Người nô lệ có thể giành quyền kiểm soát như thế nào - Hạn chế những người ẻo lả - Tầng lớp bi nhử mồi trường kỳ
Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại người ta từng chứng kiến tình huống sau đây dưới hình thức sâu sắc đến thế. Chẳng hạn như John Smith Con, tiến sĩ luật, được tuyển dụng làm chuyên gia vận động hành lang cho ngành thuốc lá ở Washington DC., mà như ai cũng biết, tham gia vào việc giết người vì lợi nhuận (ta đã thấy sức mạnh của đường lối tiết chế hay phản đề: nếu ta chấm dứt sự tồn tại của những ngành này, chẳng hạn như thông qua cấm thuốc lá, thì công việc của ngành y sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn). Thử hỏi họ hàng bè bạn xem tại sao họ vẫn chấp nhận điều này mà không tẩy chay ông ta, hay quấy rối ông ta cho đến phát khóc, hay tránh mặt ông ta vào buổi lễ tang tiếp theo của gia đình. Câu trả lời có thể là “ai cũng phải kiếm sống mà” - vì họ phòng tránh khả năng ngày nào đó biết đâu cũng họ rơi vào hoàn cảnh tương tự.
Ta cần kiểm chứng chiều mũi tên (sử dụng cùng một logic như trong phần thảo luận về việc dạy chim cách bay):
Đạo đức (và niềm tin) Nghề nghiệp
hay là
Nghề nghiệp Đạo đức (và niềm tin)
Trước khi Tony Béo tranh luận với Socrates, Nero tò mò về giây phút đầu tiên hai người gặp gỡ, vì giữa họ có một khoảng cách 25 thế kỷ. Xác định xem thử những yếu tố nào trong môi trường vật chất của chúng ta ngày nay sẽ gây ngạc nhiên cho Socrates nhiều nhất chẳng phải việc đơn giản. Với lòng tôn trọng bất đắc dĩ trước kiến thức lịch sử của Nero, Tony Béo đem vấn đề này ra hỏi anh, Nero đáp phỏng chừng: “Xem ra điều chắc chắn gây ngạc nhiên nhất là tình trạng không còn nô lệ.”
“Những người này không bao giờ tự mình làm việc nhà. Nên cứ hình dung hình ảnh đầy tiếc nuối của một người béo bụng, tay chân khẳng khiu, tự hỏi Nô lệ đâu rồi?”
“Nhưng vẫn có nô lệ quanh đây cơ mà,” Tony Béo buột miệng. “Họ thường trá hình bằng cách đeo một thứ phức tạp gọi là no cổ.”
Nero: “Thưa quý ông Tony, một số người thắt no cổ rất giàu, thậm chí giàu hơn cậu đấy.”
Tony: “Nero, cậu thật dễ bị lừa. Đừng để tiền bạc đánh lừa mình. Đó chỉ là những con số. Tự làm chủ mới quý.”
Có một hiện tượng gọi là hiệu ứng guồng quay, tương tự như những gì ta thấy với chứng cuồng hiện đại: bạn cần làm việc càng lúc càng nhiều hơn để duy trì trạng thái cũ. Lòng tham có khả năng cải thiện nghịch cảnh, nhưng nạn nhân của lòng tham thì không có khả năng cải thiện nghịch cảnh.
Quay trở lại với vấn đề kẻ ngốc khi tin rằng sự giàu có làm cho người ta trở nên độc lập hơn. Chỉ cần nhìn những gì đang diễn ra hiện nay cũng đủ làm bằng chứng: nên nhớ trong lịch sử nhân loại, ta chưa bao giờ giàu có như hiện nay. Và ta chưa bao giờ mang công mắc nợ nhiều như hiện nay (đối với người cổ đại, người mắc nợ không được tự do, họ phải bị câu thúc). Phần lớn là do “tăng trưởng kinh tế”.
Ở cấp độ địa phương, điều đó cũng hệt như ta hòa nhập vào một môi trường nhất định, nên ta bị cuốn vào guồng quay của nó. Bạn làm ăn khấm khá hơn, bạn chuyển đến Greenwich, Connecticut, rồi trở thành một kẻ khốn khổ cạnh bên một tòa biệt thự 20 triệu đôla và những bữa tiệc sinh nhật triệu đôla. Và bạn trở nên ngày càng lệ thuộc hơn vào công việc của mình, nhất là khi những người láng giềng nhận những khoản tiền thưởng hậu hĩ của phố Wall được tài trợ bằng tiền thuế.
Lớp người này cũng hệt như Tantalus, kẻ bị trừng phạt vĩnh viễn trong thần thoại: chàng đứng trong một hồ nước dưới tàng cây ăn quả nhưng bất kỳ khi nào chàng cố gắng hái quả, quả sẽ vươn ra xa và bất kỳ khi nào chàng muốn uống nước, nước sẽ rút xuống.
Và tầng lớp bị nhử mồi trường kỳ này là một trạng thái hiện đại. Người La Mã đã tránh né hiệu ứng guồng quay: phần lớn đời sống xã hội diễn ra giữa một người chủ nô và những khách hàng kém may mắn hơn, hưởng lợi từ của làm phúc của chủ, ăn tại bàn của chủ, và dựa vào sự trợ giúp của chủ vào những lúc khó khăn. Thời đó không có phúc lợi, và không có nhà thờ để phân phát hay gửi gắm đồ từ thiện: mọi thứ đều là riêng tư (quyển sách của Seneca De beneficiis tôi đã đề cập chính xác nói về những nghĩa vụ người ta phải mang trong tình huống này). Người ta gần như không liên lụy gì đến những kẻ quyền thế giàu có khác, tương tự như các ông trùm mafia không hòa nhập với những ông trùm mafia khác ngoài khu vực quyền hạn của mình. Ở mức độ lớn, đó là cách sống của ông tôi và cụ kỵ tôi, vì họ là những địa chủ và chính khách địa phương; quyền lực đi kèm với một nhóm người phụ thuộc. Các địa chủ địa phương phải duy trì một “mái nhà rộng mở”, với một bàn ăn rộng mở dành cho những người đến giúp họ với quả ngọt phồn vinh. Mặt khác, nếp sống theo kiểu các quý tộc vây quanh nhà vua trong những buổi thiết triều dẫn đến suy đồi - nhà quý tộc xuất thân từ các tỉnh, giờ đây trở nên thấp cổ bé họng hơn; gã đứng trước những người hóm hỉnh hơn, hoa mỹ hơn, và cảm nhận áp lực phải chống đỡ cho lòng tự trọng của mình. Những người có thể đánh mất vị thế của mình trong những thành phố lớn lại bảo toàn thân phận ở các tỉnh lẻ quê hương.
Bạn có lẽ không thể tin tưởng ai trong một guồng quay xã hội.
Thực tế là, sau một thời gian hòa nhập, người ta có thể nhanh chóng trở thành nô lệ của một nghề nghiệp, tới mức nhận định của họ về một chủ đề bất kỳ trở nên vị kỷ, nên không còn đáng tin cậy đối với tập thể nữa. Đây là một vấn đề xung đột quyền lợi trong hoạt động nghề nghiệp mà người Hy Lạp từng phải giải quyết.
Một trong những công việc đầu tiên của tôi là làm việc cho một ngân hàng đầu tư trên phố Wall. Sau khi tuyển dụng tôi được vài tháng, tay giám đốc điều hành gọi chúng tôi lên và bảo chúng tôi cần đóng góp vào chiến dịch của một vài chính khách, một khoản đóng góp “đề nghị” theo một tỷ lệ nhất định trong thu nhập của chúng tôi. Các chính khách này nghe nói là “tốt”. “Tốt” ở đây có nghĩa là tốt cho hoạt động ngân hàng đầu tư, họ sẽ giúp ban hành những luật lệ bảo vệ hoạt động ngân hàng. Nếu tôi làm điều đó, tôi hẳn không còn tư cách đạo đức để đưa ra một quan điểm chính trị “vì lợi ích công chúng” được nữa.
Trong một câu chuyện được truyền đạt thật hay qua nhiều thế kỷ, Demades xứ Athens khinh bỉ một người mua bán đồ tang lễ dựa trên lập luận rằng gã chỉ có thể kiếm lời bằng cái chết của nhiều người. Montaigne, diễn đạt lại quan điểm của Seneca trong quyển sách De beneficiis, lập luận rằng, nếu thế, chắc hẳn chúng ta phải khinh bỉ mọi ngành nghề. Theo ông, người lái buôn chỉ phát đạt thông qua làm hư hỏng giới trẻ, nhà nông khấm khá bằng cách bán ngũ cốc với giá đắt, kiến trúc sư giàu có nhờ những tòa nhà sụp đổ, luật sư và viên chức tư pháp hoạt động nhờ các vụ kiện và tranh chấp. Bác sĩ chẳng vui vẻ gì trước sự khỏe mạnh của ngay cả bạn bè mình, người lính không mong muốn hòa bình trên đất nước họ, vv… Và thậm chí tệ hơn, nếu chúng ta đi sâu vào nội tâm con người cùng những suy nghĩ và động cơ thầm kín, ta sẽ thấy những ước muốn và hy vọng của họ gần như không tránh khỏi đạt được bằng tổn thất của những người khác.
Nhưng Montaigne và Seneca hoi quá khoan dung với lòng vị kỷ và bỏ qua một điều khá quan trọng. Rõ ràng, họ thấu hiểu rằng đời sống kinh tế không nhất thiết phụ thuộc vào những động cơ vị tha, và tổng thể vận hành khác với cá nhân. Thật ngạc nhiên, Seneca ra đời trước Adam Smith khoảng 18 thế kỷ, còn Montaigne trước Smith khoảng ba thế kỷ, nên chúng ta khá ấn tượng với tư duy của họ trong khi vẫn giữ lại cảm giác ghê tởm trước tính gian xảo cơ bản của con người. Từ thời Adam Smith, ta đã biết rằng tập thể không đòi hỏi sự chí công vô tư của cá nhân, vì quyền lợi cá nhân vẫn có thể là động lực của tăng trưởng. Nhưng tất cả điều này không làm cho con người trở nên không đáng tin cậy trong ý kiến cá nhân của họ về tập thể, vì mọi người đều liên lụy rủi ro lẫn nhau.
Điều mà Montaigne và Seneca bỏ sót, ngoài khái niệm dấn thân và chấp nhận rủi ro về phía mình trong cuộc chơi, là người ta có thể vạch một đường ranh giới với các vụ việc công. Họ bỏ sót vấn đề xung đột quyền lợi giữa người ủy quyền và người đại diện - cho dù người ta đã biết đến vấn đề này trên phương diện thực hành (Hammurabi, các Nguyên tắc vàng), vấn đề này không nằm trong ý thức của họ.
Vấn đề không phải ở chỗ, kiếm sống bằng một nghề nào đó là vốn dĩ xấu xa; mà đúng hơn, đó là, người như thế tự động trở nên đáng ngờ khi xử lý những vụ việc công, những vấn đề liên quan đến những người khác. Định nghĩa về con người tự do theo Aristotle, là người tự do với các quan điểm của mình, như một tác dụng phụ của trạng thái tự do vào thời của ông.
Tự do theo ý nghĩa này chỉ là vấn đề trung thực trong các quan điểm chính trị.
Người Hy Lạp nhìn nhận thế giới theo ba ngành nghề. Banausikai technai: nghề thủ công; polemike techne: nghề chiến chinh; và georgia: nghề canh tác. Hai nghề sau, chinh chiến và canh tác, đáng quý đối với một người lịch thiệp - chủ yếu vì họ không vị kỷ và không vướng phải xung đột quyền lợi với tập thể. Nhưng người Athens xem thường người thợ thủ công làm việc kiếm sống trong những gian phòng tăm tối, chế tác sản phẩm, lúc nào cũng phải ngồi cặm cụi. Đối với Xenophon, nghề này làm suy yếu sức mạnh cơ bắp của người thợ, làm mềm nhụt tinh thần của họ, và khiến họ không còn thời gian dành cho bạn bè và thành phố. Nghệ thuật tầm thường bó buộc người ta trong công xưởng và thu hẹp mối quan tâm của họ trong phạm vi phúc lợi riêng; nghề chinh chiến và canh tác giúp người ta có phạm vi rộng lớn hơn để có thể tham gia cùng bạn bè và thành phố. Với Xenophon, nghề canh tác sinh ra và nuôi dưỡng những nghề khác. (Người cổ đại không có các công ty; nếu Xenophon sống vào thời nay, chắc ông sẽ chuyển thái độ bất tín của mình từ nghề thủ công sang người làm thuê trong công ty.)
Ngạn ngữ Ảrập và Hebrew có câu: Yad el hurr mizan / Yad ben horin moznayim - “bàn tay của người tự do là thước đo.” Chỉ có điều, người ta không hiểu rõ định nghĩa về tự do: Người có quan điểm riêng của mình là người tự do.
Đối với Metternich,152 nhân cách con người bắt đầu từ đẳng cấp quý tộc; đối với Aristotle cũng như người Anh mãi cho đến thế kỷ 20, dù dưới một dạng thức riêng, nhân cách con người bắt đầu ở hàng ngũ những người tự do rảnh rỗi, không bị vướng bận công việc. Điều đó không hề có nghĩa là không làm việc; mà chỉ có nghĩa là không xây dựng nhân cách và cảm xúc từ công việc, và xem công việc là điều gì đó tùy chọn, như một thú vui. Theo một cách nào đó, nghề nghiệp của bạn không xác định con người bạn cũng như những tính cách khác, ở đây là dòng dõi của bạn (nhưng nó có thể là điều gì khác). Nghề nghiệp chỉ là đồng tiền chết tiệt từng giúp Thales xứ Miletus đánh giá lòng trung thực của ông. Đối với những người Sparta, nhân cách con người hoàn toàn là lòng can đảm. Đối với Tony Béo, nhân cách con người bắt đầu ở trình độ “tự làm chủ”.
So với các nhà tư tưởng tiền bối, anh bạn to ngang của chúng ta cho rằng tự làm chủ thì dân chủ hơn nhiều. Đơn giản điều đó có nghĩa là làm chủ các quan điểm của mình. Và nó không liên quan gì đến của cải, dòng dõi, trí thông minh, hình thức bề ngoài, cỡ giày, mà đúng hơn, nó liên quan đến lòng can đảm.
Nói cách khác, đối với Tony Béo, định nghĩa vô cùng cụ thể về một con người tự do là: người tự do là người mà không ai có thể ép họ làm điều họ không muốn làm.
Hãy xem thử sự biến đổi tinh vi này từ Athens cho tới Brooklyn: nếu đối với người Hy Lạp, chỉ những người rảnh rỗi về thời gian mới tự do về quan niệm và tư tưởng, thì đối với anh bạn to ngang kiêm nhà tư vấn của chúng ta, chỉ những người có lòng can đảm mới tự do với quan điểm của mình. Những kẻ ẻo lả là bẩm sinh, chứ không phải là một tính cách mới hình thành. Họ vẫn ẻo lả bất kể họ độc lập như thế’ nào, bất kể họ giàu có ra sao.
Hãy xem thử một khía cạnh khác biệt nữa giữa các nhà nước tập quyền hiện đại trừu tượng và chính quyền địa phương. Trong một nhà nước thành bang cổ xưa, hay một chính quyền đô thị hiện đại, nỗi ô nhục là một biện pháp trừng phạt vi phạm đạo đức - làm cho sự việc trở nên đối xứng hơn. Trục xuất và lưu đày, hay tệ hơn, phát vãng, là những biện pháp trừng phạt nghiêm khắc - người ta không bỏ xứ mà đi một cách tự nguyện và xem sự tha hương mất gốc là một thảm họa kinh khủng. Trong những hệ thống tổ chức lớn như nhà nước tập quyền siêu thần thánh, với vai trò nhỏ bé hơn của sự chạm trán đối mặt và cội rễ xã hội, nỗi ô nhục không còn phát huy vai trò trừng phạt nữa. Ta cần tái lập điều này.
Và ngoài nỗi ô nhục, còn có sự kết giao bằng hữu, xã hội hóa trong một môi trường nhất định, trở thành thành viên của một nhóm lợi ích có quyền lợi xa rời quyền lợi tập thể. Cleon, vị anh hùng trong cuộc chiến Peloponnese, kêu gọi từ bỏ bạn bè khi nhận lãnh nhiệm vụ công - ông trả giá cho điều đó bằng sự xỉ vả của các sử gia.
Một giải pháp đơn giản, nhưng khá ngoạn mục: ai tham gia vào hoạt động dịch vụ công không được phép có thu nhập sau đó từ bất kỳ hoạt động thương mại nào cao hơn thu nhập của công chức hưởng lương cao nhất. Điều đó hệt như một giá trị giới hạn tối đa tự nguyện (nó sẽ ngăn người ta không sử dụng chức vụ công làm một chỗ đứng tạm thời để xây dựng thanh thế, rồi ra phố Wall nhận thu nhập hàng triệu đôla). Điều này sẽ đưa những người khổ hạnh lên nhậm chức.
Cũng giống như Cleon bị nhiếc móc, trong thế giới hiện đại, dường như có một vấn đề trái ngược với sự xung đột quyền lợi, bất công cho những người làm điều phải: bạn phục vụ công chúng nhưng phải trả giá bằng những chiến dịch bôi nhọ và xúc phạm. Nhà hoạt động xã hội Ralph Nader chịu đựng vô số chiến dịch bôi nhọ khi ngành ô tô săn đuổi ông.
ĐẠO LÝ VÀ PHÁP LÝ
Tôi cảm thấy hổ thẹn vì đã không vạch trần trò bất lương sau đây trong một thời gian dài. (Như tôi đã nói, nếu bạn thấy lừa đảo…) Ta hãy gọi đó là vấn đề Alan Blinder.
Câu chuyện như sau. Ở Davos, trong một buổi cà phê chuyện trò riêng tư mà tôi nghĩ là nhằm mục đích cứu thế giới thoát khỏi tâm lý ỷ lại và vấn đề xung đột quyền lợi giữa người ủy quyền và người đại diện, cùng những thứ khác, Alan Blinder, nguyên phó chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ, đã ngắt lời tôi, cố gắng thuyết phục tôi về một sản phẩm đầu tư đặc biệt nhằm lừa đảo người nộp thuế một cách họp pháp. Sản phẩm này cho phép những nhà đầu tư có giá trị đầu tư ròng cao tránh né được các quy định giới hạn bảo hiểm tiền gửi (vào lúc đó là 100.000 đôla) và hưởng lợi nhờ mức đền bù gần như không giới hạn. Nhà đầu tư sẽ ký gửi số tiền bất kỳ và công ty của giáo sư Blinder sẽ chia số tiền thành những tài khoản nhỏ rồi đầu tư vào các ngân hàng, qua đó thoát khỏi quy định giới hạn bảo hiểm tiền gửi; nó sẽ như một tài khoản duy nhất nhưng sẽ được bảo hiểm toàn bộ. Nói cách khác, nó cho phép những người siêu giàu đánh lừa người nộp thuế thông qua nhận bảo hiểm miễn phí từ chính phủ. Vâng, đánh lừa người nộp thuế. Một cách hợp pháp. Với sự giúp đỡ của vị cựu quan chức nhà nước vốn có lợi thế nội bộ.
Tôi buột miệng: “Thế chẳng phải là trái đạo lý à?” Rồi tôi nghe ông đáp lời: “Điều này hoàn toàn hợp pháp”, cộng thêm việc quy trách nhiệm “trong tổ chức nhân sự của chúng tôi có vô khối người nguyên là các cán bộ quản lý điều tiết”, (a) ngụ ý rằng điều gì hợp pháp cũng là hợp đạo lý và (b) khẳng định rằng những người nguyên là cán bộ quản lý điều tiết có lợi thế hơn dân thường.
Phải mất một thời gian dài, đôi ba năm, tôi mới phản ứng trước sự kiện này và thực hiện việc cáo buộc công khai. Alan Blinder chắc chắn không phải là kẻ vi phạm đạo đức tồi tệ nhất theo nhận thức của tôi; ông có lẽ đã làm cho tôi khó chịu vì cương vị công bộc của ông trước kia, trong khi cuộc chuyện trò ở Davos là nhằm cứu thế giới thoát khỏi những điều xấu xa (tôi đang trình bày với ông ý tưởng của mình về việc các ngân hàng đang hành động rủi ro bằng tổn thất của người nộp thuế). Nhưng những gì tôi có ở đây là một mô hình về cách thức người ta lợi dụng chức vụ công để hưởng lợi một cách hợp pháp từ công chúng.
Hãy cho tôi biết liệu bạn có cảm nhận vấn đề một cách hết sức đơn giản hay không: những người nguyên là quan chức quản lý điều tiết và công chức chính phủ được tuyển dụng đại diện cho quyền lợi của công chúng nhưng lại có thể sử dụng khả năng chuyên môn và các mối quan hệ có được nhờ công việc để kiếm lợi từ những trục trặc trong hệ thống dựa vào việc liên kết với tư nhân, các công ty luật vv…
Thử nghĩ xa hơn một chút: quy định càng phức tạp, mạng lưới càng quan liêu, người cán bộ nhà nước vốn am hiểu các kẽ hở và trục trặc nhờ đó càng kiếm lợi nhiều hơn về sau, vì lợi thế quản lý của ông sẽ là một hàm số có dạng lồi theo kiến thức riêng của ông. Đây là một đặc quyền kinh doanh, một tình trạng phi đối xứng mà người ta đạt được bằng tổn thất của những người khác. (Lưu ý rằng đặc quyền kinh doanh này lan tràn khắp nền kinh tế; hãng ô tô Toyota tuyển dụng các vị nguyên cán bộ quản lý điều tiết của Hoa Kỳ và sử dụng “tài chuyên môn” của họ để giải quyết các vụ điều tra lỗi kỹ thuật xe ô tô của họ.)
Bây giờ đến giai đoạn hai - sự việc trở nên tồi tệ hơn. Blinder và hiệu trưởng trường Kinh doanh thuộc Đại học Columbia viết một bài ý kiến phản đối việc chính phủ tăng mức giới hạn bảo hiểm tiền gửi đối với cá nhân. Bài báo lập luận rằng công chúng không nên có mức bảo hiểm vô hạn mà khách hàng của Blinder đang được hưởng.
Một vài nhận xét.
Thứ nhất, quy định càng phức tạp, những kẻ nội bộ càng có xu hướng kinh doanh kiếm lợi. Đây là một lập luận khác ủng hộ các quy tắc kinh nghiệm. Hai mươi ba trang quy định - mà tôi có thể thay bằng quy tắc của Hammurabi - sẽ là mỏ vàng cho vị cựu cán bộ quản lý nhà nước. Động cơ của một cán bộ quản lý là muốn có một quy định phức tạp. Một lần nữa, những kẻ nội bộ là kẻ thù của nguyên tắc càng đơn giản càng tốt.
Thứ hai, sự khác biệt giữa văn bản luật pháp và tinh thần luật pháp thật khó dò tìm trong một hệ thống phức hợp. Văn bản trình bày một cách kỹ thuật, nhưng các môi trường phức hợp có tính phi tuyến thì dễ dàng đánh bạc hơn so với những môi trường tuyến tính chỉ có ít biến số. Điều này cũng áp dụng cho khoảng cách giữa pháp lý và đạo lý.
Thứ ba, ở các nước châu Phi, các quan chức chính phủ nhận hối lộ công khai. Ở Hoa Kỳ, họ có một cam kết ngầm ẩn, không bao giờ nói ra, là sau này họ sẽ làm việc cho một ngân hàng với mức lương ngồi mát ăn bát vàng cỡ 5 triệu đôla một năm, nếu họ được ngành đánh giá thuận lợi. Và “các quy định” về những hoạt động này thật dễ dàng vòng vo.
Điều làm tôi phiền lòng nhất về vấn đề Alan Blinder là phản ứng của những người mà tôi mang vấn đề này ra thảo luận với họ: người ta thấy một cựu quan chức cố gắng “kiếm tiền” nhờ vào cương vị trước đây - bằng tổn thất của chúng ta - là chuyện tự nhiên. Họ lập luận: Chẳng lẽ người ta không thích kiếm tiền?
Lý lẽ ngụy biện như một khả năng chọn lựa
Bạn luôn luôn có thể tìm ra một lập luận hay một quan điểm đạo đức để bảo vệ cho một ý kiến sau khi sự việc xảy ra. Đây là một điều nguy hiểm, nhưng cũng hệt như việc chọn lựa thời cơ và số liệu thuận lợi, người ta nên vạch ra nguyên tắc đạo đức trước khi hành động, chứ không phải sau khi hành động. Bạn muốn ngăn chặn việc bao biện sao cho phù hợp với những gì bạn đang làm - “lý lẽ ngụy biện”, nghệ thuật lập luận các sắc thái của các quyết định, chính là điều đó, là sự tường thuật bao biện.
Trước tiên, tôi xin định nghĩa về một ý kiến lừa đảo. Nói đơn giản, đó là một ý kiến đưa ra vì lợi ích nhóm nhưng được khái quát hóa thành điều tốt tập thể - ví dụ một người thợ cắt tóc đề nghị một kiểu tóc “vì sức khỏe của mọi người”, hay một tay vận động hành lang về súng ống cho rằng sở hữu súng là “tốt cho nước Mỹ”. Họ đưa ra những nhận định có lợi cho cá nhân họ, nhưng được tô vẽ như thể họ làm điều đó vì lợi ích tập thể. Nói cách khác, có phải họ nằm trong cột bên trái bảng 7? Tương tự, Alan Blinder viết rằng ông phản đối việc bảo hiểm tiền gửi phổ cập, không phải vì công ty ông sẽ mất việc, mà vì điều tốt cho công chúng.
Nhưng ta có thể dễ dàng tự khám phá, bằng một câu hỏi đơn giản. Tôi đang ở đảo Síp trong một bữa tối hội nghị, trong đó một diễn giả khác, một giáo sư công trình hóa dầu người Síp ở một trường đại học Mỹ, đang huênh hoang chống lại nhà hoạt động bảo vệ khí hậu, ngài Nicholas Stern. Stern cũng tham dự hội nghị nhưng không có mặt trong bữa tối. Vị giáo sư người Síp cực kỳ sôi nổi. Tôi không am hiểu những vấn đề này, nhưng nhận ra khái niệm “không có bằng chứng” trộn lẫn với “bằng chứng không có” và vớ ngay lấy điều đó để bảo vệ Stern, người tôi chưa từng gặp mặt. Vị giáo sư hóa dầu nói rằng chúng ta không có bằng chứng rằng nhiên liệu hóa thạch gây hại cho hành tinh, và biến quan điểm của ông về mặt ngữ nghĩa trở nên tương đương với nhận định rằng ta có bằng chứng cho thấy nhiên liệu hóa thạch không gây hại, trong bối cảnh ra quyết định. Ông sai lầm khi nói rằng Stern đang đề xuất việc bảo hiểm phòng ngừa vô ích, khiến tôi lao vào hỏi ông, vậy ông có bảo hiểm ô tô, bảo hiểm nhân thọ và các hình thức bảo hiểm khác cho những biến cố đã không xảy ra hay không, kiểu lập luận đó. Tôi bắt đầu giải thích rằng chúng ta đang làm một điều mới mẻ cho hành tinh, rằng chính những người đang phá rối các hệ thống tự nhiên mới là người phải trưng ra bằng chứng, rằng Mẹ Thiên Nhiên am hiểu nhiều hơn ông, chứ không phải ngược lại. Nhưng cũng hệt như nói với một luật sư bào chữa - ngụy biện và không đi tới chân lý.
Rồi suy nghiệm chợt nảy ra. Tôi kín đáo hỏi một nhân viên tổ chức ngồi cạnh tôi xem vị giáo sư được lợi gì từ lập luận của ông: hóa ra ông có quan hệ sâu sắc với các công ty dầu, là một nhà tư vấn, nhà đầu tư, và nhà cố vấn. Ngay lập tức tôi mất đi sự quan tâm đến những gì ông nói và mất cả năng lượng tranh luận với ông trước những người khác - những lời nói của ông trở nên vô giá trị, chỉ là những lời nói nhảm.
Lưu ý xem điều này khớp với ý tưởng về tinh thần dấn thân và chấp nhận rủi ro về phía mình trong cuộc chơi như thế nào. Nếu ai đó đưa ra một quan điểm, chẳng hạn như hệ thống ngân hàng đang mỏng manh và sẽ sụp đổ, tôi muốn người đó thực hiện việc đầu tư theo nhận định của mình, để họ cũng bị thiệt hại nếu những người tin vào nhận định của họ bị thiệt hại - như một bằng chứng rằng họ không phải kẻ nói suông. Nhưng khi những nhận định tổng quát về phúc lợi tập thể được đưa ra, thay vì thế, điều cần thiết là không đầu tư. Nghĩa là phản đề, tiết chế.
Tôi vừa trình bày cơ chế thao túng luân thường đạo lý, trong đó người ta điều chỉnh niềm tin của họ theo hành động, chứ không phải điều chỉnh hành động theo niềm tin. Bảng 8 so sánh các ngành nghề có hay không có xu hướng thao túng luân thường đạo lý như vậy.
BẢNG 8. SO SÁNH CÁC NGÀNH NGHỀ VÀ HOẠT ĐỘNG
| CÓ XU HƯỚNG TRỞ THÀNH KẺ CƠ HỘI (ĐIỀU CHỈNH ĐẠO ĐỨC THEO NGHỀNGHIỆP) | KHÔNG BỊ CUỐN VÀO TRÒ CHƠI ĐẠO ĐỨC GIẢ |
| Phụ nữ dùng sắc đẹp để bòn tiền đàn ông | Gái làng chơi |
| Người hoạt động trong mạng lưới | Người hoạt động xã hội |
| Những người thỏa hiệp | Không thỏa hiệp |
| Người “cố gắng giúp đỡ” | Người uyên bác, tay chơi tài tử, nghiệp dư |
| Thương buôn, nhà chuyên môn (thời cổ đại) | Địa chủ (thời cổ đại) |
| Nhân viên công ty, người làm thuê | Thợ thủ công |
| Học giả ở các trường đại học nghiên cứu, nhà nghiên cứu phụ thuộc vào “trợ cấp nghiên cứu” | Thợ làm kính, thầy dạy triết ở trường cao đẳng hay trung học Lycée, các học giả độc lập |
Có một hiện tượng trái ngược với vấn đề Alan Blinder, gọi là “bằng chứng đi ngược lại quyền lợi cá nhân.” Ta nên coi trọng nhân chứng và những ý kiến đi ngược lại lợi ích riêng của chính người nêu ý kiến. Một dược sĩ hay giám đốc công ty dược kêu gọi ăn kiêng và các phương pháp tiết chế phản đề để chữa bệnh tiểu đường sẽ đáng tin cậy hơn so với những người ủng hộ việc uống thuốc.
DỮ LIỆU LỚN VÀ QUYỀN CHỌN CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU
Phần này có đôi chút toán học, nên độc giả có thể bỏ qua mà không ảnh hưởng gì. Nhưng khả năng chọn lựa tồn tại ở mọi noi, nên đây là nơi ta thảo luận về một kiểu chọn lựa dữ liệu có lợi bỏ qua dữ liệu bất lợi dẫn đến phá hỏng toàn bộ tinh thần nghiên cứu và làm cho tình trạng tràn ngập dữ liệu trở nên cực kỳ có hại đối với tri thức. Nhiều dữ liệu hơn có nghĩa là nhiều thông tin hơn, nhưng cũng có nghĩa là nhiều thông tin sai hơn. Ta nhận thấy ngày càng có ít bài báo nghiên cứu được lặp lại - sách giáo khoa ngành tâm lý học chẳng hạn, cần phải sửa đổi. Còn về ngành kinh tế học, bạn nên quên nó đi. Bạn khó lòng tin tưởng nhiều ngành khoa học dựa vào thống kê, nhất là khi nhà nghiên cứu chịu sức ép phải có công bố các nghiên cứu trong sự nghiệp của mình. Thế mà người ta vẫn tiếp tục đưa ra luận điệu “nâng cao tri thức.”
Nhớ lại khái niệm hiện tượng phụ như sự phân biệt giữa đời sống thực tế và thư viện. Những người ngồi trong thư viện xem xét lịch sử nhất thiết sẽ thấy nhiều mối quan hệ giả mạo hơn so với những người tận mắt chứng kiến sự việc theo trình tự thông thường như ta quan sát trong đời sống thực tế. Họ sẽ bị đánh lừa bởi những hiện tượng phụ; một trong những hiện tượng phụ đó là hệ quả trực tiếp của tình trạng dư thừa dữ liệu so với tín hiệu thực thụ.
Ta đã thảo luận về sự gia tăng độ nhiễu trong chương 7. Ở đây nó trở thành một vấn đề tệ hại hơn, vì nhà nghiên cứu có khả năng chọn lựa, chẳng khác gì khả năng chọn lựa của một nhà ngân hàng. Nhà nghiên cứu chọn lấy phần lợi, còn chân lý phải gánh chịu thiệt hại. Quyền chọn miễn phí của nhà nghiên cứu nằm ở khả năng chọn bất kỳ số liệu thống kê nào giúp xác nhận niềm tin của mình - hay trình bày một kết quả tốt - và vứt đi những số liệu hay kết quả còn lại. Nhà nghiên cứu có quyền chọn dừng một khi ông ta có kết quả đúng. Nhưng ngoài ra, ông ta còn có thể tìm những mối tương quan thống kê - những mối tương quan không đích thực nổi lên bề mặt. Dữ liệu có một thuộc tính chắc chắn: trong những tập hợp dữ liệu lớn, những biến thiên lớn có thể quy cho độ nhiễu (hay phương sai) chứ không phải là thông tin (hay tín hiệu).153
Trong nghiên cứu y khoa có sự khác biệt giữa (a) các nghiên cứu quan sát, trong đó nhà nghiên cứu nhìn vào mối quan hệ thống kê trên máy tính, và (b) các thực nghiệm thực hiện trên các nhóm đối tượng hoàn toàn khách quan, từ đó rút ra thông tin sát thực tế.

HÌNH 18. Bi kích của dữ liệu lớn (Big Data). Càng nhiều biến số, các mối tương quan càng thể hiện ý nghĩa thống kê trong bàn tay của các nhà nghiên cứu “lão luyện”. Sự giả dối tăng nhanh hơn thông tin; sự giả dối có mối quan hệ phi tuyến (dạng lồi) theo số liệu.
Loại nghiên cứu thứ nhất, quan sát từ máy tính, tạo ra đủ thứ kết quả mà chí ít có đến tám phần mười có xu hướng giả mạo, theo tính toán của John loannides;154 nhưng các nghiên cứu quan sát này vẫn được tường thuật trên báo chí và một số tạp chí khoa học. May thay, các nghiên cứu quan sát này không được Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp nhận, vì các nhà khoa học của họ am hiểu hơn. Stan Young155 vĩ đại, nhà hoạt động xã hội chống lại số liệu thống kê giả mạo, và tôi, đã tìm thấy một nghiên cứu dựa vào di truyền học trong tờ The New England Journal of Medicine xác nhận ý nghĩa của số liệu thống kê, trong khi các kết quả đối với chúng ta chẳng qua chỉ là ngẫu nhiên. Chúng tôi viết thư cho tòa soạn nhưng không có kết quả.
Hình 18 trình bày số liệu bị thổi phồng về những mối quan hệ có tiềm năng giả mạo. Ý tưởng như sau. Nếu tôi có một tập hợp 200 biến ngẫun hiên, hoàn toàn không tương quan với nhau, vậy thì gần như không thể tìm được trong đó một mối tương quan cao nào cả, như 30 phần trăm chẳng hạn, nhưng điều đó hoàn toàn không đúng. Có những kỹ thuật để kiểm soát việc chọn dữ liệu có lợi bỏ qua dữ liệu bất lợi [cherrypicking] (một trong những kỹ thuật đó là phép điều chỉnh Bonferoni), nhưng thậm chí khi ấy, người ta cũng không bắt được thủ phạm - hệt như việc các quy định vẫn không giúp ngăn những kẻ nội bộ đánh bạc với hệ thống. Đó là lý do trong khoảng 12 năm nay kể từ khi chúng ta giải mã bộ gene người, ta vẫn không tìm thấy nhiều ý nghĩa. Tôi không nói rằng trong dữ liệu không có thông tin: vấn đề nằm ở chỗ, chúng ta phải mò kim đáy bể.
Mà ngay cả các thực nghiệm cũng bị hỏng bởi định kiến: các nhà nghiên cứu có động cơ chọn lọc phép thực nghiệm sao cho tương ứng với những gì họ đang tìm kiếm, che giấu những nỗ lực thất bại. Họ cũng có thể xây dựng một giả thuyết sau khi có các kết quả thực nghiệm, nghĩa là điều chỉnh giả thuyết theo thực nghiệm. Tuy vậy, định kiến này đỡ hơn so với trường hợp trên.
Hiệu ứng “mắc lừa-bởi-dữ liệu” (fooled-by-data) ngày càng gia tăng. Có một hiện tượng trêu ngươi, được gọi là “dữ liệu lớn” (big data), trong đó các nhà nghiên cứu đưa việc chọn dữ liệu thuận lợi bỏ qua dữ liệu bất lợi lên cấp độ ngành. Tính hiện đại dẫn đến quá nhiều biến số (nhưng quá ít dữ liệu cho mỗi biến số), và các mối quan hệ giả mạo tăng nhanh hơn nhiều so với thông tin thực sự, vì mối quan hệ giữa độ nhiễu và biến số có dạng lồi, trong khi mối quan hệ giữa thông tin và biến số có dạng lõm.
Càng gia tăng, dữ liệu càng chỉ có thể thật sự mang lại tri thức theo kiểu phản đề, nghĩa là chỉ có thể dùng để phủ định chứ không phải để khẳng định.
Bi kịch nằm ở chỗ, thật khó lòng tìm nguồn tài trợ để lặp lại - và bác bỏ - những nghiên cứu hiện có. Và ngay cả nếu có tiền để làm điều đó, cũng khó tìm được người lên tiếng: cố gắng lặp lại các nghiên cứu không giúp người ta trở thành anh hùng. Vì thế, ta trở nên tê liệt bởi tình trạng mất niềm tin vào các kết quả thực nghiệm, ngoại trừ những kết quả phủ định. Quay lại với ý tưởng lãng mạn của tôi về những người nghiệp dư và giới tu sĩ Anh thích uống trà, trong khi đó các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp cạnh tranh nhau để “tìm” các mối tương quan. Khoa học không phải là một cuộc cạnh tranh và không nên xếp hạng khoa học; bằng không, chúng ta có thể thấy hệ thống cuối cùng sẽ bị nổ tung như thế nào. Trong lĩnh vực tri thức, không được có vấn đề xung đột quyền lợi giữa người ủy quyền và người đại diện.
SỰ CHUYÊN CHẾ CỦA TẬP THỂ
Sai lầm tập thể, chứ không phải cá nhân, là đặc điểm phân biệt của tri thức có tổ chức, và cũng là lập luận thuyết phục nhất chống lại nó. Ở đâu ta cũng thấy tràn ngập những lập luận theo kiểu “vì ai cũng làm thế” hay “đó là cách làm của những người khác”. Điều này không tầm thường nhỏ nhặt chút nào: người ta không làm điều gì một mình, vì họ thấy thật là dại dột khi làm như thế, ngoại trừ làm cùng cả nhóm. Và đây là nơi mà giới học thuật trong cơ cấu tổ chức của họ có xu hướng vi phạm khoa học.
Một nghiên cứu sinh ở Đại học Massachusetts, Chris S., từng bảo tôi rằng anh tin vào ý tưởng “đuôi béo” và thái độ hoài nghi của tôi đối với các phương pháp quản lý rủi ro hiện nay, nhưng niềm tin đó không giúp anh kiếm được việc làm trong lĩnh vực học thuật. “Đó là những gì mọi người giảng dạy và sử dụng trong các bài báo,” anh nói. Một sinh viên khác giải thích rằng anh muốn có việc làm ở một trường đại học tốt để có thể kiếm tiền bằng cách chứng thực như một nhân chứng chuyên gia - và họ sẽ không chấp nhận các ý tưởng của tôi về quản lý rủi ro vì “mọi người đều sử dụng các sách giáo khoa này.” Tương tự, tôi được nhà quản lý một trường đại học mời giảng dạy về các phương pháp rủi ro tiêu chuẩn mà tôi tin là hoàn toàn lừa bịp (tôi đã từ chối). Trên cương vị giáo sư, nhiệm vụ của tôi là giúp sinh viên kiếm việc làm bằng tổn thất của xã hội, hay là thực hiện các nghĩa vụ công dân của mình? Nếu vế đầu là đúng, thì kinh tế học và các trường kinh doanh là một vấn đề đạo đức nghiêm trọng, bởi vì quan niệm này được khái quát hóa và cũng là lý do khiến kinh tế học vẫn chưa sụp đổ bất chấp sự vô nghĩa hiển nhiên trong đó; và sự vô nghĩa này đã được chứng minh bằng khoa học. (Trong bài báo “góc tọa độ thứ tư” của tôi - xem thảo luận trong phần phụ lục - tôi đã chứng minh các phương pháp này không có giá trị thực nghiệm, và cũng không nhất quán về mặt toán học một cách nghiêm ngặt, hay nói cách khác, chỉ là sự lừa đảo khoa học). Nên nhớ các giáo sư không bị trừng phạt khi họ rao giảng những thứ làm nổ tung hệ thống tài chính, kéo dài mãi mãi sự dối lừa. Các khoa cần giảng dạy thứ gì đó để sinh viên kiếm việc làm, ngay cả nếu họ giảng những thứ thuốc son đông mãi võ lừa bịp - điều này khiến chúng ta bị mắc bẫy trong một hệ thống xoay vòng, trong đó mọi người đều biết tài liệu giảng dạy là sai nhưng không ai có đủ tự do hay đủ can đảm để làm điều gì đó.
Vấn đề nằm ở chỗ, có một nơi trên hành tinh này mà người ta không thể sử dụng lập luận “những người khác nghĩ thế”, ấy là trong khoa học: khoa học chính xác là về những lập luận đứng vững trên đôi chân của mình, và những gì đã được chứng minh là sai qua thực nghiệm hay toán học, bất kể một trăm hay ba nghìn tỉ “chuyên gia” không đồng ý. Và chính việc sử dụng “những người khác” để chống đỡ cho lập luận của mình cũng cho thấy người đó - hay toàn bộ tập thể bao gồm “những người khác” - chỉ là những kẻ nhu nhược. Phần phụ lục sẽ trình bày những gì đã bị nổ tung trong kinh tế học, và những gì người ta đang tiếp tục sử dụng bởi vì sai lầm không gây thiệt hại cho họ, và đó cũng là chiến lược tối ưu để giữ việc làm hay được thăng tiến.
Nhưng tin tốt lành là, tôi tin rằng chỉ cần một người có lòng can đảm thôi cũng đủ để hạ bệ một tập thể bao gồm những kẻ nhu nhược.
Và một lần nữa, chúng ta cần quay lại lịch sử để tìm biện pháp cứu chữa. Các bộ kinh đã nhận thức được vấn đề phân tán trách nhiệm này và khép tội những người hùa theo đám đông để làm điều xấu, cũng như chứng thực giả mạo để phù hợp với đám đông.
Tôi khép lại tập VII bằng một suy nghĩ. Bất kỳ khi nào tôi nghe câu “Tôi có đạo đức”, tôi đều cảm thấy căng thẳng. Khi tôi nghe nói về những lớp học đạo đức, tôi lại càng căng thẳng hơn. Tôi chỉ muốn loại trừ quyền chọn, muốn người ta không còn đạt được khả năng cải thiện nghịch cảnh bằng tổn thất của những người khác. Đơn giản là thông qua phương pháp phản đề. Phần còn lại sẽ tự lo liệu.