SINH THÁI VÀ CỜ BẠC

Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16bài Học Trong Cơn Hỗn Độn
Chương 16bài Học Trong Cơn Hỗn Độn

❊ ❊ ❊

Trận đánh kế tiếp trên đường phố là ở đâu? - Làm thế nào chấm dứt việc chuẩn hóa, chấm dứt việc kế hoạch hóa mọi thứ - học sinh thông minh (và đảo ngược) - “Phượt thủ”là các quyền chọn

Ta hãy tiếp tục với mục đích luận và sự hỗn độn - trong đời sống riêng tư và việc học tập cá nhân. Tiếp theo là phần minh họa tự truyện.

Như ta đã thấy trong chương 7 với anh chàng đánh đồng một cách sai lầm giữa hệ thống sinh thái và trò chơi bài xì dách, chúng ta có hai lĩnh vực, cờ bạc, vốn được thiết lập như một trò chơi với các luật chơi quy định rõ ràng từ trước, và hệ thống sinh thái, trong đó ta không biết các quy tắc và không thể tách biệt các biến số, như trong đòi sống thực tế. Biết rằng các kỹ năng trong lĩnh vực này không thể chuyển đổi sang lĩnh vực kia, nhìn chung tôi trở nên hoài nghi về bất kể những kỹ năng nào được tiếp thu trong các lớp học, bất kể thứ gì được hấp thu một cách phi sinh thái, so với những trận đánh nhau trên đường phố và những tình huống trong đòi thường.

Chẳng phải nói quá rằng chúng ta không có bằng chứng gì cho thấy khả năng chơi cờ dẫn đến khả năng lập luận tốt hơn bên ngoài bàn cờ - thậm chí những người chơi cờ mù với một nhóm đối thủ (blind chess: cờ mù hay cờ tưởng, kỳ thủ không được nhìn thấy bàn cờ) cũng không thể ghi nhớ những sự việc bên ngoài bàn cờ tốt hơn so với một người bình thường. Chúng ta chấp nhận tính chuyên biệt theo lĩnh vực của các trò cờ bạc, nghĩa là cờ bạc không thể giúp ích bạn trong những lĩnh vực khác của đòi sống, và sẽ thất bại não nề khi chuyển từ bàn cờ ra đòi thường. Nhưng ta thấy khó mà áp dụng bài học này cho những kỹ năng kỹ thuật tiếp thu ở nhà trường, nghĩa là chấp nhận sự kiện quan trọng là những gì hấp thu trong lớp học nói chung vẫn ở lại trong lớp học. Tệ hơn, lớp học còn có thể mang đến những thiệt hại mà ta có thể nhận ra, hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què mà gần như chưa bao giờ được thảo luận: Laura Martignon79 cho tôi biết kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh Birgit Ulmer cho thấy khả năng đếm của trẻ em giảm xuống ngay sau khi các em được dạy về số học. Khi bạn hỏi các em có bao nhiêu khoảng cách giữa 15 chiếc cọc, những em không biết số học sẽ đáp có 14 khoảng cách. Những em học số học sẽ nhầm lẫn và thường đáp sai là có 15 khoảng cách.

Nhà sinh học và nhà trí thức E. O. Wilson80 từng được hỏi, điều gì cản trở sự phát triển của trẻ em nhiều nhất; ông đáp, đó là những bà mẹ ấp ủ bảo bọc con cái thái quá. Ông không sử dụng hình ảnh chiếc giường Procrustes hay việc gọt chân cho vừa giày, mà ông phác ra những nét chính một cách hoàn hảo. Ông lập luận rằng họ ức chế bản năng sinh học của trẻ, tình yêu các vật thể sống của trẻ. Nhưng vấn đề còn khái quát hơn; các bà mẹ ấp ủ bảo bọc con cố gắng loại bỏ hoạt động thử nghiệm và sửa sai, khả năng cải thiện nghịch cảnh trong đời sống của trẻ, tách các em ra khỏi hệ thống sinh thái và biến các em thành những kẻ chăm chỉ đến trường, hoạt động dựa trên bản đồ về thực tế có trước. Các em trở thành những học sinh ngoan, nhưng trì độn, nghĩa là hệt như những chiếc máy tính, chỉ có điều chậm chạp hơn. Đã thế, các em còn không được đào tạo để xử lý những gì mơ hồ. Là một đứa trẻ thời nội chiến, tôi không tin vào việc học hỏi theo cơ cấu tổ chức; thật ra tôi tin rằng ta có thể trở thành một người tài trí mà không phải là một kẻ chăm chỉ đến trường, miễn là ta có một thư viện riêng thay cho lớp học, và sử dụng thời gian như người đi phượt vô mục đích (nhưng duy lý), hưởng lợi từ những gì tính ngẫu nhiên mang lại cho ta bên trong và bên ngoài thư viện. Miễn là ta có sự mạnh mẽ đúng kiểu, ta cần tính ngẫu nhiên, sự hỗn độn, các cuộc phiêu lưu mạo hiểm, tình trạng bất định, tự khám phá, những tình huống sắp sửa gây chấn thương, mọi thứ làm cho cuộc đòi trở nên đáng sống, so với cuộc đòi được bố trí sẵn, giả hiệu, vô dụng, của một vị giám đốc ăn mặc bảnh bao nhưng trống rỗng, với lịch trình được sắp đặt sẵn và một chiếc đồng hồ báo thức. Ngay cả sự giải trí tiêu khiển của họ cũng phụ thuộc vào một chiếc đồng hồ, o ép giữa số bốn và số năm, vì đời họ bị kẹp giữa những cuộc hẹn. Cứ như thể sứ mệnh của tính hiện đại là chắt ép cho bằng hết mọi giọt biến động và ngẫu nhiên ra khỏi đời ta - với kết quả trớ trêu là làm cho thế giới ngày càng trở nên không thể dự đoán hơn nữa (như ta đã thấy trong chương 5), như thể Nữ thần May mắn muốn là người ra quyết định tối hậu.

Chỉ có những người tự học là tự do. Và không chỉ trên phương diện học tập, những người chống lại sự chuẩn hóa, chống lại việc lên kế hoạch cứng nhắc cho cuộc đời họ cũng thế. Người ta cố gắng đưa tính ngẫu nhiên vào một chiếc hộp, như những chiếc hộp bày bán ở quầy số 6 kế bên những hộp cá ngừ - một kiểu xa lánh chối bỏ tính ngẫu nhiên.

Nếu bạn muốn tìm hiểu các lập luận hiện đại chủ nghĩa hiện nay nhạt nhẽo đến mức nào (và tìm hiểu các ưu tiên hiện sinh của mình), hãy xem thử sự khác biệt giữa những con sư tử hoang dã và những con bị giam cầm. Sư tử bị giam cầm sống lâu hơn; chúng giàu có hơn, và được bảo đảm an toàn việc làm cả đời, nếu đây là những tiêu chí mà bạn quan tâm…

Như thường lệ, người xưa, ở đây là Seneca, đã nhận ra vấn đề (và sự khác biệt) qua câu nói của ông “Chúng ta không học tập vì cuộc sống, mà chỉ vì giảng đường,” non vitae, sed scolae discimus; mà thề danh dự, câu nói này đã bị sửa chữa và thay đổi để phù hợp với phương châm của nhiều trường cao đẳng ở Hoa Kỳ, non scolae, sed vitae discimus, có nghĩa là “Chúng ta học tập [ở đây] vì cuộc sống, chứ không phải vì giảng đường.”

Hầu hết sự căng thẳng trong cuộc sống sẽ diễn ra khi những người gây ra tính mỏng manh (như các nhà hoạch định chính sách) viện dẫn tính duy lý.

VIỆC HỌC TẬP CÓ KHẢ NĂNG CẢI THIỆN NGHỊCH CẢNH (CHIẾN LƯỢC HAI ĐẦU)

Đã có điều gì đó cứu tôi thoát khỏi ảnh hưởng của giáo dục, và làm cho tôi hoài nghi chính cái khái niệm học tập tiêu chuẩn.

Vì tôi là một người tự học thuần túy, cho dù tôi có các bằng cấp.

Cha tôi ở Libăng nổi tiếng là một “Thông Minh Học Sinh Học Sinh Thông Minh”; một phép chơi chữ, vì cụm từ Ảrập “học sinh thông minh” là taleb nagib, và tên ông là Nagib Taleb. Báo chí đã đăng tên ông như thế khi ông đạt điểm cao nhất kỳ thi tốt nghiệp phổ thông Libăng. Ông là thủ khoa toàn quốc, và tờ báo chính thức đưa tin ông qua đời năm 2002 bằng tiêu đề trên trang nhất với phép chơi chữ từ tên ông, THÔNG MINH HỌC SINH HỌC SINH THÔNG MINH ĐÃ QUA ĐỜI. Tuy vậy, việc học tập phổ thông của ông thật khổ sở, vì ông theo học ở một trường dòng Tên quyền thế. Sứ mệnh của các giáo sĩ dòng Tên là đào tạo các quan chức điều hành địa phương, thông qua sàng lọc học sinh hết năm này sang năm khác. Họ đã thành công hơn cả mục đích này, vì ngoài việc có một trong những tỷ lệ thi đỗ cao nhất thế giới trong kỳ thi tú tài Pháp (bất chấp chiến tranh), nhà trường cũng có đẳng cấp thế giới về thành tựu của các cựu học sinh. Các giáo sĩ dòng Tên cũng tước đoạt hết thời gian rỗi của học sinh, cho nên nhiều em tự nguyện bỏ học. Vì thế, ta có thể phỏng đoán rằng có một người cha là thủ khoa toàn quốc nhất định sẽ giúp tôi thoát khỏi nhà trường, và quả thật như thế. Cha tôi xem ra không đánh giá cao việc giáo dục của nhà trường, vì ông không đưa tôi vào trường dòng Tên - để giúp tôi tránh những gì ông đã trải qua. Nhưng điều này rõ ràng đã cho phép tôi đi tìm thành tựu bản ngã của mình ở những nơi khác.

Quan sát cuộc đời của cha tôi giúp tôi nhận ra, là một thủ khoa toàn quốc có nghĩa là gì, là một học sinh thông minh có nghĩa là gì, chủ yếu theo phương thức phủ định: đó là những thứ mà những học sinh thông minh không thể hiểu nổi. Có một sự mù quáng nào đó đi kèm trọn gói. Ý tưởng này theo đuổi tôi suốt một thời gian dài, khi tôi làm việc cho phòng giao dịch chứng khoán, ở đó phần lớn thời gian bạn chỉ ngồi chờ sự việc diễn ra, một tình huống tương tự như tình huống của những người ngồi trong các quán rượu hay giới mafia “la cà loanh quanh”. Tôi nhận ra cách thức người ta tuyển dụng nhân viên dựa vào khả năng hòa nhập xã hội của họ với những người khác trong khi chỉ ngồi vẩn vơ không làm gì và tận hưởng sự mờ nhạt. Bạn tuyển người dựa vào khả năng la cà quanh quẩn, như một bộ lọc, và đối với những người chăm chỉ cần cù không giỏi việc la cà quanh quẩn: họ cần có một nhiệm vụ rõ ràng.

Hồi tôi lên 10, tôi nhận ra rằng điểm số cao không phải là điều tốt ở bên ngoài nhà trường như khi ở trong trường, vì nó mang theo những tác dụng phụ. Nó phải tương ứng với sự hy sinh tài trí trong những lĩnh vực khác. Thật ra, cha tôi luôn gợi ý cho tôi về vấn đề gắn liền với việc đạt được điểm tốt của chính ông: người học kém nhất lớp ông (và trớ trêu thay, là cha của một người bạn học cùng tôi ở Wharton) hóa ra là một thương nhân tự thành đạt, cho tới giờ là người thành công nhất lớp (ông có một chiếc thuyền buồm vĩ đại với chữ tắt tên ông khắc trên đó);

một người khác buôn gỗ rất phát đạt ở châu Phi, về hưu trước tuổi 40, rồi trở thành một sử gia nghiệp dư (chủ yếu về lịch sử Địa Trung Hải cổ đại) và tham gia chính trường. Theo một cách nào đó, cha tôi xem ra không đánh giá cao việc học tập, mà đánh giá cao văn hóa hay tiền bạc - và ông giục tôi tham gia vào hai lĩnh vực này (thoạt đầu tôi đi sâu vào văn hóa). Ông yêu thích sự uyên bác và giới doanh nhân, những người mà vị trí của họ không phụ thuộc vào bằng cấp.

Ý tưởng của tôi là sẽ hoạt động nghiêm túc trên thị trường mở. Điều này làm cho tôi tập trung vào những gì một người thông minh không muốn đi học cần phải làm: tự học, trở thành một người có tri thức so với những học sinh vốn được gọi là “những kẻ nuốt chữ” trong ngôn ngữ Libăng, những người “nuốt bài vở nhà trường” và kiến thức của họ chỉ đạt được từ chương trình giảng dạy. Tôi nhận ra, lợi thế không phải nằm trong gói kiến thức trong chương trình chính thức của kỳ thi tú tài, mà mọi người đều biết với một chút biến thiên nhỏ nhân rộng thành sự khác biệt lớn về điểm số, mà lợi thế chính xác nằm ở bên ngoài gói kiến thức đó.

Một số người này có thể thông minh hơn những người khác trong môi trường có tổ chức - thật ra, nhà trường có một định kiến chọn lọc, vì nhà trường thiên về những người nhanh nhẹn hơn trong môi trường từ chương, và cũng như bất kỳ thứ gì có tính cạnh tranh, điều đó đạt được bằng tổn thất của kết quả đạt được bên ngoài nhà trường. Cho dù tôi chưa quen thuộc với bộ môn thể dục, ý tưởng về tri thức của tôi là như sau. Những người xây dựng sức mạnh bằng các cỗ máy tập thể dục hiện đại đắt đỏ có thể nhấc những quả tạ cực kỳ to, thể hiện những con số lớn, và phát triển cơ bắp nhìn thật ấn tượng, nhưng không nhấc được một tảng đá; họ bị đấm gục hoàn toàn trong một trận đấu đường phố với ai đó được đào tạo trong những bối cảnh hỗn độn hơn. Sức mạnh của họ cực kỳ bó hẹp trong một lĩnh vực nhất định và lĩnh vực đó không tồn tại bên ngoài bối cảnh có tổ chức. Thật ra, sức mạnh của họ, hệt như với những vận động viên chuyên môn hóa quá đáng, là kết quả của sự dị dạng. Tôi nghĩ, điều này cũng hệt như với những người được tuyển chọn để cố gắng đạt điểm cao trong một số ít các môn học, thay vì tuân theo óc tò mò: cứ thử đưa họ ra xa những gì họ học tập một chút thôi, và xem họ bị lúng túng, mất tự tin, và bị phủ nhận như thế nào. (Cũng hệt như các giám đốc công ty được tuyển chọn vì khả năng tập trung vào những tài liệu chán ngắt.) Tôi đã tranh luận với nhiều nhà kinh tế học cho rằng mình chuyên về rủi ro và xác suất: khi ta đưa họ ra khỏi lĩnh vực chuyên môn hẹp của họ đôi chút, nhưng vẫn trong ngành xác suất, họ trở nên suy sụp, với bộ mặt bi thảm của người chăm đến phòng tập trước một gã găng-xtơ đánh người.

Một lần nữa, tôi không chính xác là một người tự học, vì tôi cũng có bằng cấp; nói đúng ra, tôi là một người tự học theo chiến lược hai đầu, vì tôi học ở trường lớp chính thức với mức độ tối thiểu đủ để vượt qua các kỳ thi, tình cờ đôi khi cũng đạt thành tích cao quá mức, và chỉ gặp rắc rối vài lần do thành tích quá thấp. Nhưng tôi đọc ngấu nghiến, số lượng nhiều, thoạt đầu về các ngành khoa học nhân văn, về sau là toán học và khoa học, và hiện giờ là về lịch sử - ngoài các chương trình giảng dạy chính thức, ngoài các cỗ máy tập thể dục như đã nói. Tôi nhận ra rằng bất kể tôi tự chọn lĩnh vực nào, tôi cũng có thể đọc sâu hơn và rộng hơn - điều đó thỏa mãn óc tò mò của tôi. Và tôi có thể tranh thủ lợi thế của tính cách mà sau này người ta gọi như một bệnh lý là Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) thông qua sử dụng sự kích động tự nhiên như một động lực chính cho việc học rộng. Công việc cần phải gần như hoàn toàn dễ dàng thì mới đáng bõ công. Lúc tôi cảm thấy chán với một quyển sách hay một đề tài này, tôi chuyển ngay sang một quyển sách hay một đề tài khác, thay vì từ bỏ việc đọc sách hoàn toàn - khi bạn bị giới hạn trong tài liệu học tập của nhà trường và bạn cảm thấy chán, bạn có xu hướng từ bỏ và không làm gì cả hay trốn học do chán nản. Mánh khóe là hãy cảm thấy chán một quyển sách cụ thể, chứ không phải chán việc đọc sách. Vì thế, số trang sách hấp thu có thể tăng nhanh hơn. Và bạn sẽ dễ dàng tìm thấy vàng (ấy là nói thế), hệt như trong việc nghiên cứu duy lý nhưng dựa vào sự thử nghiệm và sửa sai không theo chỉ đạo. Điều đó giống hệt như các quyền chọn, như việc thử nghiệm và sửa sai, không bị tắc nghẽn, rẽ đôi những khi cần thiết, nhưng duy trì ý thức tự do và chủ nghĩa cơ hội. Thử nghiệm và sửa sai là sự tự do.

(Tôi thú nhận tôi vẫn sử dụng phương pháp đó vào thời điểm viết quyển sách này. Tránh né sự nhàm chán là phương thức hành động đáng giá duy nhất. Bằng không, cuộc đời không còn đáng sống nữa.)

Cha mẹ tôi có quan hệ với hiệu sách lớn nhất ở Beirut và tôi chọn sách về những đề tài xem ra có số lượng vô hạn đối với tôi. Có sự khác biệt giữa các kệ sách thư viện và tài liệu nhà trường hạn hẹp; vì thế tôi nhận ra, nhà trường là một mưu đồ được thiết kế nhằm tước đoạt sự uyên bác của con người bằng cách o ép tri thức họ trong một tập hợp tác giả hạn hẹp. Bắt đầu từ tuổi mười ba, tôi đã có một cuốn nhật ký thời gian đọc sách của mình, khoảng từ 30 đến 60 giờ một tuần, một thói quen mà tôi vẫn giữ suốt một thời gian dài. Tôi đọc những sách đại loại như của Dostoyevsky, Turgenev, Chekhov, Bishop Bossuet, Stendhal, Dante, Proust, Borges, Calvino, Céline, Schultz, Zweig (không thích), Henry Miller, Max Brod, Kafka, Ionesco, các tác giả siêu thực, Faulkner, Malraux (cùng với các nhà phiêu lưu mạo hiểm hoang dại khác như Conrad và Melville; quyển sách sách tiếng Anh đầu tiên tôi đọc là Moby-Dick) và các tác giả tương tự về văn chương, phần lớn không có tiếng tăm, và Hegel, Schopenhauer, Nietzsche, Marx, Jaspers, Husserl, Lévi-Strauss, Levinas, Scholem, Benjamin, và các tác giả tương tự về triết học vì họ có vị thế tuyệt vời là không phụ thuộc vào chương trình nhà trường, và tôi xoay xở để không đọc những tài liệu do nhà trường đăng ký, vì thế cho tới giờ tôi vẫn không đọc Racine, Corneille, và những tác giả chán ngắt khác. Một mùa hè nọ, tôi quyết định đọc 20 cuốn tiểu thuyết của Émil Zola trong 20 ngày, mỗi ngày một cuốn, và xoay xở làm điều đó với chi phí đáng kể. Có lẽ việc tham gia một nhóm chống chính phủ ngầm đã thôi thúc tôi nghiên cứu chủ nghĩa Marx, và đề tài tôi chọn nhiều nhất là về Hegel một cách gián tiếp, chủ yếu thông qua Alexandre Kojève.

Khi tôi quyết định đến nước Mỹ, tôi nhắc lại, vào độ tuổi 18, tôi bắt đầu cuộc chạy đua maratông bằng cách mua vài trăm quyển sách tiếng Anh (của những tác giả như Trollope, Burke, Macaulay, và Gibbon, với Anais Nin và các tác giả thời thượng gây tai tiếng lúc bấy giờ), không hay đến lớp, và duy trì kỷ luật đọc sách từ 30 đến 60 giờ một tuần.

Ở trường, tôi nhận ra rằng khi ta cố gắng viết các bài luận với từ vựng phong phú, văn chương chính xác (cho dù không bất cập với đề tài đang viết), và duy trì sự mạch lạc thông suốt, đề tài mà ta viết trở nên thứ yếu và người chấm bài nhận ra dấu hiệu về tính chính xác và phong cách của ta từ đó. Cha tôi cho tôi một cơ hội hoàn hảo sau khi tôi đăng bài trên một tờ báo địa phương trên cương vị một thanh thiếu niên - ông ra điều kiện “chỉ cần không bị đuổi học”. Đó là một chiến lược hai đầu - học tập an toàn ở nhà trường và tự đọc, không kỳ vọng gì từ nhà trường. Về sau, sau khi tôi bị bắt giam vì sỉ nhục một viên cảnh sát trong một vụ tụ tập của sinh viên, cha tỏ ra lo sợ cho tôi và cho phép tôi làm bất cứ việc gì tôi muốn. Khi tôi đạt được trạng thái dồi dào tiền bạc (đồng tiền chết tiệt) vào tuổi đôi mươi, vào thời điểm mà điều đó hiếm hoi hơn nhiều so với ngày nay, bất chấp chiến tranh leo thang ở quê hương tôi, cha tôi nhận công lao về chuyện này vì cho rằng đó là nhờ vào tri thức rộng mà ông đã cho phép tôi có được và nó làm cho tôi khác biệt như thế nào so với những người khác, như ông, vốn có một nền tảng tri thức hạn hẹp.

Ở Wharton, khi tôi nhận ra rằng tôi muốn chuyên về một nghề gắn liền với xác suất và các biến cố hiếm hoi, nỗi ám ảnh về xác suất và tính ngẫu nhiên đã kiểm soát trí óc tôi. Tôi cũng thoáng thấy những khiếm khuyết trong ngành thống kê mà giáo sư không thể giải thích và chỉ gạt đi - những gì giáo sư gạt đi ắt phải là phần cốt lõi. Tôi nhận ra có sự gian lận ở đâu đó, rằng những biến cố “6 ơ ” (six sigma - số đo những biến cố cực kỳ hiếm hoi) nói chung đã bị tính toán sai và chúng ta không có cơ sở gì cho việc tính toán chúng, nhưng tôi không thể trình bày khúc chiết nhận thức của mình, và cảm thấy bẽ mặt khi người ta bắt đầu chế giễu tôi bằng những phép toán phức tạp. Tôi nhìn thấy giới hạn của xác suất ngay trước mắt, rõ như ban ngày, nhưng không thể tìm ra lời lẽ diễn đạt được quan điểm của mình. Vì thế, tôi đến hiệu sách và đặt mua (thời bấy giờ chưa có mạng) gần như mọi quyển sách có tiêu đề “xác suất” hay “ngẫu nhiên”. Tôi không đọc thứ gì khác suốt vài năm, không tài liệu học tập, không báo chí, không văn chương, không gì cả. Tôi đọc chúng trên giường, nhảy từ cuốn này sang cuốn khác khi có điều gì vướng mắc mà tôi không thông suốt ngay lập tức hay cảm thấy hoi chán. Và tôi duy trì việc đặt mua loại sách này. Tôi thèm khát đi sâu vào vấn đề về những xác suất nhỏ. Thật dễ dàng. Đó là vụ đầu tư tốt nhất của tôi - rủi ro hóa ra là đề tài tôi am hiểu nhất. Năm năm sau, tôi sắp xếp lại cuộc sống và giờ đây tôi đang tiến hành một sự nghiệp nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của các biến cố có xác suất nhỏ. Giả sử tôi học tập đề tài này bằng những phương tiện chính thức được đóng gói sẵn, thì chắc giờ đây tôi đã bị tẩy não để cho rằng tình trạng bất định là thứ mà ta thấy trong các sòng bạc, kiểu sự việc đó. Có một lĩnh vực đại loại như toán học ứng dụng: trước tiên tìm một vấn đề, rồi tìm toán học chứng minh cho vấn đề đó (hệt như người ta học ngôn ngữ), thay vì nghiên cứu một cách rỗng tuếch thông qua các định lý và ví dụ giả định, rồi thay đổi thực tế để làm cho nó phù hợp với các ví dụ này.

Một ngày kia, vào những năm 1980, tôi ăn tối với một nhà đầu cơ nổi tiếng, một người cực kỳ thành công. Anh thì thầm một cách cường điệu nhưng đích đáng: “Phần lớn những gì người ta biết đều không đáng để biết.”

Cho tới giờ, tôi vẫn còn thiên hướng cho rằng những gì quý báu, những gì ta cần biết cho một nghề nghiệp, nhất thiết nằm bên ngoài phần cốt lõi, càng xa trung tâm càng tốt. Nhưng có một điều quan trọng khi đi theo đường lối riêng trong việc chọn lọc tài liệu đọc: những gì tôi được yêu cầu phải học ở nhà trường đã bị lãng quên; trong khi những gì tự tôi quyết định đọc, tôi vẫn còn nhớ.

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.