạn đang tận hưởng việc tự đánh lừa mình), nhưng bạn có thể nói một cách chắc chắn hơn nhiều rằng đối tượng hay kết cấu này mỏng manh hơn đối tượng hay kết cấu khác nếu có một biến cố nào đó xảy ra. Bạn có thể dễ dàng nói rằng bà ngoại bạn yếu ớt trước những thay đổi đột ngột về nhiệt độ hơn so với bạn, rằng một nền độc tài quân sự nào đó dễ sụp đổ hơn so với đất nước Thụy Sĩ nếu thay đổi chính trị diễn ra, rằng một ngân hàng này dễ sụp đổ hơn so với một ngân hàng khác nếu khủng hoảng xảy ra, hay một công trình hiện đại được xây dựng kém cỏi nào đó dễ sụp đổ hơn so với Nhà thờ Đức Bà Paris nếu có động đất. Và điều quan trọng là, bạn thậm chí có thể dự đoán công trình nào có thể tồn tại lâu hơn.

Thay vì thảo luận về rủi ro (có tính chất phỏng đoán và yếu đuối), tôi cổ xúy cho khái niệm tính mỏng manh, vốn không có tính chất phỏng đoán, và không như rủi ro, có một từ ngữ thú vị để mô tả sự đối nghịch chức năng: khái niệm không yếu đuối chút nào về khả năng cải thiện nghịch cảnh.

Để đo lường khả năng cải thiện nghịch cảnh, ta có một công thức hệt như hòn đá luyện đan của các nhà giả kim thời Trung cổ, sử dụng một quy tắc đơn giản và súc tích giúp ta xác định khả năng này trong các lĩnh vực khác nhau, từ y khoa cho đến xây dựng xã hội.

Chúng ta đã vô tình khai thác khả năng cải thiện nghịch cảnh trong đời sống thực hành, và đã cố tình bác bỏ nó, cụ thể là trong đời sống tinh thần.

Fragilista

Quan niệm của chúng ta là tránh can thiệp vào những gì ta không am hiểu. Quả thật có những người có xu hướng làm điều ngược lại. Fragilista là loại người thường đóng bộ đồ vét và thắt cà vạt, đặc biệt là vào những ngày thứ sáu, phản ứng trước câu nói đùa của bạn bằng vẻ nghiêm nghị lạnh lùng, và có xu hướng xây dựng những vấn đề xa xôi từ rất sớm trong đời khi ngồi trước bàn giấy, đi máy bay, và nghiên cứu tin tức báo chí. Họ thường tham gia vào một nghi thức lạ lùng, thường được gọi là “cuộc họp.” Bây giờ, ngoài những nét đặc thù này, họ còn mặc nhiên nghĩ rằng những gì họ không nhìn thấy thì không hiện hữu, hay những gì họ không hiểu thì không tồn tại. Cốt lõi là ở chỗ, họ có xu hướng lẫn lộn giữa những gì họ không biết và những gì không hiện hữu.

Fragilista rơi vào ảo tưởng Xô viết-Harvard, nghĩa là đánh giá quá cao (phi khoa học) phạm vi của tri thức khoa học. Do ảo tưởng đó, họ được gọi là những người theo chủ nghĩa duy lý ngây thơ (naive rationalists), hay đôi khi gọi đơn giản là những kẻ duy lý; hiểu theo nghĩa đó, họ tin rằng lý lẽ hàm chứa trong các sự vật có thể tự động tìm đến với họ. Và ta không nên lẫn lộn giữa sự giải thích duy lý với lẽ phải, hai khái niệm này gần như luôn luôn trái ngược nhau. Ngoài vật lý học, và nói chung trong những lĩnh vực phức hợp, lý lẽ hàm chứa đằng sau sự việc có xu hướng làm cho chúng trở nên kém rõ ràng đối với chúng ta và thậm chí kém rõ ràng hơn với các fragilista. Than ôi, thuộc tính không tự thông báo trong sổ tay hướng dẫn sử dụng của các sự việc tự nhiên chẳng phải là một trở ngại: một số fragilista sẽ cùng nhau tự soạn thảo sổ tay hướng dẫn sử dụng, nhờ vào định nghĩa về “khoa học” của họ.

Vì thế, cũng bỏi các fragilista mà nền văn hóa hiện đại ngày càng trở nên mù mờ trước những sự việc huyền bí và không thể thấu hiểu, những thứ mà Nietzsche gọi là Dyonysian (gọi theo tên thần rượu Dionysus trong thần thoại La Mã và Hy Lạp, để chỉ những sự việc tự phát chứ không theo lý trí - ND).

Diễn dịch Nietzsche sang bản ngữ Brooklyn, tuy kém thi vị hơn nhưng dễ hiểu hơn, đây là cái mà nhân vật Tony Béo gọi là “canh bạc của kẻ ngốc” (canh bạc chỉ kẻ ngốc mới chơi vì gần như luôn luôn thua).

Nói vắn tắt, fragilista (trong các lĩnh vực y học, kinh tế, quy hoạch xã hội) là những người làm cho bạn tham gia vào những chính sách và hành động, tất cả đều giả tạo, trong đó lợi ích thì ít ỏi và dễ nhận thấy, còn các tác dụng phụ tiềm ẩn thì nghiêm trọng và vô hình.

Trong lĩnh vực y học có những fragilista can thiệp thái quá khi phủ nhận khả năng tự hồi phục tự nhiên của cơ thể chúng ta và cho bạn những loại thuốc với tác dụng phụ tiềm ẩn hết sức nghiêm trọng; trong lĩnh vực chính sách có những fragilista (những nhà hoạch định xã hội theo chủ nghĩa can thiệp) nhầm nền kinh tế là chiếc máy giặt cần được họ sửa chữa và làm nó nổ tung; trong lĩnh vực tâm thần có những fragilista điều trị cho trẻ để “cải thiện” trí tuệ và cảm xúc của các em; những bà mẹ quan tâm bảo bọc con cái thái quá cũng có thể là fragilista; fragilista trong lĩnh vực tài chính làm cho mọi người sử dụng các mô hình “rủi ro” gây tàn phá hệ thống (rồi lại sử dụng các mô hình đó một lần nữa); fragilista quân sự gây nhiễu loạn các hệ thống phức hợp; và fragilista vốn là các chuyên gia dự đoán, khuyến khích bạn gánh chịu nhiều rủi ro hơn, và còn nhiều nữa.2

Quả thật, trong những lời rao giảng chính trị thường thiếu vắng một khái niệm. Trong các bài diễn văn, các mục tiêu và cam kết của mình, các chính khách thường nhắm vào những khái niệm e dè nhút nhát như “khả năng phục hồi,” “sự cứng rắn,” chứ không phải khả năng cải thiện nghịch cảnh, và trong quá trình đó, họ cũng dập tắt luôn các cơ chế tăng trưởng và tiến hóa. Chúng ta đạt đến trạng thái hiện nay không phải nhờ vào khái niệm ẻo lả về khả năng phục hồi. Và tệ hơn, chúng ta không đạt đến trạng thái hiện nay nhờ vào các nhà hoạch định chính sách - mà nhờ vào niềm đam mê khao khát rủi ro và sai sót của một lớp người nào đó mà ta cần khuyến khích, bảo vệ và tôn trọng.

Càng đơn giản càng tốt

Trái với những gì người ta thường nghĩ, một hệ phức hợp không đòi hỏi phải có những hệ thống phức tạp cũng như những quy định và chính sách rối rắm. Càng đơn giản càng tốt. Sự phức tạp dẫn đến những chuỗi hiệu ứng không lường trước tăng lên theo cấp số nhân. Do thiếu hiểu biết, hành vi can thiệp càng gây ra những hệ quả không được tiên liệu, rồi dẫn đến sự can thiệp khác để sửa chữa các ảnh hưởng thứ cấp, kéo theo hàng loạt phân nhánh của những phản ứng bất ngờ bùng nổ, mỗi lần như thế lại càng tồi tệ hơn so với trước đó.

Thế nhưng thật khó mà đạt được sự đơn giản trong đời sống hiện đại bởi lẽ nó đi ngược lại tinh thần của một lớp người nào đó luôn tìm kiếm sự tinh vi để họ có thể biện minh cho nghề nghiệp chuyên môn của mình.

Càng đơn giản càng tốt và càng hữu hiệu. Vì thế, tôi sẽ đưa ra một ít bí quyết, những điều hướng dẫn và kiêng kỵ để làm thế nào sống trong một thế giới mà ta không am hiểu, hay đúng hơn, làm thế nào để không sợ làm việc với những gì ta không biết rõ, và quan trọng hơn, ta sẽ làm việc với những đối tượng đó như thế nào. Hay thậm chí tốt hơn, làm thế nào ta dám đối diện trước sự vô minh của ta mà không xấu hổ cho thân phận con người - con người năng động và tự hào. Nhưng điều đó xem ra đòi hỏi phải có một vài thay đổi cơ cấu.

Điều tôi đề xuất là một lộ trình sửa đổi các hệ thống nhân tạo để mở đường cho sự đơn giản và tự nhiên.

Nhưng đạt được sự đơn giản chẳng phải dễ dàng. Steve Jobs từng nhận ra rằng “bạn phải làm việc cật lực mới đạt được tư duy thuần khiết để trở nên đơn giản.” Người Ảrập có một thành ngữ sắc sảo về văn xuôi: để hiểu thì không cần kỹ năng, còn để viết thì cần sự thông tuệ.

Các quy tắc suy nghiệm là những quy tắc dựa vào kinh nghiệm được đơn giản hóa, làm cho sự việc trở nên đơn giản và dễ thực hiện. Nhưng ưu điểm chính của nó là người sử dụng biết rằng nó không hoàn hảo mà chỉ thiết thực, và do đó đỡ bị đánh lừa bởi hiệu lực của nó. Sẽ trở nên nguy hiểm khi chúng ta quên đi điều đó.

IV. QUYỂN SÁCH NÀY

Hành trình đi đến ý tưởng về khả năng cải thiện nghịch cảnh, nếu có, là phi tuyến tính.

Một ngày nọ, tôi bất chợt nhận ra rằng tính mỏng manh - vốn dĩ vẫn thiếu một định nghĩa chuyên môn - có thể được diễn tả là những gì không thích biến động,những gì không thích biến động thì cũng không thích sự ngẫu nhiên, bất trắc, hỗn loạn, sai sót vv… Thử nghĩ về bất kỳ thứ gì mỏng manh dễ vỡ, ví dụ các đồ vật trong phòng khách nhà bạn như chiếc khung ảnh bằng kính, chiếc tivi, hay thậm chí những bộ đồ sứ trong tủ. Nếu bạn gọi chúng là “mỏng manh”, cố nhiên bạn muốn để riêng chúng ở nơi nào đó bình yên, êm ả, trật tự và có thể dự đoán. Một vật mỏng manh dễ vỡ xem ra không thể hưởng lợi từ một trận động đất hay chuyến viếng thăm của đứa cháu trai quá hiếu động của bạn. Hơn nữa, những thứ không thích biến động cũng không thích những yếu tố căng thẳng, tổn hại, rối loạn, các biến cố, tình trạng lộn xộn, các hệ quả “không lường trước”, sự bất định, và nhất là thời gian.

Và khái niệm về khả năng cải thiện nghịch cảnh nảy ra từ định nghĩa rõ ràng về tính mỏng manh dễ vỡ này. Khả năng cải thiện nghịch cảnh thích sự biến động cùng những thứ khác tương tự. Nó cũng thích thời gian. Và nó có một mối quan hệ mạnh mẽ và bổ ích với thuộc tính phi tuyến: mọi thứ phản ứng một cách phi tuyến tính trước sự ngẫu nhiên thì hoặc là mỏng manh hoặc là có khả năng cải thiện nghịch cảnh.

Điều lạ lùng nhất là ở chỗ, những lòi rao giảng về khoa học và triết học hoàn toàn không đề cập đến đặc điểm hiển nhiên rằng bất kỳ thứ gì mỏng manh đều ghét biến động, và ngược lại. Hoàn toàn không. Và nghiên cứu độ nhạy của sự vật trước biến động là một nghề nghiệp lạ kỳ mà tôi đã trải qua phần lớn đòi mình, suốt hai thập kỷ trong đó. Tôi biết đây là một nghề nghiệp lạ kỳ, tôi hứa sẽ giải thích sau. Trọng tâm của tôi trong nghề này là xác định những đối tượng “yêu biến động” hay “ghét biến động”; vì thế tất cả những gì tôi phải làm là triển khai ý tưởng từ lĩnh vực tài chính từng là chuyên ngành làm việc của tôi, cho đến khái niệm bao quát hơn về việc ra quyết định trong tình trạng bất định trong các lĩnh vực khác nhau, từ khoa học chính trị cho đến y học cho đến kế hoạch ăn tối.3

Và trong nghề nghiệp lạ kỳ của những người làm việc với biến động này, có hai loại người. Loại thứ nhất, giới học thuật, những người viết báo cáo, các bình luận viên chuyên nghiên cứu các biến cố tương lai và viết sách báo; loại thứ hai, giới thực hành, thay vì nghiên cứu các biến cố tương lai, họ ra sức tìm hiểu xem sự việc phản ứng trước biến động như thế nào (nhưng giới thực hành này quá bận thực hành nên không thể viết sách báo, thuyết trình, xây dựng các phương trình, các lý thuyết và không được tôn vinh bỏi các Viện sĩ Hàn lâm Danh dự và Vô cùng Táo bón). Trọng tâm là sự khác biệt giữa hai loại người này: như ta đã thấy, việc tìm hiểu xem một đối tượng nào đó có bị thiệt hại trước biến động hay không, và vì thế có mỏng manh hay không, thì dễ dàng hơn nhiều so với việc ra sức dự báo các biến cố gây hại, như các biến cố Thiên Nga Đen ngoại cỡ này. Nhưng chỉ có những người thực hành (hay những người làm việc) mới thường tự động lĩnh hội được điều này.

Họ hỗn độn (thay vì hạnh phúc)

Một nhận xét chuyên môn. Chúng ta luôn nói rằng tính mỏng manh và khả năng cải thiện nghịch cảnh có nghĩa là bị thiệt hay được lợi do liên lụy với điều gì đó liên quan đến biến động. “Điều gì đó” là gì? Nói đơn giản, đó là thành viên trong họ hỗn độn.

Họ Hỗn độn (hay Cụm) gồm: (i) bất định, (ii) biến thiên, (iii) hiểu biết không hoàn hảo, không hoàn chỉnh, (iv) cơ hội, (v) hỗn loạn, (vi) biến động, (vii) hỗn độn, (viii) mất trật tự, (ix) thời gian, (x) không biết trước, (xi) ngẫu nhiên, (xii) náo động, (xiii) yếu tố gây căng thẳng, (xiv) sai sót, (xv) phân tán kết quả, (xvi) không hiểu biết.

Hóa ra các trạng thái bất định, hỗn độn, và không biết trước hoàn toàn tương đương với nhau về tác động: những hệ thống có khả năng cải thiện nghịch cảnh sẽ hưởng lợi (đến mức độ nào đó) và những hệ thống mỏng manh sẽ bị thiệt hại bởi hầu hết các trạng thái này - ngay cả nếu bạn phải tìm chúng trong những tòa nhà biệt lập của các trường đại học, và ngay cả nếu một vài vị triết gia vốn không bao giờ dám chấp nhận rủi ro thực tế trong đòi, hay tệ hơn, chưa bao giờ có nổi một cuộc đòi, thông báo với bạn rằng, “các trạng thái này rõ ràng không phải là như nhau.”

Tại sao lại có mục (ix) về thời gian? Về mặt chức năng, thời gian cũng tương tự như sự biến động: càng nhiều thời gian, càng nhiều biến cố, càng nhiều hỗn độn. Giả sử bạn chịu đựng được sự thiệt hại có giới hạn và bạn có khả năng cải thiện nghịch cảnh trước những sai sót nhỏ, thì thời gian đưa đến hay đảo ngược một loại sai sót nào đó hóa ra lại có lợi cho bạn. Đơn giản bà ngoại bạn gọi đó là kinh nghiệm. Trái lại, những đối tượng mỏng manh sẽ đổ vỡ theo thời gian.

Chỉ có một quyển sách

Điều này làm cho quyển sách trở thành nghiên cứu trọng tâm của tôi. Tôi chỉ có một ý tưởng chính, mỗi lần lại đưa đến một bước tiếp theo, bước cuối cùng - quyển sách này - giống như một bước nhảy lớn. Tôi được kết nối trở lại với “bản ngã thực hành” của mình, tâm hồn tôi là tâm hồn của một người thực hành, vì đây là sự hòa quyện với toàn bộ quá khứ của tôi là một người thực hành và một “chuyên gia về biến động”, kết hợp với mối quan tâm trên phương diện tư duy và triết lý đối với tính ngẫu nhiên và bất định, mà trước đây vốn có những lộ trình riêng biệt.

Các tác phẩm của tôi không phải là những bài tham luận riêng rẽ về những chủ đề cụ thể với khỏi đầu, kết thúc, và ngày hết hạn; mà đúng hơn, các tác phẩm này bao gồm những chương sách không trùng lặp, từ đó, ý tưỏng trọng tâm hay phần chính sẽ tập trung vào tính bất định, tính ngẫu nhiên, khả năng có thể xảy ra, tình trạng hỗn độn, và những gì ta nên làm trong một thế giới ta không am hiểu, một thế giới với những yếu tố và thuộc tính không lường trước, sự ngẫu nhiên và phức tạp; nghĩa là ra quyết định trong trạng thái vô minh. Phần chính được gọi là Incerto và bao gồm một bộ ba cuốn sách cùng với các phần phụ lục triết học và toán học. Nguyên tắc là, khoảng cách giữa một chương ngẫu nhiên trong cuốn sách này, ví dụ như cuốn Khả năng cải thiện nghịch cảnh, và một chương ngẫu nhiên khác trong một cuốn sách khác, như cuốn Fooled by Randomness (tạm dịch: Mắc lừa bởi ngẫu nhiên) sẽ tương tự với khoảng cách giữa các chương trong một quyển sách dài. Nguyên tắc này cho phép phần chính đề cập xuyên qua nhiều lĩnh vực (thông qua thay đổi giữa các phân ngành khoa học, triết học, kinh doanh, tâm lý học, văn học và tự truyện) mà không sa vào rối rắm.

Vì thế, mối quan hệ giữa quyển sách này với cuốn Thiên Nga Đen là như sau: bất chấp trình tự xuất bản (và việc quyển sách này đúc kết ý tưỏng Thiên Nga Đen thành các kết luận tự nhiên và gợi mở), Khả năng cải thiện nghịch cảnh là tập chính và Thiên Nga Đen là tập hỗ trợ và là tập sách lý thuyết, có lẽ ngay cả trong phần phụ lục cỡ nhỏ của nó. Tại sao thế? Vì Thiên Nga Đen (và quyển sách trước đó, Fooled by Randomness) được viết để thuyết phục chúng ta về một tình huống đáng sợ, và đã nghiên cứu kỹ lưỡng về điều đó; nên quyển sách này bắt đầu từ trạng thái ta không cần thuyết phục rằng (a) các biến cố Thiên Nga Đen chi phối xã hội và lịch sử (và mọi người, do sự giải thích duy lý sau khi sự việc đã xảy ra, tự cho mình có thể hiểu chúng); (b) vì thế, chúng ta hoàn toàn không biết điều gì đang diễn ra, nhất là trong những trường hợp phi tuyến tính triệt để, nên ta có thể đi đến công việc thực hành ngay bây giờ.

Tai nghe không bằng mắt thấy

Phù hợp với tính cách của những con người thực hành, nguyên tắc trong quyển sách này là như sau: tôi ăn những gì tôi nấu ra.

Mỗi một dòng chữ mà tôi viết ra trong cuộc đời chuyên nghiệp của mình, tôi đều viết về những gì tôi đã làm, và những rủi ro mà tôi khuyên người khác nên chấp nhận hay tránh né là những rủi ro chính tôi từng đón nhận hay lảng tránh. Tôi sẽ là người đầu tiên bị tổn thương nếu tôi sai. Khi tôi cảnh báo về tính mỏng manh của hệ thống ngân hàng trong cuốn Thiên Nga Đen, tôi đã đánh cược về sự sụp đổ của nó (nhất là khi thông điệp của tôi không được chú ý tới); bằng không tôi sẽ cảm thấy trái đạo lý khi viết về nó. Phê bình cá nhân đó áp dụng cho mọi lĩnh vực, bao gồm y học, đổi mới công nghệ, và những vấn đề đơn giản trong cuộc sống. Điều đó không có nghĩa là kinh nghiệm cá nhân tạo thành một ví dụ đầy đủ để suy ra kết luận về một quan niệm; mà chỉ có nghĩa là kinh nghiệm cá nhân mang lại con dấu chứng thực về sự xác thực và thành thật của quan niệm đó. Nói về kinh nghiệm thực tế, người ta không thể chọn dữ liệu có lợi bỏ qua dữ liệu bất lợi như chúng ta vẫn thấy trong các nghiên cứu, nhất là những nghiên cứu được gọi là “quan sát” trong đó nhà nghiên cứu tìm kiếm các diễn biến quá khứ, và nhờ vào dữ liệu phong phú nên có thể rơi vào bẫy liên tưởng bịa đặt.

Hơn nữa, khi viết, tôi cảm thấy tồi tệ và trái đạo lý nếu tôi phải tìm kiếm một đề tài trong thư viện như một phần của công việc viết lách. Điều này làm một bộ lọc - bộ lọc duy nhất. Nếu đối với tôi, đề tài không đủ thú vị để tôi tìm tòi một cách độc lập, vì sự hiếu kỳ và mục đích của riêng tôi, và nếu tôi đã không làm thế trước đó, thì tôi sẽ không viết về nó, thế thôi. Điều đó không có nghĩa là các thư viện (thực và ảo) là không thể chấp nhận được; mà chỉ có nghĩa là các thư viện không nên là nguồn gốc của ý tưởng. Sẽ bổ ích cho những sinh viên viết tham luận về những đề tài mà họ phải tìm kiếm tri thức từ thư viện như một bài tập tự nâng cao; nhưng một nhà chuyên môn được ban thưởng khi viết và được người khác đánh giá cao nên sử dụng một bộ lọc hiệu nghiệm hơn. Chỉ những ý tưởng đã thăng hoa, những ý tưởng đã nung nấu trong bạn suốt một thời gian dài, mới có thể chấp nhận được, và những ý tưởng đó đến từ thực tiễn.

Đã đến lúc làm sống lại khái niệm triết học ít được biết tới về cam kết đức tin (doxastic commitment), những niềm tin không chỉ nói suông, những niềm tin mà ta cam kết đủ để ta dám chấp nhận rủi ro cá nhân.

Nếu bạn thấy điều gì đó

Tính hiện đại đã thay thế cho luân thường đạo lý bằng ngôn ngữ đặc thù của giới luật sư, và người ta có thể đánh bạc với luật lệ bằng một luật sư giỏi.

Vì thế, tôi sẽ phơi bày việc chuyển giao tính mỏng manh, hay đúng hơn là đánh cắp khả năng cải thiện nghịch cảnh, bỏi những người “mua bán để hưởng chênh lệch” từ hệ thống. Những người này sẽ được gọi đích danh. Nguyên tắc đạo lý hàng đầu là:

Nếu bạn thấy lừa đảo mà bạn không tố giác,

thì bạn cũng là kẻ lừa đảo.

Giống như lịch sự với kẻ ngạo mạn thì chẳng hay ho gì hơn ngạo mạn với một người lịch sự, thỏa hiệp với ai đó đang có hành động đáng ghê tởm nghĩa là dung túng hành động đó.

Hơn nữa, nhiều tác giả và học giả nói chuyện riêng tư, chẳng hạn như sau khi uống hết nửa chai rượu, thì khác với cách họ nói trong các ấn phẩm. Và nhiều vấn nạn xã hội phát sinh từ kiểu lập luận “những người khác cũng đang làm điều đó mà.” Vì thế, nếu sau khi uống hết ly rượu vang trắng Libăng thứ ba, tôi bảo đó là một fragilista nguy hiểm bất chấp luân thường đạo lý, thì tôi cũng có nghĩa vụ phải làm thế ở đây.

Gọi những người và những tổ chức nào đó là những kẻ lừa đảo trên giấy trắng mực đen khi không ai hay chưa ai khác gọi họ như thế chắc chắn phải trả giá, nhưng cái giá đó quá rẻ nên không thể can ngăn ta. Sau khi nhà toán học Benoit Mandelbrot đọc bản in thử Thiên Nga Đen, quyển sách dành tặng ông, ông gọi tôi và nói khẽ: “Tôi nên nói ‘chúc anh may mắn’ bằng thứ ngôn ngữ nào đây?” Hóa ra tôi không cần may mắn; tôi có khả năng cải thiện nghịch cảnh trước mọi kiểu tấn công: càng bị Phái đoàn Fragilista Trung ương công kích bao nhiêu, thông điệp của tôi càng lan truyền khi nó khiến người ta xem xét các lập luận của tôi. Giờ đây tôi còn xấu hổ khi đã không đi xa hơn thế nữa bằng cách nói toạc móng heo ra.

Thỏa hiệp là dung túng. Nhận định hiện đại duy nhất mà tôi nghe theo là nhận định của George Santayana4: Người ta sẽ thảnh thơi về mặt đạo đức khi… họ phê bình thế giới và phê bình người khác với sự thành thật không thỏa hiệp. Đây không chỉ là mục đích mà còn là nghĩa vụ.

Phá vỡ hóa thạch

Nguyên tắc đạo lý thứ hai.

Tôi có nghĩa vụ cống hiến bản thân cho quá trình khoa học chỉ đơn giản vì tôi đòi hỏi điều đó từ những người khác, nhưng không đòi hỏi gì hơn. Khi tôi đọc những công bố thực nghiệm trong y học hay trong những ngành khoa học khác, tôi muốn những công bố này phải trải qua cơ chế xem xét đồng cấp, một kiểu kiểm tra nhanh, xem xét về tính chính xác của phương pháp. Mặt khác, các phát biểu logic hay những phát biểu được chứng minh bằng toán học không đòi hỏi phải có cơ chế xem xét đồng cấp: những phát biểu này có thể và phải tự đứng vững. Vì thế tôi viết các chú thích cuối trang về khía cạnh toán học liên quan cho ba quyển sách này bằng phương tiện học thuật và chuyên môn, và không gì khác hơn (và chỉ giới hạn chúng trong phạm vi những phát biểu đòi hỏi phải được chứng minh hay phải có các lập luận giải thích bằng toán học). Nhưng vì tính xác thực và tránh sự hám danh (hạ thấp giá trị tri thức vì biến nó thành một môn thể thao cạnh tranh), tôi tự cấm mình không được viết thêm bất cứ điều gì ngoài các chú thích cuối trang này.

Sau hơn hai mươi năm làm việc trên cương vị một nhà kinh doanh và thương mại giao dịch trong cái mà tôi gọi là “nghề nghiệp lạ kỳ”, tôi đã thử cái mà người ta gọi là một sự nghiệp học thuật. Và tôi có đôi điều để tường thuật - quả thật đó là động lực ẩn chứa sau ý tưởng về khả năng cải thiện nghịch cảnh trong đời và sự lưỡng phân giữa tự nhiênphi tự nhiên. Hoạt động thương mại thì vui nhộn, ly kỳ, sống động, và tự nhiên; hoạt động học thuật như được chuyên môn hóa hiện nay thì không có đặc điểm nào trong những đặc điểm trên. Và với những người cho rằng giới học thuật “bình lặng hơn” và là sự chuyển đổi thư thái về mặt tinh thần sau một cuộc đời biến động và đón nhận rủi ro, thì đây là một sự ngạc nhiên: trong giới thực hành, các vấn đề và nỗi lo toan mới hiện ra mỗi ngày để thay thế và loại bỏ những con đau đầu, niềm oán giận và mối xung đột của ngày hôm trước. Chiếc đinh này thay thế cho chiếc đinh kia với sự đa dạng đáng kinh ngạc. Nhưng giới học thuật (nhất là trong khoa học xã hội) xem ra không tin tưởng lẫn nhau; họ sống trong nỗi ám ảnh nhỏ nhen, lòng đố kỵ và niềm căm ghét lạnh lùng, với thái độ lạnh nhạt nho nhỏ phát triển thành mối ác cảm, dần dần hóa thạch trong nỗi cô đơn của sự giao dịch với màn hình máy tính và sự bất biến của môi trường. Ây là còn chưa nói tới mức độ ghen tỵ mà tôi gần như không bao giờ nhìn thấy trong giới kinh doanh… Kinh nghiệm của tôi là, tiền bạc và các giao dịch làm trong sạch các mối quan hệ, trong khi các ý tưởng và những vấn đề trừu tượng như “sự công nhận” và “công trạng” làm hoen ố chúng, tạo ra một môi trường kình địch triền miên. Tôi lớn lên để nhìn thấy người ta thèm khát bằng cấp thành tích thật buồn nôn, kinh tởm, và không thể tin cậy.

Thương mại, kinh doanh, các khu chợ Levant5 (cho dù không phải là những thị trường và công ty trên quy mô lớn) là những hoạt động và những nơi mang lại những gì tốt nhất trong con người, làm cho phần lớn họ trở nên khoan dung, trung thực, yêu thương, tin cậy, và cỏi mở. Là một thành viên của cộng đồng Ki-tô giáo ở Cận Đông, tôi có thể cam đoan rằng thương mại, nhất là hoạt động tiểu thương, là cánh cửa mở ra lòng khoan dung - cánh cửa duy nhất, theo quan điểm của tôi, của bất kỳ hình thức khoan dung nào. Nó đánh bại sự giải thích duy lý và những lời rao giảng. Cũng như công việc chỉnh sửa có khả năng cải thiện nghịch cảnh, những lỗi lầm thì nhỏ bé và nhanh chóng được thứ tha.

Tôi muốn hạnh phúc được làm người và sống trong một môi trường trong đó những người khác yêu quý số phận của họ - và tôi chưa từng bao giờ nghĩ rằng môi trường đó là một hình thức thương mại nào đó (cùng với sự uyên bác đơn nhất), cho đến khi tôi chạm trán với giới học thuật. Nhà sinh học kiêm nhà kinh tế học theo chủ nghĩa tự do Matt Ridley làm tôi cảm thấy quả thật trong con người tôi là một nhà buôn của các thành bang Tây Nam Á thời cổ đại (thuộc Phoenicia, hay chính xác hơn, Canaan) là người trí thức.6

V. CẤU TẠO SÁCH

Khả năng cải thiện nghịch cảnh gồm bảy tập sách và một phần chú thích.

Tại sao lại là “tập sách”? Phản ứng đầu tiên của tiểu thuyết gia kiêm nhà viết tiểu luận Rolf Dobelli khi đọc các nguyên tắc đạo đức và các chương Phản đề mà tôi trao cho ông riêng từng phần, là cho rằng mỗi phần phải là một tập sách riêng và được xuất bản như một bài tiểu luận ngắn hay có độ dài trung bình. Ai đó chuyên nghề “tóm tắt” các quyển sách sẽ phải viết thành ba hay bốn bản tóm tắt riêng biệt. Nhưng tôi thấy chúng không phải là những bài tiểu luận riêng biệt chút nào; mỗi phần đều xem xét việc áp dụng ý tưởng chính, tìm hiểu sâu xa hơn hay đi vào những lĩnh vực khác nhau: sự tiến hóa, chính trị, cách tân trong kinh doanh, khám phá khoa học, kinh tế học, đạo đức học, nhận thức luận, và triết học tổng quát. Vì thế, tôi gọi đây là những tập sách chứ không phải các phần. Đối với tôi, sách không phải là những bài báo mở rộng, mà là kinh nghiệm đọc; và những học giả có xu hướng đọc để trích dẫn trong các bài viết của họ - chứ không phải đọc để tận hưởng, vì hiếu kỳ, hay chỉ đơn giản vì thích đọc - sẽ có xu hướng thất vọng khi họ không thể nhanh chóng lướt qua nội dung và tóm tắt nó trong một câu, liên hệ nó với một cuộc thảo luận hiện thời họ đang tham gia. Hơn nữa, tiểu luận hoàn toàn khác với sách giáo khoa - trộn lẫn giữa tư duy tự truyện và ngụ ngôn với những nghiên cứu triết học và khoa học. Tôi viết về xác suất với trọn vẹn tâm hồn mình và toàn bộ kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh chấp nhận rủi ro; tôi viết với những vết sẹo tôi mang trên mình, vì thế tư duy của tôi không thể tách rời với tự truyện. Hình thức tiểu luận cá nhân là lý tưởng cho đề tài về tình trạng không chắc chắn.

Trình tự là như sau.

Phần Phụ lục cho phần mở đầu này sẽ trình bày Bảng Bộ Ba, một bản đồ toàn diện về thế giới dọc theo phổ biểu thị khả năng cải thiện nghịch cảnh.

Tập I, Khả năng cải thiện nghịch cảnh: Dẫn nhập, trình bày thuộc tính mới và thảo luận sự tiến hóa và tổ chức của một hệ thống có khả năng cải thiện nghịch cảnh điển hình. Phần này cũng tìm hiểu sự đánh đổi giữa khả năng cải thiện nghịch cảnh của tập thể và tính mỏng manh của cá nhân.

Tập II, Tính hiện đại và sự chối bỏ khả năng cải thiện nghịch cảnh, mô tả những gì xảy ra khi ta lấy đi tính biến động của các hệ thống - chủ yếu là các hệ thống chính trị. Tập này thảo luận về sự phát minh ra cái gọi là các nhà nước tập quyền (so với các thành bang), cũng như ý tưởng về mối nguy hại gây ra bởi những người cố gắng giúp bạn và cuối cùng lại gây phương hại nặng nề cho bạn.

Tập III, Quan niệm phi dự đoán về thế giới, giới thiệu Tony Béo và phát hiện trực giác của anh về tính mỏng manh, trình bày tính phi đối xứng triệt để của sự vật bắt nguồn từ các tác phẩm của Seneca, nhà hiền triết kiêm người hành động La Mã.

Tập IV, Khả năng chọn lựa, công nghệ và sự sáng suốt của khả năng cải thiện nghịch cảnh, trình bày thuộc tính huyền bí của thế giới, qua đó có một tính chất phi đối xứng nào đó hàm chứa đằng sau các sự việc, chứ không phải “trí tuệ” của con người, và làm thế nào khả năng chọn lựa giúp ta đạt được trạng thái ngày nay. Điều này trái với cái mà tôi gọi là phương pháp Xô viết-Harvard. Và Tony Béo lập luận với Socrates về cách xử lý những gì ta không giải thích được.

Tập V, Phi tuyến tính và phi tuyến tính (nguyên văn), là về hòn đá luyện đan của các nhà giả kim và ngược lại: làm thế nào để biến chì thành vàng và biến vàng thành chì. Hai chương bao gồm phần giải thích toán học - đi sâu vào khía cạnh toán học của tập sách - vẽ đồ thị tính mỏng manh (hiệu ứng phi tuyến tính, hay cụ thể hơn, hiệu ứng lồi) và cho thấy lợi thế xuất phát từ những chiến lược lồi.

Tập VI, Phản đề (Via negativa), trình bày sự khôn ngoan và hiệu lực của phép phủ định hay phản đề so với phép khẳng định hay thuận đề (hành động tiết chế, bỏ bớt sẽ tốt hơn so với tăng cường, cộng thêm). Phần này giới thiệu khái niệm hiệu ứng lồi. Lẽ dĩ nhiên, ứng dụng đầu tiên là trong y học. Tôi chỉ xem xét y học từ góc độ quản lý rủi ro, nhận thức luận - và từ đó nó sẽ khác.

Tập VII, Khía cạnh đạo lý của tính mỏng manh và khả năng cải thiện nghịch cảnh, xem xét đạo lý trong việc chuyển giao tính mỏng manh, với một bên hưởng lợi và bên kia chịu thiệt, và vạch ra những vấn đề phát sinh từ tình trạng thiếu tinh thần dấn thân và chấp nhận rủi ro về phía mình trong cuộc chơi.

Quyển sách kết thúc bằng các đồ thị, chú thích và phụ lục toán học.

Sách được viết theo ba cấp độ.

Thứ nhất, là cấp độ văn học và triết học, với các câu chuyện ngụ ngôn và minh họa nhưng hạn chế đến mức tối thiểu các lập luận toán học nếu có, ngoại trừ trong tập V (hòn đá luyện đan), trình bày lập luận về mối quan hệ có dạng lồi. (Những độc giả đã cảm thấy sáng tỏ có thể bỏ qua tập V, vì các ý tưởng trong tập này cũng được đúc kết trong những tập khác.)

Thứ hai, phần phụ lục với các đồ thị và thảo luận chuyên sâu toán học hơn, nhưng không có thêm các đạo hàm phức tạp.

Thứ ba, nội dung hỗ trọ với các lập luận phức tạp hơn, tất cả đều được trình bày dưới hình thức các bài viết và chú thích toán học (đừng nhầm lẫn rằng các câu chuyện ngụ ngôn và ví dụ minh họa của tôi là sự chứng minh; nên nhớ, một bài tiểu luận cá nhân thì không phải là một tài liệu khoa học, nhưng một tài liệu khoa học là một tài liệu khoa học). Toàn bộ phần tư liệu hỗ trọ này được thu thập như một người bạn đồng hành kỹ thuật điện tử sẵn có miễn phí.

PHỤ LỤC: BẢNG BỘ BA, HAY BIỂU ĐỒ THẾ GIỚI VÀ SỰ VẬT DỌC THEO BA THUỘC TÍNH

Sau những nghiên cứu nhất định, bây giờ mục đích của chúng tôi là kết nối những yếu tố dường như tách biệt nhau vào một mạch chuyện duy nhất trong tư duy độc giả, như Trưởng lão Cato, Nietzsche, Thales xứ Miletus, uy lực của hệ thống thành bang, tính bền vững của nghề thủ

công, quá trình khám phá, tính phiến diện của trạng thái vô minh, các chứng khoán phái sinh, sự kháng thuốc kháng sinh, các hệ thống tản quyền từ dưới lên, nét hấp dẫn của cách giải thích duy lý thái quá của Socrates, làm thế nào dạy chim cách bay, tình yêu ám ảnh, sự tiến hóa Darwin, khái niệm toán học về bất đẳng thức Jensen, lý thuyết khả năng chọn lựa và quyền chọn, ý tưởng về các quy tắc kinh nghiệm của cha ông ta, các nghiên cứu của Joseph de Maistre và Edmund Burke, việc chống lại chủ nghĩa duy lý của Wittgenstein, những lý thuyết lừa dối của bộ môn kinh tế học, sự sửa chữa chắp vá và giật gấu vá vai, khủng bố càng trở nên trầm trọng bởi sự thiệt mạng của chính các thành viên khủng bố, sự biện hộ cho các xã hội thủ công, nhược điểm đạo đức của tầng lớp trung lưu, luyện tập (và dinh dưỡng) theo kiểu cổ, ý tưởng lợn lành chữa thành lợn què trong y học (iatrogenics), khái niệm vẻ vang về sự tôn nghiêm cao quý (megalopsychon), nỗi ám ảnh của tôi với ý tưởng về tính lồi (và nỗi sợ hãi của tôi về tính lõm), cuộc khủng hoảng kinh tế và ngân hàng cuối thập niên 2000, sự hiểu lầm về tình trạng dư thừa, điểm khác biệt giữa du khách và người đi phượt vv… Tất cả đều được đưa về một mạch tư duy duy nhất - và tôi chắc chắn là cũng đơn giản.

Làm thế nào? Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách xem thử sự vật, bất kỳ sự vật nào quan trọng, có thể được biểu thị hay được phân loại như thế nào trên ba bình diện, mà tôi gọi là Bảng Bộ Ba.

Trình bày sự việc trên Bảng Bộ Ba

Trong phần mở đầu, chúng ta đã thấy ý tưởng của quyển sách này nhấn mạnh vào tính mỏng manh chứ không phải việc dự đoán và tính toán các xác suất tương lai, và tính mỏng manh cũng như khả năng cải thiện nghịch cảnh được trình bày trên dãy phân bố với các mức độ khác nhau. Nhiệm vụ ở đây là xây dựng một biểu đồ về mức độ liên lụy. (Đây là cái gọi là “giải pháp thế giới thực”, cho dù chỉ có giới học thuật và những người hoạt động trong thế giới phi thực mới sử dụng cụm từ “giải pháp thế giới thực” thay vì chỉ cần nói đơn giản là “giải pháp”.)

Trong Bảng Bộ Ba, ta phân chia các sự vật vào ba cột dọc theo thứ bậc.

TÍNH MỎNG MANH MẠNH MẼ KHẢ NĂNG CẢI THIỆN NGHỊCH CẢNH

Nên nhớ rằng những gì mỏng manh thì mong muốn sự yên bình, khả năng cải thiện nghịch cảnh phát triển từ sự hỗn độn, và những đối tượng mạnh mẽ sẽ không phải bận tâm lo lắng quá nhiều. Độc giả hãy tìm hiểu Bảng Bộ Ba để thấy ý tưởng của quyển sách áp dụng trong các lĩnh vực. Nói đơn giản, trong một chủ đề cho trước, khi bạn thảo luận một vấn đề hay một chính sách, nhiệm vụ là tìm xem ta nên đặt vấn đề đó vào loại nào trong Bảng Bộ Ba, và phải làm gì để cải thiện tình trạng của nó. Ví dụ, nhà nước tập quyền ở xa về bên trái của Bảng Bộ Ba, rõ ràng thuộc loại mỏng manh, và hệ thống các thành bang tản quyền nằm ở bên phải, thuộc loại có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Thông qua đạt được các đặc điểm của loại có khả năng cải thiện nghịch cảnh, ta có thể xa rời dần tình trạng mỏng manh không mong muốn của nhà nước lớn. Hãy thử xem các sai lầm. Về bên trái, trong loại mỏng manh, các lỗi lầm tuy hiếm hoi nhưng to lớn mỗi khi xảy ra nên không thể cứu vãn; về phía bên phải, các lỗi lầm thì nhỏ bé và vô hại, thậm chí có thể cứu vãn và nhanh chóng khắc phục, và mang lại thông tin phong phú. Vì thế, một hệ thống sửa chữa, thử nghiệm và sửa sai sẽ có các thuộc tính của khả năng cải thiện nghịch cảnh. Nếu bạn muốn trở nên có khả năng cải thiện nghịch cảnh, bạn hãy đặt mình vào trạng thái “yêu lỗi lầm” - về phía bên phải của “ghét lỗi lầm” - bằng cách chấp nhận trải qua những lỗi lầm nhỏ và tác hại không đáng kể. Ta sẽ gọi quá trình và cách tiếp cận này là chiến lược “hai đầu” (barbell strategy).

Hay thử xem trong lĩnh vực y học. Tăng cường sử dụng thuốc là phía bên trái, tiết chế sử dụng thuốc là phía bên phải. Bớt thuốc hay bớt các dược liệu phi tự nhiên khác - như gluten, fructose, thuốc an thần, thuốc màu son móng tay, hay những chất khác - thông qua thử nghiệm và sửa sai thì sẽ mạnh hơn so với thêm thuốc vào, với những tác dụng phụ mà ta không biết, bất kể người ta đưa ra các nhận định về “bằng chứng” như thế nào.

Như độc giả có thể thấy, biểu đồ có thể tự do mở rộng cho các lĩnh vực và hoạt động của con người, như văn hóa, y khoa, sinh học, các hệ thống chính trị, công nghệ, tổ chức đô thị, đời sống kinh tế xã hội, và những vấn đề khác ít nhiều liên quan trực tiếp đến độc giả. Thậm chí tôi còn xoay xở để hòa nhập việc ra quyết định và những người đi phượt vào cùng một mạch ý tưởng. Vì thế, một phương pháp đơn giản sẽ đưa ta đến với triết lý chính trị cũng như việc ra quyết định y học dựa vào rủi ro.

Bảng Bộ Ba trong hành động

Lưu ý rằng tính mỏng manh và khả năng cải thiện nghịch cảnh ở đây là những thuộc tính tương đối chứ không hoàn toàn tuyệt đối: khoản mục ở bên phải Bảng Bộ Ba sẽ có khả năng cải thiện nghịch cảnh nhiều hơn so với khoản mục ở bên trái. Ví dụ, những người thợ thủ công có khả năng cải thiện nghịch cảnh hơn so với các tiểu thương, nhưng một ngôi sao nhạc rock sẽ có khả năng cải thiện nghịch cảnh hơn một người thợ thủ công. Nợ nần luôn luôn đưa bạn về bên trái của bảng, làm cho hệ thống kinh tế trở nên mỏng manh dễ đổ vỡ. Và sự vật có khả năng cải thiện nghịch cảnh đến một mức độ căng thẳng nhất định. Cơ thể bạn hưởng lợi từ một mức độ hành xác nhất định, nhưng chỉ đến một điểm nào đó mà thôi - cơ thể ấy không thể hưởng lợi nhiều khi bị ném từ trên đỉnh tháp Babel.

Sự bền vững dung hòa (golden robust): Ngoài ra, sự mạnh mẽ nằm ở cột giữa thì không tương đương với khoảng giữa dung hòa của Aristotle (“golden middle” [khoảng giữa dung hòa], thường bị gọi nhầm là “golden mean” [trị trung bình dung hòa]), ví dụ, tính rộng rãi nằm ở giữa sự hoang phí và keo kiệt - cũng có thể, nhưng không nhất thiết là như thế. Khả năng cải thiện nghịch cảnh nhìn chung là đáng mong đọi, nhưng không luôn luôn như vậy, vì có những trường hợp mà khả năng cải thiện nghịch cảnh sẽ rất tốn kém, vô cùng tốn kém. Hơn nữa, thật khó cho rằng sự bền vững luôn luôn đáng mong đợi - như Nietzsche từng nói, người ta có thể chết vì bất tử.

Cuối cùng, cho đến giờ, độc giả vật lộn với một thế giới mới có thể cảm thấy thắc mắc rất nhiều. Nếu khái niệm khả năng cải thiện nghịch cảnh tương đối mơ hồ và giới hạn trong sự biến động hay các nguồn gây thiệt hại cụ thể và trong một phạm vi liên lụy nào đó, thì khái niệm tính mỏng manh cũng hệt như thế. Khả năng cải thiện nghịch cảnh có ý nghĩa tương đối trong một bối cảnh nhất định. Một võ sĩ quyền anh có thể mạnh mẽ, tráng kiện về trạng thái thể chất, và sức mạnh của anh hoàn thiện từ trận đấu này sang trận đấu khác nhưng anh có thể dễ dàng trở nên mỏng manh về tinh thần và rơi lệ khi bị bạn gái bỏ roi. Ngược lại, bà ngoại của bạn có thể mỏng manh về thể chất nhưng có một tính cách mạnh mẽ. Tôi nhớ hình ảnh sống động sau đây từ cuộc nội chiến Libăng: một góa phụ già nua nhỏ nhắn (bà mặc đồ đen) trừng trị các đội viên dân quân phe đối lập vì đã làm vỡ kính cửa sổ nhà bà trong một trận chiến. Họ giương súng về phía bà, một viên đạn lẽ ra đã có thể kết liễu đời bà nhưng rõ ràng các đội viên dân quân đã trải qua một khoảnh khắc tồi tệ, bị đe dọa và sợ hãi trước người góa phụ. Bà là hình ảnh đối lập của người võ sĩ quyền anh: mỏng manh về thể chất nhưng không mỏng manh về tính cách.

Bây giờ đến Bảng Bộ Ba.

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.