QUY TẮC ĐƠN GIẢN ĐỂ TÌM TÍNH MỎNG MANH

Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18về Sự Khác Nhau Giữa Tảng Đá Lớn Và Một Nghìn Hòn Đá Nhỏ
Chương 18về Sự Khác Nhau Giữa Tảng Đá Lớn Và Một Nghìn Hòn Đá Nhỏ

❊ ❊ ❊

Làm thế nào để trừng phạt bằng một tảng đá - Tôi đã hạ cánh sớm
(một lần) - Tại sao các tầng gác mái luôn hữu ích - /ế lợi ích to lớn
của việc tránh sân bay Heathrow trừ khi bạn có một chiếc đàn ghi-ta
Image

HÌNH 8. Nhà cố vấn pháp luật gõ cửa với tư thế lõm (bên trái) và tư thế lồi (bên phải). Anh minh họa cho hai dạng phi tuyến tính; nếu “tuyến tính”, anh sẽ đứng thẳng. Chương này sẽ trình bày chi tiết hơn tính phi đối xứng của Seneca: làm thế nào trạng thái lồi tiêu biểu cho khả năng cải thiện nghịch cảnh dưới mọi hình thức, trong khi tư thế lõm tiêu biểu cho tính mỏng manh, và làm thế nào ta có thể dễ dàng tìm kiếm và thậm chí đo lường tính mỏng manh thông qua đánh giá mức độ ưỡn người (lồi) hay mức độ khom lưng (lõm) của viên quan cận thần.

Nhìn chiếc cốc sứ, tôi nhận thấy nó không thích sự biến động, biến thiên, hay hành động. Nó chỉ muốn bình yên và được để mặc một mình trong không khí tĩnh lặng của thư viện tại nhà. Nhận thức rằng tính mỏng manh đơn thuần là tính dễ bị tổn thương trước biến động của những sự việc ảnh hưởng đến nó là một niềm bối rối vô cùng của cá nhân tôi, vì chuyên môn của tôi là về mối liên hệ giữa sự biến động và phi tuyến tính; tôi biết, đó là một chuyên môn lạ kỳ. Vì thế, ta hãy bắt đầu với kết quả.

Trong nền văn học của các học giả Do Thái giáo (Midrash Tehillim), có lẽ bắt nguồn từ kho tàng truyền thuyết Cận Đông trước đó, có một câu chuyện như sau. Một vị vua, trong con giận dữ với hoàng tử, đã thề rằng ông sẽ nghiền nát chàng bằng một tảng đá lớn. Sau khi bình tĩnh lại, nhà vua nhận ra mình ở vào thế khó xử, vì vua mà không giữ đúng lòi thề thì luật pháp sẽ không nghiêm minh. Viên thái sư khôn ngoan có một giải pháp. Đập vỡ tảng đá thành những hòn đá rất nhỏ, rồi trút xuống vị hoàng tử tinh nghịch.

Sự khác nhau giữa một nghìn hòn đá nhỏ và một tảng đá lớn với cùng trọng lượng là hình ảnh minh họa hiệu nghiệm cho thấy tính mỏng manh xuất phát từ ảnh hưởng phi tuyến tính như thế nào. Phi tuyến tính là gì? Một lần nữa, “phi tuyến tính” có nghĩa là mối quan hệ phản ứng không đơn giản và không phải là một đường thẳng, vì thế nếu bạn tăng gấp đôi liều lượng, bạn sẽ nhận được kết quả ít hơn hay nhiều hơn gấp đôi; nếu tôi ném vào đầu ai một tảng đá nặng 10 kg, nó sẽ gây tác hại nhiều hơn so với hai lần tác hại gây ra bỏi hòn đá nặng 5 kg, và nhiều hơn so với năm lần tác hại của hòn đá nặng 2 kg, vv… Thật đơn giản, nếu bạn biểu diễn bằng đồ thị, với thiệt hại trên trục tung và kích thước tảng đá trên trục hoành, đường biểu diễn sẽ là đường cong chứ không phải đường thẳng. Đó là sự phân biệt tinh vi của tính phi đối xứng.

Sau đây là nhận định vô cùng đơn giản, giúp ta tìm ra tính mỏng manh:

Đối với những đối tượng mỏng manh, các cú sốc sẽ mang lại thiệt hại càng lúc càng nhiều hơn khi gia tăng cường độ (cho đến một mức nhất định)

Image

Hình 9. Vua và hoàng tử. Tác hại do kích thước hòn đá gây ra là một hàm số theo kích thước hòn đá (đến một mức độ nào đó). Tác hại do một đơn VỊ trọng lượng tăng thêm sẽ nhiều hơn so với tác hại của đơn VỊ trọng lượng trước đó. Bạn thấy tính phi tuyến (đường biểu diễn tác hại là đường cong hướng vào trong, với độ dốc ngày càng tăng).

Ví dụ được trình bày trong hình 9. Ta hãy khái quát hóa vấn đề. Chiếc ô tô của bạn có tính mỏng manh. Nếu bạn lái ô tô đâm vào tường với tốc độ 50 dặm một giờ sẽ gây ra thiệt hại nhiều hơn so với khi bạn lái nó đâm vào chính bức tường ấy 10 lần, mỗi lần với tốc độ 5 dặm một giờ. Thiệt hại ứng với tốc độ 50 dặm sẽ nhiều hơn so với mười lần thiệt hại của tốc độ 5 dặm.

Các ví dụ khác. Uống bảy chai rượu vang (Bordeaux) trong một ngày, rồi uống nước tinh khiết vắt chanh trong sáu ngày còn lại, sẽ gây thiệt hại nhiều hơn so với uống một chai vang mỗi ngày trong bảy ngày (chia đều thành hai ly cho mỗi bữa ăn). Mỗi một ly vang tăng thêm sẽ gây thiệt hại cho bạn nhiều hơn so với ly trước đó, vì cơ thể bạn mỏng manh trước sự hấp thu chất cồn. Thả một chiếc cốc sứ rơi xuống nền nhà từ độ cao 30 cm sẽ cho kết quả tệ hơn so với thả nó rơi 12 lần từ độ cao khoảng 2,5 cm.

Nhảy từ độ cao 10 mét sẽ gây hại nhiều hơn so với nhảy 10 lần từ độ cao 1 mét; trên thực tế, 10 mét xem ra là ngưỡng chết người của những cú rơi tự do.

Lưu ý, đây là việc mở rộng khái niệm phi đối xứng cơ bản mà chúng ta đã thấy cách đây hai chương, khi ta sử dụng tư duy của Seneca làm nguyên cớ để nói về tính phi tuyến. Phi đối xứng thì nhất thiết sẽ phi tuyến tính. Lọi bất cập hại: nói đơn giản ra, gia tăng cường độ sẽ gây ra thiệt hại nhiều hơn so với lợi ích đạt được nhờ giảm cường độ tương ứng.

Tôi sẽ giải thích lập luận chính: Tại sao đối tượng mỏng manh nói chung có mối quan hệ phi tuyến tính và đường biểu diễn không phải là đường thẳng? Đó là cảm nhận trực giác của tôi khi nhìn chiếc cốc sứ. Câu trả lời liên quan đến cơ cấu xác suất sống sót: để một đối tượng bình yên vô sự (nghĩa là đối tượng sống sót), thì một tảng đá to ắt phải gây hại nhiều hơn so với một nghìn hòn đá nhỏ, nghĩa là, một biến cố lớn bất thường duy nhất sẽ gây hại nhiều hơn so với ảnh hưởng tích lũy của nhiều cú sốc nhỏ.

Đối với con người, nếu như việc nhảy một milimét (tác động của một lực nhỏ) gây ra một tác hại tuyến tính chính xác so với tác hại của việc nhảy xuống đất từ độ cao 10 mét chẳng hạn, thì người ta hẳn đã chết mất do sự cộng dồn những tác hại nhỏ. Thật ra, một phép tính đơn giản cho thấy rằng, người ta sẽ chết trong vòng vài giờ do chạm vào các vật hay bước đi trong phòng khách, ứng với vô số các yếu tố gây căng thẳng và tổng tác hại của chúng gộp lại. Nếu như tính mỏng manh xuất phát từ tuyến tính thì ta sẽ nhận ra ngay lập tức, vì thế ta bác bỏ nó, vì nếu thế thì đối tượng đã bị đổ vỡ mất rồi. Do đó ta suy ra: đối tượng mỏng manh là đối tượng không bị đổ vỡ, chúng phụ thuộc vào hiệu ứng phi tuyến tính và các biến cố cực độ hiếm hoi, vì tác động của quy mô lớn (hay tốc độ cao) thì hiếm hoi hơn tác động của quy mô nhỏ (và tốc độ thấp).

Tôi sẽ trình bày lại ý tưởng này trong mối quan hệ với các biến cố Thiên Nga Đen và cực độ. Các biến cố bình thường vốn xảy ra nhiều hơn so với các biến cố cực độ. Trên các thị trường tài chính, những biến cố có độ lớn 0,1 phần trăm ít nhất cũng xảy ra nhiều hơn 10.000 lần so với những biến cố có độ lớn 10 phần trăm. Trên trái đất mỗi ngày có gần 8.000 vụ động đất cực nhỏ, nghĩa là dưới 2 độ Richter, hay khoảng ba triệu vụ một năm. Những vụ động đất này vô hại hoàn toàn, và với ba triệu vụ một năm, bạn cần phải có sự vô hại đó. Nhưng những trận động đất 6 độ Richter hay cao hơn sẽ được báo chí đưa tin. Hãy xem những vật như chiếc cốc sứ chẳng hạn. Chúng nhận được nhiều cú va chạm, một triệu lượt va chạm với độ lớn chỉ chừng 1 phần trăm của nửa kilôgam trên diện tích cỡ 2,5 cm2 (lấy một số đo tùy ý), và hiếm khi nhận được những cú va chạm cỡ 45 kilôgam trên cùng diện tích đó chẳng hạn. Vì thế, ta nhất thiết phải bình yên vô sự trước ảnh hưởng lũy kế của những sai lệch nhỏ, hay những cú sốc rất nhỏ, ngụ ý rằng ảnh hưởng của những cú sốc này nhỏ bé một cách không cân xứng so với những cú sốc lớn (nghĩa là nhỏ một cách phi tuyến tính).

Tôi sẽ trình bày lại quy tắc trên đây:

Đối với những đối tượng mỏng manh, ảnh hưởng lũy kế’ của những cú sốc nhỏ thì nhỏ hơn so với ảnh hưởng của một cú sốc lớn duy nhất tương đương.

Điều này dẫn đến nguyên tắc: đối tượng mỏng manh là đối tượng bị tổn thương bởi các biến cố cực độ nhiều hơn nhiều so với một loạt những biến cố trung gian. Chỉ có thế, và không có cách nào khác để có tính mỏng manh.

Bây giờ ta hãy đảo ngược lập luận này và xem xét khả năng cải thiện nghịch cảnh. Khả năng cải thiện nghịch cảnh cũng đặt nền tảng trên những phản ứng phi tuyến tính.

Đối với những đối tượng có khả năng cải thiện nghịch cảnh, các cú sốc mang lại nhiều lợi ích hơn (tương đương với việc mang lại ít thiệt hại hơn) khi cường độ của chúng tăng lên (đến một mức nào đó).

Ta biết một trường hợp đơn giản thông qua kinh nghiệm thực tế của việc nâng tạ. Trong câu chuyện bắt chước vệ sĩ ở chương 2, tôi chỉ tập trung vào những quả tạ nặng nhất mà tôi có thể nâng được. Một lần nâng quả tạ 45kg sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn so với hai lần nhấc quả tạ 22,5kg, và chắc chắn có ích hơn nhiều so với 100 lần nhấc quả tạ 0,45kg. Lợi ích ở đây là xét trên phương diện tập tạ: làm cơ thể cường tráng, nổi cơ bắp, và bề ngoài như một kẻ chuyên đánh nhau trong quán rượu chứ không phải chỉ kháng cự và khả năng chạy maratông. Quả tạ 22,5kg thứ hai đóng vai trò to lớn hơn, vì thế nên nó có hiệu ứng phi tuyến (nghĩa là hiệu ứng lồi, như ta sẽ thấy). Mỗi một đơn vị trọng lượng tăng thêm sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn, cho đến khi ta đạt đến giới hạn, mà những người nâng tạ gọi là “thất bại”.87

Bây giờ, ta hãy lưu ý đến phạm vi tác động của đường cong đơn giản này: nó tác động đến gần như mọi thứ ta nhìn thấy, ngay cả sai lầm y học, quy mô chính phủ, hoạt động phát minh đổi mới - bất luận thứ gì liên quan đến tình trạng không chắc chắn. Và nó giúp ta đặt ra một “thước đo độ sâu” của những phát biểu về quy mô và sự tập trung trong tập II.

Khi nào cười và khi nào mếu?

Tính phi tuyến gồm hai loại: lõm (cong hướng vào trong), như trong trường hợp của nhà vua và tảng đá, hay ngược lại, lồi (cong hướng ra ngoài). Và lẽ dĩ nhiên, cũng có những trường hợp hỗn hợp, có đoạn lồi có đoạn lõm.

Hình 10 và 11 trình bày đơn giản hóa tính phi tuyến: lồi về phía dưới và lõm về phía dưới lần lượt tiêu biểu cho nụ cười và sự mếu máo.

Image

HÌNH 10. Hai loại phi tuyến tính, lồi về phía dưới (bên trái) và lõm về phía dưới (bên phải).

Image

HÌNH 11. Nụ cười! Cách hay hơn để hiểu về lồi và lõm. Đường cong lồi về phía dưới giống như một nụ cười; đường cong lõm về phía dưới làm thành một khuôn mặt buồn. Lồi (bên trái) là khả năng cải thiện nghịch cảnh, lõm (bên phải) là mỏng manh (lõm còn được gọi là hiệu ứng lồi âm).

Để đơn giản hóa từ vựng, tôi sử dụng thuật ngữ “hiệu ứng lồi” cho cả hai trường họp: “hiệu ứng lồi dương” và “hiệu ứng lồi âm”.

Tại sao tính phi đối xứng được biểu thị bằng đường cong lồi hay đường cong lõm? Nói đơn giản, nếu ứng với một biến thiên cho trước, bạn có kết quả tích cực nhiều hơn kết quả tiêu cực và bạn vẽ đường biểu diễn thì nó sẽ có dạng lồi; ngược lại nó sẽ có dạng lõm. Hình 12 trình bày tính phi đối xứng thể hiện bằng tính phi tuyến. Hình này cũng cho thấy tác dụng diệu kỳ của toán học, cho phép ta xử lý với món súp thịt bò, tinh thần kinh doanh, và rủi ro tài chính theo cùng một mạch như nhau: đồ thị lồi sẽ biến thành lõm khi ta đặt một dấu trừ đàng trước nó. Ví dụ, Tony Béo có kết quả kinh doanh trái ngược hoàn toàn với một ngân hàng hay một tổ chức tài chính trong một giao dịch: anh vớ bở bấT kỳ khi nào họ lỗ đậm, và ngược lại. Suy cho cùng, lợi nhuận và thua lỗ là những hình ảnh phản chiếu qua gương của nhau, chỉ có điều, cái này là dấu âm của cái kia.

Hình 12 cũng trình bày lý do khiến đường cong lồi ưa thích biến động. Nếu những khi có biến động, bạn được lợi nhiều hơn so với hại, thì bạn sẽ muốn có nhiều biến động.

Image

HÌNH 12. Lợi nhiều hơn hại, hay hại nhiều hơn lợi. Giả sử bạn bắt đầu ở điểm “Bạn ở đây”. Trong trường hợp đầu, nếu biến số x tăng, nghĩa là di chuyển về phía bên phải của trục hoành, thì lợi ích (trục tung) sẽ lớn hơn so với thiệt hại phát sinh khi di chuyển về bên trái, nghĩa là khi biến số x giảm một lượng tương ứng. Đồ thi này cho thấy tính phi đối xứng tích cực biến thành đường cong lồi về phía dưới (đồ thi thứ nhất); và tính phi đối xứng tiêu cực biến thành đường cong lõm về phía dưới (đồ thi thứ hai). Nhắc lại, khi biến số thay đổi với những lượng bằng nhau về cả hai phía, đường cong lồi sẽ được lợi nhiều hơn so với hại, và đường cong lõm sẽ hại nhiều hơn so với lợi.

Tại sao đường cong lõm bị tổn thương bởi các biến cố Thiên Nga Đen?

Giờ là lúc trình bày cái ý tưởng đã ám ảnh suốt đời tôi, mà tôi chưa bao giờ nhận ra nó có thể thể hiện rõ ràng đến thế khi trình bày dưới dạng đồ thị. Hình 13 minh họa ảnh hưởng của tác hại và biến cố bất ngờ. Sự gánh chịu rủi ro càng lõm, thiệt hại từ biến cố bất ngờ càng nhiều, và không cân xứng. Vì thế, những sai lệch rất lón sẽ có tác dụng ngày càng lón hơn một cách không cân xứng.

Image

HÌNH 13. Hai diễn biến của sự gánh chiu rủi ro biến cố, một tuyến tính và một phi tuyến tính; trong hình thứ nhất là hiệu ứng lồi âm (nghĩa là lõm về phía dưới); trong hình thứ hai là hiệu ứng lồi dương. Một biến cố bất ngờ sẽ tác động đến đường phi tuyến tính một cách mất cân xứng hơn. Biến cố càng lớn, chênh lệch càng lớn.

Tiếp theo, ta sẽ áp dụng kỹ thuật rất đơn giản này để đi tìm tính mỏng manh và vị trí trong Bảng Bộ Ba.

GIAO THÔNG Ở NEW YORK

Ta hãy áp dụng “hiệu ứng lồi” vào những sự việc quanh ta. Giao thông có tính phi tuyến. Khi tôi đáp chuyến bay ban ngày từ New York đến Luân Đôn, tôi rời khỏi nhà vào khoảng 5 giờ sáng (vâng, tôi biết), tôi mất khoảng 26 phút để đến ga đón khách hãng hàng không British Air ở sân bay JFK. Vào lúc đó, New York vô cùng vắng vẻ, cứ như không phải là New York. Khi tôi rời nhà vào lúc 6 giờ để đáp chuyến bay muộn hơn, gần như không có gì khác biệt về thời gian đến sân bay, cho dù giao thông có đông đúc hơn một chút. Ta có thể đưa thêm nhiều xe ô tô vào lưu thông trên đường hơn, mà không có ảnh hưởng gì hoặc ảnh hưởng rất ít đến thời gian giao thông phải mất.

Thế rồi, thật lạ kỳ; tiếp tục tăng số lượng ô tô thêm 10 phần trăm và ta thấy thời gian giao thông tăng vọt thêm 50 phần trăm (tôi dùng những con số xấp xỉ). Ta hãy xem xét hiệu ứng lồi: số lượng ô tô bình quân trên đường chẳng quan trọng gì đối với vận tốc giao thông. Nếu bạn có 90.000 chiếc ô tô trong một giờ, rồi 110.000 chiếc ô tô trong một giờ khác, giao thông sẽ chậm hơn nhiều so với khi bạn có 100.000 ô tô trong hai giờ. Lưu ý rằng thời gian giao thông là tiêu cực, nên tôi xem đó là chi phí, và tăng thời gian giao thông là một điều xấu.

Vì thế, chi phí đi lại có tính mỏng manh trước sự biến thiên của số lượng ô tô trên đường; nó không phụ thuộc nhiều vào giá trị bình quân. Mỗi chiếc ô tô tăng thêm sẽ làm tăng thời gian đi lại nhiều hơn so với chiếc ô tô trước đó.

Đây là một gợi ý cho vấn đề trọng tâm của thế giới ngày nay, sự hiểu lầm về phản ứng phi tuyến tính của những người cố gắng tạo ra “hiệu quả” và “tối ưu hóa” hệ thống. Ví dụ, các sân bay và đường sắt châu Âu được mở rộng, dường như hiệu quả quá mức. Chúng hoạt động gần hết công suất tối đa, gần như không có tình trạng thừa công suất hay công suất không sử dụng, giúp đạt được chi phí phải chăng; nhưng sự gia tăng tắc nghẽn đôi chút, ví dụ như số lượng máy bay trên bầu trời tăng thêm 5 phần trăm do ùn tắc, có thể dẫn đến hỗn loạn ở các sân bay và gây ra cảnh tượng khách lữ hành bất hạnh cắm trại trên sàn, với thú khuây khỏa duy nhất là một anh chàng râu ria nào đó ôm đàn ghita chơi những bài dân ca Pháp.

Chúng ta có thể thấy ứng dụng của luận điểm này trong lĩnh vực kinh tế: các ngân hàng trung ương có thể in tiền; họ tiếp tục in mà gần như không có ảnh hưởng gì (và khẳng định sự “an toàn” của biện pháp này), rồi “bất thình lình” việc in tiền làm tăng vọt lạm phát. Nhiều kết quả kinh tế bị triệt tiêu hoàn toàn bởi hiệu ứng lồi, và tin tốt lành là chúng ta biết lý do tại sao. Than ôi, các công cụ (và văn hóa) của các nhà hoạch định chính sách là dựa dẫm thái quá vào mối quan hệ tuyến tính, mà bỏ qua những hiệu ứng ngầm ẩn. Họ gọi đó là “xấp xỉ gần đúng”. Khi bạn nghe nói về hiệu ứng “bậc hai”, điều đó có nghĩa là mối quan hệ có dạng lồi dẫn đến sự thất bại của phép xấp xỉ gần đúng, và tiêu biểu cho câu chuyện thực tế.

Hình 14 trình bày đồ thị (giả định) về giao thông phụ thuộc vào số lượng ô tô trên đường. Lưu ý dạng đường cong của đồ thị. Nó lõm về phía dưới.

Image

HÌNH 14. Đồ thị cho thấy, vượt quá một điểm nhất đinh, thời gian giao thông (và chi phí giao thông) của tác giả từ nhà đến sân bay JFK sẽ phụ thuộc một cách phi tuyến tính vào số lượng ô tô trên đường. Chúng ta thấy đường biểu thị chi phí giao thông lõm về phía dưới; đây không phải là điều tốt.

Ai đó gọi điện cho các quan chúc thành phố New York

Ta có một ví dụ minh họa hiệu ứng lồi ảnh hưởng thế nào đến hệ thống tối ưu hóa quá đáng, cùng với việc dự báo sai các biến thiên lớn; đó là câu chuyện đơn giản về các quan chức thành phố New York đã đánh giá quá thấp ảnh hưởng của việc chặn một tuyến đường đối với tình trạng tắc nghẽn giao thông. Sai lầm này có tính chất tổng quát đáng kể: một điều chỉnh nhỏ với những hệ lụy nhân rộng trong một hệ thống cực kỳ dàn trải, vì thế cũng có tính mỏng manh.

Vào tối thứ bảy một ngày tháng 11 năm 2011, tôi lái xe đến thành phố New York để gặp và cùng ăn tối với triết học gia Paul Boghossian ở Village; chặng đường này thường mất 40 phút. Trớ trêu thay, tôi gặp anh để trao đổi về quyển sách của mình, quyển sách này, và cụ thể hơn, về ý tưởng của tôi đối với sự dư thừa của các hệ thống. Tôi vốn cổ xúy cho việc bom thêm tính dư thừa vào đòi sống con người và khoe khoang với anh cũng như những người khác rằng tôi chưa bao giờ bị muộn, thậm chí một phút (gần như thế). Hãy nhớ lại chương 2, tôi kêu gọi dự trữ thừa thãi như một quan điểm tích cực. Kỷ luật cá nhân buộc tôi phải có sự dự phòng, và tôi mang theo một quyển sổ ghi chép để có thể viết hẳn một quyển sách về những câu cách ngôn, ấy là còn chưa tính đến những chuyến tham quan la cà trong các hiệu sách. Hoặc tôi có thể ngồi trong một quán cà phê và đọc những bức thư điện tử đáng ghét. Lẽ dĩ nhiên, không có chút căng thẳng nào, vì tôi không sợ bị muộn. Nhưng lợi ích lớn nhất của kỷ luật cá nhân này là tôi không nhồi nhét quá nhiều cuộc hẹn trong một ngày (thông thường, các cuộc hẹn không bổ ích mà cũng chẳng dễ chịu). Thật ra, theo một kỷ luật cá nhân khác, tôi không có những cuộc hẹn (ngoài các bài giảng) trong cùng một buổi sáng, vì một ngày trong lịch hẹn khiến tôi có cảm giác hệt như tù nhân, nhưng đó lại là chuyện khác.

Khi tôi đi đến Midtown vào khoảng 6 giờ thì giao thông dừng hẳn. Dừng hoàn toàn. Cho đến 8 giờ, tôi gần như chỉ di chuyển thêm được vài tòa nhà. Vì thế, ngay cả “sự dự phòng thừa thãi” của tôi cũng không đủ để tôi duy trì quyết tâm chưa bao giờ trễ hẹn. Rồi sau khi tìm cách vận hành cái thiết bị chối tai gọi là radio, tôi bắt đầu hiểu chuyện gì đang xảy ra: thành phố New York cho phép một hãng phim sử dụng chiếc cầu trên phố 59, chặn một phần cầu, cho rằng sẽ không gây ra vấn đề gì vào một ngày thứ bảy. Và vấn đề giao thông nho nhỏ đó biến thành một tình trạng cực kỳ lộn xộn, do hiệu ứng theo cấp số nhân. Những gì họ tưởng cùng lắm chỉ là chậm trễ vài phút, hóa ra tăng lên theo cấp số nhân về độ lớn; vài phút trở thành vài giờ. Nói đơn giản, chính quyền thành phố New York không am hiểu về tính phi tuyến.

Đây là vấn đề trọng tâm của tính hiệu quả: các loại sai lầm này nhân lên, phình to, với tác động chỉ đi theo một hướng - hướng tiêu cực.

KHI THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN THAY ĐỔI VỀ CHẤT

Một cách trực giác khác để xem xét mối quan hệ có dạng lồi: hãy xem xét thuộc tính gia tăng quy mô. Nếu bạn nhân đôi mức độ liên lụy với một biến cố rủi ro nào đó, liệu thiệt hại nó gây ra có nhiều hơn gấp đôi hay không? Nếu có, đó là tình huống mỏng manh. Nếu không, bạn ở vào trạng thái mạnh mẽ.

Nhận định này đã được P. W. Anderson88 trình bày khéo léo trong tựa đề bài báo “More is Different” (“Thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất”). Các nhà khoa học nghiên cứu về tính phức hợp gọi đây là những “thuộc tính mới nổi” để diễn tả kết quả phi tuyến tính khi ta cộng thêm các đơn vị thành phần, vì tổng sẽ trở nên khác biệt so với các thành phần ban đầu. Cứ xem thử sự khác biệt giữa một tảng đá lớn và nhiều hòn đá nhỏ: những hòn đá nhỏ cộng lại có cùng trọng lượng và hình dáng chung như nhau, nhưng thuộc tính thì khác. Tương tự, ta thấy trong chương 5 rằng thành phố không phải là một ngôi làng lớn; công ty không phải là một hoạt động kinh doanh nhỏ trở nên lớn hơn. Ta cũng thấy tính ngẫu nhiên thay đổi bản chất từ Ngẫu nhiên bình thường sang Ngẫu nhiên cực độ như thế nào, nhà nước không phải là một ngôi làng lớn, và nhiều sự thay đổi xuất phát từ quy mô và vận tốc. Tất cả những ví dụ này thể hiện tính phi tuyến đang vận hành.

Một “bữa ăn cân bằng”

Ta có một ví dụ khác về việc bỏ sót phương diện ngầm ẩn, tức tính biến thiên: ta thường nghe giới chức y tế Hoa Kỳ theo tinh thần Xô viết- Harvard khuyên nên ăn những lượng chất dinh dưỡng mỗi ngày (tổng calori, protein, vitamin vv…), theo số lượng khuyến cáo cho từng loại. Mỗi loại thực phẩm đều có “định mức sử dụng hàng ngày”. Ngoài việc thiếu thực nghiệm chặt chẽ khi đưa ra những khuyến cáo này (ta sẽ thảo luận nhiều hơn trong chương về y học), còn có sự tùy tiện khác: sự khăng khăng rao giảng về tính điều độ. Những người khuyến cáo về chính sách dinh dưỡng không hiểu rằng, việc hấp thu “điều độ” calori và chất dinh dưỡng suốt ngày, với thành phần “cân bằng” và đều đặn như máy đếm, không nhất thiết sẽ có cùng tác dụng như việc tiêu thụ chúng một cách không đều và ngẫu nhiên, ví dụ như thông qua hấp thu nhiều protein một ngày, ăn chay hoàn toàn vào một ngày khác, chè chén tiệc tùng vào một ngày khác nữa vv…

Đó là sự khước từ liệu pháp Hormesis, yếu tố căng thẳng nhẹ do sự thiếu thốn đôi khi xảy ra sẽ giúp tăng cường sức khỏe. Trong một thời gian dài, không ai thử tìm hiểu xem liệu sự biến thiên trong phân phối - hiệu ứng bậc hai - có quan trọng như các thành phần dinh dưỡng dài hạn hay không. Bây giờ, hoạt động nghiên cứu đang bắt đầu hướng tới một nhận định vô cùng đơn giản. Hóa ra, tác dụng của sự biến thiên nguồn cung thực phẩm và tính phi tuyến trong phản ứng sinh lý học, có thể do sự thiếu thốn, là một yếu tố gây căng thẳng, giúp kích hoạt những cơ chế thuận lợi cho sự hấp thu dinh dưỡng sau đó (hay điều gì đó tương tự). Và mãi đến khi có một vài nghiên cứu thực nghiệm gần đây (và không liên quan với nhau), hiệu ứng lồi này đã bị khoa học bỏ sót hoàn toàn; nhưng không bị bỏ sót trong tôn giáo, các truyền thống và suy nghiệm của người xưa. Và nếu các nhà khoa học có lĩnh hội được ít nhiều hiệu ứng lồi này (như ta đã nói về việc nhận thức giới hạn trong một lĩnh vực nào đó, các bác sĩ cũng như những người nâng tạ vẫn am hiểu về tính phi tuyến của phản ứng cơ thể trước liều lượng), quan niệm về hiệu ứng lồi xem ra vẫn hoàn toàn thiếu sót trong ngôn ngữ và các phương pháp của họ.

Chạy, chủ đừng đi

Một ví dụ minh họa khác, lần này là tình huống hưởng lợi từ sự biến thiên, hiệu ứng lồi tích cực. Hai anh em Castor và Polydeuces cần đi một dặm đường. Castor đi bộ một cách khoan thai nhàn nhã và đến nơi sau 20 phút. Polydeuces mất hết 14 phút bên chiếc điện thoại cầm tay để cập nhật chuyện tán gẫu, rồi chạy một dặm đường trong 6 phút, đến nơi cùng lúc với Castor.

Như vậy, cả hai anh em đều đi qua cùng một đoạn đường, sau một khoảng thời gian như nhau, nghĩa là giá trị bình quân như nhau. Castor đi bộ suốt đoạn đường, có thể cho là sẽ không được hưởng lợi về sức khỏe và sức mạnh như Polydeuces, người chạy nước rút. Mối quan hệ giữa lợi ích về sức khỏe và tốc độ có dạng lồi (lẽ dĩ nhiên cho đến một mức nào đó).

Ý tưởng của hoạt động rèn luyện chính là nhằm mục đích hưởng lợi từ khả năng cải thiện nghịch cảnh trước các yếu tố căng thẳng; như ta đã thấy, tất cả các kiểu rèn luyện chỉ là việc khai thác hiệu ứng lồi.

NHỎ CÓ THỂ XẤU, NHƯNG CHẮC CHẮN ĐỠ MỎNG MANH HƠN

Ta thường nghe “nhỏ là đẹp”. Nó thật hiệu nghiệm và hấp dẫn; nhiều ý tưởng đã được đưa ra để xác nhận câu nói đó, gần như tất cả đều có tính giai thoại, lãng mạn hay hiện sinh. Ta hãy trình bày khái niệm này trong khuôn khổ cách tiếp cận cho rằng tính mỏng manh tương đương với lõm, tương đương với không thích ngẫu nhiên, và xem thử ta đo lường hiệu ứng này như thế nào.

Làm thế nào để không rơi vào tình thế bắt buộc

Tình thế bắt buộc xảy ra khi người ta không có chọn lựa nào khác ngoài một việc phải làm, và làm ngay lập tức, bất kể chi phí bao nhiêu.

Một nửa của bạn sắp bảo vệ luận án tiến sĩ về lịch sử khiêu vũ của Đức và bạn cần bay đến Marburg để có mặt vào thời điểm quan trọng đó, gặp cha mẹ nàng, và chính thức đính hôn. Bạn sống ở New York và xoay xở mua được một chiếc vé hạng thường đến Frankfurt với giá 400 đôla và bạn thích thú vì nó rẻ thế. Nhưng chuyến bay phải đi qua Luân Đôn. Khi đến sân bay Kennedy của New York, bạn được đại diện hãng hàng không thông báo rằng chuyến bay đi Luân Đôn bị hoãn vì nhiều chuyến bay bị dồn lại do vấn đề thời tiết, đại loại thế. Có điều gì đó về tính mỏng manh cửa sân bay Heathrow. Bạn có thể mua vé vào phút cuối để đến Frankfurt, nhưng bây giờ bạn phải trả 4.000 đôla, gần gấp 10 lần mức giá, và phải vội vã, vì không còn nhiều chỗ nữa. Bạn cáu kỉnh, quát tháo, nguyền rủa, trách móc chính mình, nền giáo dục của mình, và cha mẹ, người đã dạy bạn tiết kiệm, rồi bạn móc túi trả 4.000 đôla. Đó là tình thế bắt buộc.

Tình thế bắt buộc càng trầm trọng hơn theo quy mô. Khi quy mô lớn, nó trở nên dễ bị tổn thương trước những sai lầm, nhất là trong những tình thế bắt buộc lớn khủng khiếp. Sự bắt buộc trở nên tốn kém một cách phi tuyến tính khi độ lớn gia tăng.

Để thấy độ lớn trở nên cản trở đến mức nào, ta hãy xem thử lý do khiến ta không nên sở hữu một con voi làm thú cưng, bất kể tình cảm dành cho con vật ra sao. Ví dụ, bạn có thể mua một con voi bằng một phần ngân quỹ gia đình sau khi bạn được thăng chức và con vật được đưa đến sân sau nhà bạn. Nếu bị thiếu nước - bạn ở vào tình thế bắt buộc, vì không có chọn lựa nào khác ngoài việc miễn cưỡng trả tiền mua nước - bạn sẽ phải trả giá cao lũy tiến ứng với mỗi mét khối nước tăng thêm. Đó là tính mỏng manh - một hiệu ứng lồi âm xuất phát từ việc con thú cưng quá lớn. Chi phí không lường trước tính theo tỷ lệ phần trăm trong tổng chi phí sẽ rất lớn. Sở hữu một con mèo hay chó sẽ không mang lại những chi phí phát sinh bất ngờ cao đến thế trong những tình thế bắt buộc - tỷ lệ phần trăm chi phí phát sinh trong tổng chi phí sẽ rất thấp.

Bất chấp những gì ta học được trong các trường kinh doanh liên quan đến “lợi thế kinh tế theo quy mô”, quy mô sẽ gây thiệt hại cho bạn vào những lúc căng thẳng; quy mô to lớn không còn là một ý hay vào những thời điểm khó khăn. Một số nhà kinh tế tự hỏi tại sao các vụ sáp nhập công ty xem ra không chấm dứt. Đon vị kết hợp trở nên lớn hơn, vì thế cũng mạnh hơn, và theo lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô, nó sẽ “hiệu quả” hơn. Nhưng số liệu cho thấy, trong điều kiện tốt nhất cũng chẳng có lợi ích gì từ sự gia tăng quy mô này - đó là sự thật vào năm 1978, khi Richard Roll89 gọi đây là “giả thuyết ngông cuồng” vì ông nhận thấy sự phi lý của những công ty tham gia vào các vụ sáp nhập ứng với thành tích quá khứ yếu kém của hoạt động này. Số liệu gần đây, hơn ba thập niên sau, vẫn xác nhận thành tích yếu kém của các vụ sáp nhập và tính ngông cuồng của những nhà quản lý dường như không buồn chú ý tới khía cạnh kinh tế yếu kém của giao dịch. Xem ra có điều gì đó liên quan đến quy mô có hại cho các công ty.

Cũng như với ý tưởng nuôi một con voi làm thú cưng, tình thế bắt buộc sẽ trở nên tốn kém hơn nhiều (so với quy mô) đối với các công ty lớn. Lợi ích từ quy mô thì dễ nhận thấy nhưng rủi ro thì ẩn giấu và một số rủi ro ngầm ẩn xem ra làm cho các công ty trở nên mỏng manh dễ đổ vỡ.

Những con thú lớn như voi, trăn Mỹ nhiệt đới, ma-mút và các động vật to lớn khác có xu hướng nhanh chóng bị tuyệt chủng. Ngoài tình thế bắt buộc khi nguồn lực bị thắt chặt, còn có những cân nhắc về cơ học. Động vật lớn mỏng manh trước các cú sốc hơn so với động vật nhỏ; một lần nữa, nhắc lại tảng đá lớn và nghìn hòn đá nhỏ. Jared Diamond90 luôn luôn đi trước người khác, ông nhận ra tính dễ bị tổn thương này trong một bài báo tựa đề “Why Cats Have Nine Lives” (“Tại sao mèo có 9 mạng”). Nếu bạn ném một con mèo hay con chuột từ một độ cao gấp nhiều lần chiều cao của chúng, chúng vẫn sống. Trái lại, voi sẽ dễ dàng gãy chân khi bị ném như thế.

Kerviel và Tiểu-Kerviel

Ta hãy xem một tình huống nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính thông thường, trong đó những người tham gia rất giỏi mắc sai lầm. Vào ngày thứ hai 21 tháng 1 năm 2008, ngân hàng Paris Societé Générale bán ào ạt trên thị trường gần 70 tỉ đôla trị giá cổ phiếu, một giá trị rất lớn trong một giao dịch “bán nóng” duy nhất. Thị trường không tích cực lắm (gọi là “thị trường mỏng”), vì đó là ngày nghỉ lễ kỷ niệm ngày sinh của Martin Luther King ở Hoa Kỳ, và các thị trường trên thế giới giảm mạnh, gần 10 phần trăm, khiến ngân hàng tổn thất gần 6 tỉ đôla chỉ trong một giao dịch bán nóng. Tình thế bắt buộc ở đây là họ không thể chờ và họ không có phương án nào khác ngoài việc biến doanh vụ thành một vụ bán nóng. Vì vào dịp cuối tuần, họ phát hiện ra một vụ lừa đảo. Jerome Kerviel, một nhân viên hậu kiểm man trá, đã chơi những khoản tiền khổng lồ trên thị trường và che giấu mức liên lụy rủi ro này trong hệ thống máy tính chính. Họ không có chọn lựa nào khác ngoài việc bán ngay lập tức những cổ phiếu mà họ vốn không biết mình sở hữu.

Bây giờ, để tìm hiểu ảnh hưởng của tính mỏng manh theo quy mô, ta hãy xem hình 15 trình bày thua lỗ như một hàm số theo lượng bán.

Image

HÌNH 15. Nhỏ có thể đẹp mà cũng có thể không, nhưng chắc chắn sẽ đỡ mỏng manh hơn. Đồ th| trình bày chi phí giao dịch thành hàm số theo độ lớn của sai lầm: chi phí giao dịch tăng lên một cách phi tuyến tính, và chúng ta có thể thấy tính mỏng manh vô cùng to lớn.

Một vụ bán nóng 70 tỉ đôla dẫn đến thua lỗ 6 tỉ đôla. Nhung một vụ bán nóng có độ lớn một phần muời, 7 tỉ đô la, sẽ không bị thua lỗ đồng nào, vì thị truờng sẽ hấp thu số luợng này mà không bị hoảng loạn, thậm chí có khi còn chẳng buồn luu ý. Nhu vậy, điều này cho ta thấy rằng nếu thay vì là một ngân hàng rất lớn, với quí ông Kerviel là một nhà giao dịch gian xảo, bạn có 10 ngân hàng nhỏ hơn, mỗi ngân hàng cũng có một quí ông Tiểu Kerviel tuong ứng, và mỗi nguời cũng giao dịch gian lận một cách độc lập vào những lúc ngẫu nhiên, thì tổng thua lỗ của 10 ngân hàng sẽ gần nhu bằng không.

Khoảng vài tuần truớc vụ Kerviel, một truờng kinh doanh Pháp thuê tôi thuyết trình truớc ban giám đốc ngân hàng Sociét Générale ở Prague về ý tuởng rủi ro Thiên Nga Đen. Trong con mắt của các ngân hàng, tôi hệt nhu một kẻ thuyết giảng dòng Tên đến thánh địa Mecca vào giữa kỳ hành huong hàng năm - các “nhà phân tích định luợng” và nhân sự hoạt động trong lĩnh vực rủi ro của họ ghét tôi cay đắng, và tôi hối tiếc đã không nhất quyết nói tiếng Ảrập, cho dù họ có phiên dịch. Tôi nói về các kỹ thuật rủi ro giả hiệu của Triffat - những phuong pháp thuờng đuợc sử dụng để đo luờng và dự đoán các biến cố, những phuơng pháp mà trước đây chưa bao giờ có tác dụng - và ta cần tập trung như thế nào vào tính mỏng manh và các chiến lược hai đầu. Trong suốt buổi thuyết trình, tôi không ngừng bị chất vấn bởi ông chủ của Kerviel và đồng nghiệp của ông, lãnh đạo bộ phận quản lý rủi ro. Sau buổi thuyết trình, mọi người đều làm ngơ tôi, cứ như thể tôi là người sao Hỏa, với một tình thế khó xử theo kiểu “ai đưa gã này đến đây” (tôi được nhà trường chọn, chứ không phải ngân hàng). Người duy nhất lịch sự với tôi là vị chủ tịch, vì nhầm tôi với một người khác và không biết tí gì về những điều tôi đang thảo luận.

Vì thế, độc giả có thể hình dung trạng thái tinh thần của tôi như thế nào khi ngay sau lúc tôi quay về New York, vụ bê bối giao dịch của Kerviel nổ ra. Người ta cũng kêu gọi tôi phải giữ im lặng vì những lý do pháp lý (tôi quả đã giữ im lặng, ngoại trừ vài lần nói hớ).

Rõ ràng, phân tích tỉ mỉ về chuyện đã qua đã sai lầm, quy vấn đề là do kiểm soát yếu kém bởi hệ thống chủ nghĩa tư bản yếu kém, và thiếu cảnh giác về phía ngân hàng. Chẳng phải thế. Chẳng phải do “lòng tham” như chúng ta thường giả định. Vấn đề chủ yếu là do quy mô, và do tính mỏng manh xuất phát từ quy mô.

Luôn luôn lưu ý sự khác nhau giữa một tảng đá to và những hòn đá nhỏ có cùng trọng lượng. Câu chuyện Kerviel có tính minh họa, nên ta có thể khái quát hóa và xem xét bằng chứng trong nhiều lĩnh vực.

Trong quản lý dự án, Bent Flyvbjerg đã trình bày bằng chứng công ty cho thấy sự gia tăng quy mô dự án dẫn đến kết quả yếu kém và chi phí chậm trễ ngày càng cao tính theo tỷ lệ trong tổng ngân sách. Nhưng ở đây có một sắc thái đặc thù: chính quy mô của một phân đoạn dự án mới quan trọng, chứ không phải toàn bộ dự án - một số dự án có thể chia thành nhiều mảng, nhưng những dự án khác không thể chia nhỏ được. Các dự án cầu và đường hầm liên quan đến việc quy hoạch nguyên khối, vì chúng không thể chia thành những phần nhỏ; tỷ lệ phát sinh chi phí của chúng tăng lên đáng kể theo quy mô. Các dự án xây đập cũng vậy. Nhưng đường bộ được xây dựng thành nhiều đoạn nhỏ nên không có hiệu ứng quy mô nghiêm trọng, vì các nhà quản lý dự án chỉ phát sinh những sai số nhỏ và có thể điều chỉnh thích nghi. Các phân đoạn nhỏ phát sinh những sai số nhỏ vào một lúc nào đó, và không có những tình thế bắt buộc nghiêm trọng.

Một khía cạnh khác của quy mô: các công ty lớn cũng gây nguy hiểm cho các khu dân cư. Tôi đã sử dụng lập luận sau đây để chống lại những siêu thị cực lớn bất chấp lợi ích được quảng bá. Một siêu thị cực lớn muốn giải tỏa toàn bộ khu dân cư gần nơi tôi sống, gây ra phản ứng om sòm do sự thay đổi nó sẽ mang lại cho đặc điểm của khu dân cư. Lập luận ủng hộ là việc tạo sức sống mới cho khu vực, vẫn cái kiểu lập luận đó. Tôi chống lại đề án này trên cơ sở như sau: nếu công ty phá sản chúng ta sẽ còn lại một vùng đất chết khổng lồ (và những số liệu thống kê mà mọi người đều biết nhưng không ai thảo luận cũng cho thấy cuối cùng là thế - thường được gọi là con voi thống kê trong phòng). Đây là loại lập luận mà các nhà tư vấn Anh Rohan Silva và Steve Hilton vẫn sử dụng để ủng hộ các thương nhân nhỏ cùng với câu nói lãng mạn “nhỏ là đẹp”. Thật là hoàn toàn sai lầm khi sử dụng phép tính lợi ích mà không bao gồm xác suất thất bại.91

Làm sao thoát ra khỏi một rạp chiếu phim

Một ví dụ khác về tình thế bắt buộc: Hãy tưởng tượng người ta thoát ra khỏi một rạp chiếu phim như thế nào. Ai đó hô “cháy” và bạn thấy hàng tá người giẫm đạp nhau đến chết. Vì thế, ta có tính mỏng manh của một rạp hát theo quy mô, xuất phát từ sự kiện là cứ thêm một người thoát ra sẽ mang lại nhiều chấn thương hơn (thiệt hại không cân xứng này là một hiệu ứng lồi âm). Một nghìn người cố gắng thoát ra trong một phút không giống như một nghìn người từ từ đi ra trong nửa giờ. Người nào không quen với việc kinh doanh tối ưu hóa quy mô một cách ngây thơ ấu trĩ này (như sân bay Heathrow chẳng hạn) có thể bỏ quên ý tưởng rằng vận hành êm ả vào những lúc bình thường thì khác với vận hành khắc nghiệt vào những lúc căng thẳng.

Thật tình cờ là cuộc sống tối ưu hóa kinh tế hiện nay khiến ta xây dựng những rạp hát ngày càng lớn hơn, nhưng với cùng một cánh cửa như cũ. Người ta không còn mắc phải sai lầm này quá thường xuyên khi xây dựng rạp hát, nhà hát và sân vận động nữa, nhưng ta có xu hướng mắc phải sai lầm này trong những lĩnh vực khác, như tài nguyên thiên nhiên và cung ứng lương thực chẳng hạn. Chỉ cần xem giá lúa mì tăng gấp ba lần vào những năm 2004-2007 khi nhu cầu chỉ tăng có 1 phần trăm là đủ rõ.92

Tình trạng thắt cổ chai là cội nguồn của mọi tình thế bắt buộc.

CÁC DỰ ÁN VÀ DỰ ĐOÁN

Tại sao máy bay không đến sớm

Như thường lệ, ta hãy bắt đầu bằng vấn đề giao thông, và khái quát hóa cho những lĩnh vực khác. Hành khách thường không thích tình trạng bất định - nhất là khi họ đã có một lịch trình định trước. Tại sao? Tác động ở đây có tính chất một chiều.

Phần lớn đời mình, tôi vẫn thường đáp cùng một chuyến bay vào giờ đó cho hành trình Luân Đôn-New York. Chuyến bay mất khoảng 7 giờ, tương đương một quyển sách mỏng cộng với một cuộc chuyện trò lịch sự ngắn với người ngồi cạnh và một bữa ăn với rượu vang đỏ, phô mai stilton, và bánh quy giòn. Tôi nhớ một vài lần tôi đáp xuống sân bay sớm, khoảng 20 phút, không hơn. Nhưng có những lần tôi đến nơi muộn hơn hai hay ba giờ, và ít nhất có một lần tôi phải mất hơn hai ngày mới đến noi.

Vì thời gian bay trên thực tế không thể có giá trị âm, nên tình trạng bất định có xu hướng gây chậm trễ, làm cho giờ đến tăng lên, chứ gần như không bao giờ giảm xuống. Hoặc nó làm cho giờ đến chỉ giảm vài phút, nhưng tăng lên đến hàng giờ, tình trạng không đối xứng rõ ràng. Bất luận thứ gì bất ngờ, bất kỳ cú sốc nào hay tình trạng biến động nào cũng có nhiều khả năng gây ra kéo dài thời gian bay hơn.

Điều này cũng giải thích tính chất không thể vãn hồi của thời gian, theo một cách nào đó, nếu bạn xem thời gian trôi qua như một nguồn bổ sung tính xáo trộn.

Ta hãy áp dụng khái niệm này vào các dự án. Hệt như khi bạn bổ sung thêm tính bất định vào chuyến bay, máy bay sẽ có xu hướng hạ cánh muộn hơn, chứ không sớm hơn (và quy luật vật lý này phổ biến đến mức nó cũng áp dụng ở nước Nga), khi bạn bổ sung thêm tính bất định vào các dự án, chúng sẽ có xu hướng tốn chi phí nhiều hơn và mất thời gian lâu hơn để hoàn thành. Điều này áp dụng cho nhiều dự án, hay đúng ra là gần như mọi dự án.

Trước đây tôi thường giải thích điều này rằng định kiến tâm lý, việc đánh giá quá thấp cơ cấu ngẫu nhiên của thế giới là nguyên nhân của sự ước lượng quá thấp chi phí và thời gian của dự án - các dự án phải mất nhiều thời gian hơn so với kế hoạch là do ước lượng quá lạc quan. Chúng ta có bằng chứng về định kiến tâm lý này, được gọi là sự tự tin quá đáng. Các nhà khoa học quyết định và các nhà tâm lý học kinh doanh đã xây dựng lý thuyết cho cái gọi là “ngụy biện kế hoạch” (planning fallacy), trong đó họ cố gắng giải thích sự kiện các dự án phải mất thời gian lâu hơn, chứ hiếm khi mau hơn, thông qua sử dụng các yếu tố tâm lý.

Nhưng rắc rối nằm ở chỗ, việc ước lượng quá thấp này xem ra không xảy ra trong thế kỷ trước đây, cho dù cũng vẫn là con người chúng ta, được thừa hưởng cùng những định kiến tâm lý như vậy. Nhiều dự án quy mô lớn cách đây một thế kỷ rưỡi đã được hoàn thành đúng hạn; nhiều tòa nhà và tượng đài cao ngất mà ta thấy ngày nay không chỉ đẹp đẽ tao nhã hơn các cấu trúc hiện đại mà còn được hoàn thành đúng hạn, hay thậm chí trước hạn. Những công trình này không chỉ bao gồm tòa nhà Empire State (vẫn còn ở New York) mà cả Cung điện Pha lê Luân Đôn, được dựng lên cho cuộc triển lãm vĩ đại năm 1851, dấu ấn của vương triều Victoria, dựa vào ý tưởng sáng tạo của một người làm vườn. Cung điện, nơi tổ chức triển lãm, đi từ khái niệm cho đến lễ khánh thành chỉ mất chín tháng. Tòa nhà có hình thù của một ngôi nhà kính khổng lồ, dài 563 mét và rộng 138 mét; được xây dựng bằng khung gang và thủy tinh gần như độc quyền chế tạo ở Birmingham và Smethwick.

Có một điều hiển nhiên thường không được lưu ý ở đây: Dự án Cung điện Pha lê không sử dụng máy tính, và các nguyên liệu được sản xuất không xa nguồn, với một số ít công việc liên quan trong chuỗi cung ứng. Hơn nữa, thời đó cũng không có các trường kinh doanh để rao giảng cái gọi là “quản lý dự án” và tăng tâm lý tự tin quá đáng. Cũng không có các công ty tư vấn. Vấn đề xung đột quyền lợi giữa người ủy quyền và người thừa hành (mà ta định nghĩa là sự khác biệt quyền lợi của người đại diện và khách hàng của họ) không đáng kể. Nói cách khác, đó là một nền kinh tế tuyến tính hơn - đỡ phức hợp hơn - so với ngày nay. Và trong thế giới ngày nay, ta có tính phi tuyến nhiều hơn (hay tính phi đối xứng, tính lồi).

Hiệu ứng Thiên Nga Đen nhất thiết càng gia tăng, như một hệ quả của tính phức hợp, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành phần, toàn cầu hóa, và cái thứ kinh khủng gọi là “hiệu quả”, khiến cho con người giong buồm đến quá gần giông bão. Cộng thêm vào đó là các nhà tư vấn và các trường kinh doanh. Chỉ cần một trục trặc ở đâu đó là có thể chặn đứng cả dự án, vì thế các dự án có xu hướng trở nên yếu như mắt xích yếu nhất trong chuỗi (hiệu ứng lồi âm sâu sắc). Thế giới trở nên ngày càng khó dự đoán hơn, và chúng ta ngày càng dựa dẫm nhiều hơn vào công nghệ, vốn dĩ có những sai lầm và những tương tác khó ước lượng hơn, chứ đừng nói gì đến việc dự đoán.

Và nền kinh tế thông tin chính là thủ phạm. Bent Flyvbjerg, người trong các dự án cầu đường vừa đề cập trên đây, cho chúng ta thấy một kết quả khác. Vấn đề phát sinh chi phí và chậm trễ càng sâu sắc hơn nhiều với sự hiện diện của công nghệ thông tin (IT), vì các dự án điện toán gây ra tỷ trọng lớn sự phát sinh chi phí này, và tốt hơn nên tập trung vào chúng. Nhưng thậm chí ngoài những dự án bị chi phối bởi công nghệ thông tin, chúng ta vẫn có xu hướng chậm trễ nghiêm trọng.

Nhưng logic thật đơn giản: một lần nữa, hiệu ứng lồi âm là thủ phạm chính, là nguyên nhân trực tiếp và dễ thấy. Các sai lầm tác động đến bạn một cách phi đối xứng, cũng hệt như việc đi máy bay.

Không có nhà tâm lý học nào từng thảo luận về “ngụy biện kế hoạch” nhận ra rằng, chủ yếu đây không phải là vấn đề tâm lý, không phải là vấn đề về sai lầm của con người; mà nó tồn tại cố hữu trong cơ cấu phi tuyến tính của các dự án. Cũng hệt như thời gian không thể có giá trị âm, một dự án ba tháng không thể hoàn thành với khung thời gian bằng 0 hay có giá trị âm. Vì thế, trên dòng thời gian từ trái sang phải, sai lầm được cộng vào bên phải, chứ không cộng vào bên trái. Giá như tình trạng bất định là tuyến tính, ta sẽ quan sát thấy một số dự án được hoàn thành cực kỳ sớm sủa (cũng như chuyến bay có khi đến rất sớm, có khi đến rất muộn). Nhưng chuyện đâu phải như vậy.

Chiến tranh và thâm thủng ngân sách

Chiến tranh thế giới I được dự đoán là chỉ kéo dài vài tháng; thế nhưng cho đến lúc kết thúc, cuộc chiến đã chồng chất nợ nần cho Pháp và Anh; nợ phát sinh chí ít cũng gấp 10 lần so với chi phí tài chính dự kiến, cùng với những nỗi kinh hoàng, khốn khổ, và tàn phá. Lẽ dĩ nhiên, Chiến tranh thế giới thứ II cũng vậy, cũng bổ sung thêm nợ nần của Anh, khiến cho đất nước lún sâu vào nợ nần, chủ yếu là nợ Mỹ.

Ở Hoa Kỳ, ví dụ đáng kể nhất vẫn là cuộc chiến tranh Iraq, qua đó George W. Bush và giới thân hữu của ông dự kiến tốn từ 30 đến 60 tỉ đôla; cho tới giờ, tính cả những chi phí gián tiếp, có thể phình lên đến hơn 2 nghìn tỉ đôla - chi phí gián tiếp tăng gấp bội, gây ra các chuỗi tương tác bùng nổ, tất cả đều diễn ra theo chiều hướng gia tăng chi phí, chứ không giảm. Tính phức hợp cộng với tính phi đối xứng (cộng theo kiểu George W. Bush) lại dẫn đến sai lầm bùng nổ Hơn nữa.

Quân đội càng lớn, tình trạng phát sinh chi phí càng lớn một cách không cân xứng.

Nhưng chiến tranh, với sai số hơn 20 lần, chỉ có tính chất minh họa cho cách chính phủ đánh giá quá thấp tính phi tuyến bùng nổ (hiệu ứng lồi) và lý do khiến người ta không nên tin vào chính phủ trong vấn đề tài chính hay các quyết định quy mô lớn. Quả thật, chưa kể tới chiến tranh thì chính phủ cũng đã gây ra đủ rắc rối cho chúng ta với tình trạng thâm thủng ngân sách rồi: ước lượng quá thấp chi phí dự án là vấn nạn kinh niên đối với 98 phần trăm dự án đương thời có chi phí phát sinh quá đáng. Cuối cùng chính phủ chi tiêu nhiều hơn so với mức mà họ thông báo với chúng ta. Điều này khiến tôi đề xướng một nguyên tắc vàng cho chính phủ: không được vay mượn, buộc phải cân bằng ngân sách.

NHỮNG LĨNH VỰC MÀ “HIỆU QUẢ” KHÔNG PHẢI LÀ HIỆU QUẢ

Ta có thể dễ dàng thấy chi phí của tính mỏng manh căng phồng lên trước mắt ta, dễ dàng nhìn thấy bằng mắt thường. Chi phí thảm họa toàn cầu ngày nay cao gấp ba lần so với thập niên 1980, sau khi đã điều chỉnh lạm phát. Theo nhận xét cách đây ít lâu của nhà nghiên cứu nhìn xa trông rộng về các biến cố cực độ Daniel Zajdenweber, ảnh hưởng của nó xem ra đang gia tăng. Nền kinh tế có thể ngày càng “hiệu quả” hơn, nhưng tính mỏng manh khiến cho tổn thất do sai lầm ngày càng cao hơn.

Thị trường chứng khoán đã thay đổi, không còn hình thức “đấu giá công khai”, trong đó các nhà giao dịch đối mặt với nhau, gào thét như trong một phiên chợ Hồi giáo, rồi đi nhậu với nhau. Các nhà giao dịch được thay bằng các cỗ máy tính, với lợi ích nhỏ bé nhưng dễ thấy và rủi ro to lớn kinh khủng. Trong khi sai lầm của các nhà giao dịch được hạn chế và phân phối, sai lầm của hệ thống điện toán thật dữ dội. Vào tháng 8 năm 2010, một sai lầm của máy tính đã làm cho cả thị trường sụp đổ; vào tháng 8 năm 2012, khi bản thảo này được đưa tới nhà in, tập đoàn Knight Capital đã để cho hệ thống máy tính của họ rối tung và gây thua lỗ 10 triệu đôla trong mỗi phút, mất đi tổng cộng 480 triệu đôla.

Và những phép phân tích lợi ích-chi phí ngây ngô cũng có thể gây hại, và lẽ dĩ nhiên, tác hại này cũng căng phồng lên theo quy mô. Ví dụ, trong quá khứ, người Pháp từng chú trọng vào năng lượng hạt nhân vì nó xem ra “sạch”, rẻ, và “tối ưu” trên màn hình máy tính. Sau đó, sau tiếng gọi thức tỉnh của thảm họa hạt nhân Fukushima năm 2011, họ nhận ra rằng họ cần có thêm các tính năng an toàn và vội tranh nhau tăng cường những tính năng này bằng bất cứ giá nào. Theo một cách nào đó, điều này cũng tương tự như tình thế bắt buộc mà tôi vừa đề cập trên đây: họ buộc phải đầu tư, bất chấp giá nào. Những chi phí tăng thêm này không phải là một phần của phân tích lợi ích-chi phí trong quyết định ban đầu và từng có vẻ tốt đẹp trên màn hình máy tính. Vì thế, khi quyết định chọn một nguồn năng lượng này so với một nguồn năng lượng khác, hay những phép so sánh tương tự, ta không nhận ra rằng sai số mô hình có thể tác động đến bên này nhiều hơn bên kia.

Ô nhiễm và tác hại đối với hành tinh

Từ đây, ta có thể khái quát hóa một chính sách sinh thái đơn giản. Ta biết rằng nhiên liệu hóa thạch có hại một cách phi tuyến tính. Tác hại của nó nhất thiết có dạng lõm (một chút nhiên liệu không có hại, nhưng số lượng nhiều có thể gây ra biến đổi khí hậu). Trong khi trên cơ sở nhận thức luận, do trạng thái vô minh, ta không cần tin vào sự biến đổi khí hậu do con người gây ra thì mới thận trọng về mặt sinh thái, ta có thể sử dụng hiệu ứng lồi này để du nhập một quy tắc quản lý rủi ro ô nhiễm. Nói đơn giản ra, cũng như với quy mô, ta hãy chia nhỏ nguồn ô nhiễm giữa nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tác hại do ô nhiễm với 10 nguồn khác nhau thì nhỏ hơn so với ô nhiễm tương đương từ một nguồn duy nhất.93

Ta hãy thử tìm hiểu những cơ chế tương tự như tự nhiên để quản lý các hiệu ứng tập trung của cha ông ta. Con người hiện đại chúng ta đến cửa hàng để mua những thứ như nhau, như cá ngừ, cà phê hay chè, gạo, phô mai trắng, rượu vang Cabernet, dầu ô liu, và những thứ khác mà dường như với ta không thể dễ dàng thay thế. Do những thói quen hiện đại thâm căn cố đế, sự lây nhiễm văn hóa, và tính cứng nhắc của các nhà máy, ta có xu hướng sử dụng quá đáng những sản phẩm cụ thể. Sự tập trung này là có hại. Việc tiêu thụ quá nhiều cá ngừ chẳng hạn, có thể gây hại cho những động vật khác, làm xáo trộn hệ thống sinh thái, và dẫn đến tuyệt chủng một số giống loài. Và tác hại này chẳng những leo thang một cách phi tuyến tính, mà tình trạng thiếu hụt còn dẫn đến tăng giá một cách bất cân xứng.

Tổ tiên ta hành xử khác. Jennifer Dunne, nhà nghiên cứu tính phức hợp tìm hiểu về những người săn bắn hái lượm, xem xét bằng chứng về hành vi của Aleuts, một bộ tộc bản xứ Bắc Mỹ, mà chúng ta có dữ liệu phong phú bao trùm năm thiên niên kỷ. Họ thể hiện hành vi săn bắt không tập trung, với chiến lược thay đổi con mồi. Họ không có những thói quen cứng nhắc và thâm căn cố đế như chúng ta. Bất kỳ khi nào họ nhận thấy một nguồn tài nguyên giảm sút, họ chuyển sang nguồn khác, như thể để bảo tồn hệ thống sinh thái. Vì thế, họ am hiểu hiệu ứng lồi, hay đúng hơn, thói quen của họ am hiểu điều đó.

Lưu ý rằng toàn cầu hóa có ảnh hưởng lây lan trên khắp hành tinh - cứ như thể thế giới trở thành một gian phòng khổng lồ với những cánh cửa thoát hiểm bé xíu và qua đó người ta lao ra cùng một lúc, với tác hại gia tăng. Cũng hệt như việc gần như mọi trẻ em đều đọc Harry Potter và chơi Facebook, con người ta khi giàu có sẽ bắt đầu tham gia vào cùng những hoạt động như nhau và mua sắm những món đồ giống hệt nhau. Họ uống rượu vang Cabernet, hy vọng đi nghỉ mát ở Venice và Florence, mơ sắm căn nhà thứ hai ở miền nam nước Pháp vv… Các điểm du lịch trở nên không thể chịu đựng nổi: bạn cứ thử đến Venice vào tháng 7 tới này mà xem.

Tính phi tuyến của sự phồn vinh

Chắc chắn ta có thể quy cho ảnh hưởng mỏng manh của hiện tượng toàn cầu hóa đương đại là do tính phức hợp, sự kết nối và lây lan văn hóa, làm cho sự xoay tròn trong các biến số kinh tế trở nên nghiêm trọng hơn - sự chuyển đổi sang hệ thống Ngẫu nhiên cực độ kinh điển. Nhưng còn có một ảnh hưởng khác: sự phồn vinh. Phồn vinh có nghĩa là nhiều của cải hơn, và do sự gia tăng quy mô phi tuyến tính, nên thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất. Ta có xu hướng gây ra những sai lầm nghiêm trọng hơn, đơn giản chỉ vì ta giàu hơn. Cũng hệt như những dự án một trăm triệu đôla thì khó dự đoán hơn và có xu hướng phát sinh chi phí nhiều hơn so với những dự án 5 triệu đôla, chỉ bỏi giàu hơn nên thế giới gặp rắc rối nhiều hơn với tính mỏng manh và tính không thể dự đoán gia tăng. Điều này xảy ra kèm theo sự tăng trưởng - ở cấp độ quốc gia, đó là sự tăng trưởng GDP hằng mơ ước. Ngay cả ở cấp độ cá nhân, giàu cũng có nghĩa là đau đầu nhiều hơn; để giảm nhẹ những phức tạp phát sinh từ sự giàu có, ta có thể phải làm việc vất vả hơn so với khi ta làm việc để trở nên giàu có.

Kết luận

Kết luận chương này, tính mỏng manh trong một lĩnh vực bất kỳ - từ chiếc cốc sứ cho đến một tổ chức, một hệ thống chính trị, quy mô của một doanh nghiệp, hay sự chậm trễ ở các sân bay - đều nằm ở tính phi tuyến. Hơn nữa, biện pháp tháo gỡ là hãy phòng chống tình trạng thiếu hụt. Hãy nghĩ tới hiện tượng trái ngược của việc trễ máy bay hay phát sinh chi phí dự án - những gì hưởng lợi từ tình trạng bất định. Và biện pháp tháo gỡ thể hiện hình ảnh phản chiếu qua gương của những gì ta xem là mỏng manh, những tình huống ghét sự ngẫu nhiên.

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.