Kiếm Sĩ Không Trái Tim

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3. Nàng Thơ Của Hài Kịch
Chương 3. Nàng Thơ Của Hài Kịch

❊ ❊ ❊

Sự xuất hiện của đoàn kịch tại thị trấn Guichen, nếu không phải là một cuộc khải hoàn tưng bừng như Binet từng bày tỏ mong muốn được chứng kiến, thì ít nhất cũng đủ gây ấn tượng và ầm ĩ để khiến các cư dân sở tại mộc mạc phải tròn mắt. Với họ, những nhân vật lạ lùng này có vẻ là - mà quả tình đúng là - các sinh vật tới từ một thế giới khác.

Đi đầu là cỗ xe ngựa lớn, vừa phát ra tiếng lọc xọc vừa kêu cót két, được hai con ngựa giống Flanders kéo. Pantaloon là người đánh xe, một Pantaloon béo phệ đồ sộ mặc bộ đồ chật căng màu đỏ chói trong chiếc áo ngủ dài thượt màu nâu, khuôn mặt ông chủ gánh được trang hoàng bằng một cái mũi lớn tướng bằng bìa các tông. Ngồi cạnh ông ta trên ghế đánh xe là Pierrot trong chiếc áo khoác trắng, hai tay áo trùm kín cả bàn tay, quần thụng trắng, và chiếc mũ trùm đen bó sát đầu. Anh ta đã dùng bột xoa lên mặt trắng phớ, và gây ra những âm thanh chói tai bằng cây kèn trumpet.

Trên nóc xe tập hợp Polichinelle, Scaramouche, Harlequin và Pasquariel. Polichinelle mặc hai màu đen và trắng, chiếc áo chẽn được cắt may theo mốt thời trang của một thế kỷ trước, với hai cái bướu nhô lên cả đằng trước lẫn đằng sau, cổ áo xếp nếp vòng quanh cổ, và mặt nạ màu đen đeo ở nửa trên khuôn mặt. Ông ta đứng giữa với hai chân dang rộng ra để chống đỡ thân hình, trang trọng nện bùm bụp xuống cái trống lớn. Ba người còn lại ngồi mỗi người một góc, chân thò xuống đu đưa. Scaramouche tuyền một màu đen trong trang phục Tây Ban Nha thế kỷ 17, khuôn mặt được tô điểm bằng bộ ria mép, còn đôi tay đang làm vang lên từ cây đàn ghi ta những âm thanh chói tai. Harlequin, rách tướp, vá víu với đủ bảy sắc cầu vồng, mang trên người chiếc thắt lưng da và thanh kiếm gỗ, nửa trên khuôn mặt trát đầy bồ hóng, thỉnh thoảng lại đập cặp chũm chọe trong tay một cái. Pasquariel, đang vào vai dược sư với chiếc mũ trùm bó sát đội trên đầu và một cái tạp dề trắng, kích thích sự vui vẻ trong đám đông đang dõi theo nhờ vào cái ống thụt bằng thiếc to tướng, cứ mỗi khi bơm lại phát ra một tiếng kêu buồn thảm.

Ngồi trong xe, nhưng thoải mái trưng ra nhan sắc của mình qua các khung cửa, và không ngớt trao đổi những lời đùa cợt với đám đông dân chúng trong thị trấn, là ba quý bà quý cô của đoàn kịch. Climene, cô thiếu nữ đang yêu, lộng lẫy trong bộ váy xa tanh hoa, những lọn tóc thật được giấu dưới bộ tóc giả hình quả bí ngô, mang trên mình đầy dáng vẻ của một quý cô hợp thời trang tới mức chắc hẳn khiến người ta phải tự hỏi không biết nàng làm gì giữa đám người hỗn tạp kỳ dị này. Phu nhân, trong vai người mẹ, cũng ăn mặc lộng lẫy, nhưng phóng đại để đạt được vẻ lố bịch. Vật đội đầu của bà ta là một thứ cấu trúc kinh khủng được trang hoàng bằng hoa và điểm xuyết lông đà điểu. Columbine ngồi đối diện họ, quay lưng về phía hai con ngựa kéo xe, làm ra vẻ khép nép, đội mũ nỉ muslin trắng, và mặc một chiếc váy kẻ sọc màu lục và lam.

Điều kỳ diệu là cỗ xe cũ kỹ đó, vốn có thể từng được dùng làm phương tiện đi lại cho một chức sắc nào đó của Nhà thờ trong những ngày vàng son của nó, đã không đổ sập xuống mà chỉ đơn thuần rên rỉ cọt kẹt dưới gánh nặng quá tải và khôi hài đó.

Tiếp theo là ngôi nhà lưu động, được dẫn đi bởi anh chàng Rhodomont cao lênh khênh khẳng khiu, lúc này đã bôi đỏ cả khuôn mặt, và làm tăng thêm vẻ hung dữ của nó bằng một cặp ria mép ghê gớm. Anh ta đi một đôi ủng ống cao đến đùi và mặc áo chẽn da, đeo bên hông thanh kiếm to tướng với dây đeo kiếm màu đỏ thắm vắt chéo qua vai. Trên đầu anh ta đội mũ phớt có cắm cọng lông oặt ẹo bẩn thỉu, và vừa tiến bước anh chàng vừa cất lên cái giọng điếc tai không ngớt tung ra những lời thách thức, những lời đe dọa sặc mùi chết chóc mà anh ta sẽ giáng xuống đầu từng người một. Trên nóc ngôi nhà lưu động này chỉ có một mình Leandre ngồi. Anh này mặc bộ đồ xa tanh xanh với những búi đăng ten trang sức, một thanh kiếm nhỏ, mái tóc rắc bột, nốt ruồi giả và ống nhòm, kèm thêm đôi giày gót đỏ: một người tình lộng lẫy hoàn chỉnh trông rất bảnh trai. Các bà các cô của Guichen không ngớt liếc mắt với anh ta một cách tình tứ. Chàng diễn viên đón nhận những cái liếc mắt đưa tình đó như sự tán dương xứng đáng dành cho sức hấp dẫn của con người anh ta, và đáp lại đầy vẻ quan tâm. Cũng giống như Climene, anh ta trông thật lạc lõng giữa những thành viên còn lại có bộ dạng chẳng khác đám du đãng là bao của đoàn kịch.

Đi đoạn hậu là André-Louis, hai tay dắt hai con lừa kéo chiếc xe chở đồ. Anh đã khăng khăng muốn được đeo một cái mũi giả như một cách tô điểm cho bản thân, trong khi kỳ thực anh chỉ muốn dùng nó để cải trang. Còn lại, chàng trai trẻ vẫn giữ nguyên quần áo cũ. Chẳng ai bận tâm chú ý tới anh trong lúc anh thất thểu bước đi cạnh đôi lừa, một kẻ đi đoạn hậu tầm thường không đáng để ý tới, điều khiến anh rất hài lòng.

Họ đi vòng quanh thị trấn, vốn đã nhộn nhịp hơn lúc bình thường bởi những sự chuẩn bị cho hội chợ tuần tới. Thỉnh thoảng họ dừng lại, những âm thanh hỗn độn đột ngột im bặt, và Polichinelle cất giọng sang sảng thông báo vào lúc năm giờ chiều hôm đó tại khu chợ cũ, đoàn kịch ứng tác nổi tiếng của ông Binet sẽ trình diễn một vở hài kịch bốn hồi mới có tiêu đề “Người cha vô tâm”.

Cứ như thế, cuối cùng họ cũng tới khu chợ cũ, vốn là tầng trệt của tòa thị chính, mở thông thống ra ngoài qua hai cửa vòm chạy dọc hai bên theo chiều dài và một cửa vòm ở mỗi phía theo chiều rộng. Những khung cửa vòm này, với hai ngoại lệ, đều đã bị dùng ván che kín. Qua hai vòm cửa còn lại, vốn là lối dẫn vào nơi sắp trở thành rạp hát, những kẻ lang thang đầu đường xó chợ trong thị trấn, những kẻ keo kiệt không muốn bỏ ra vài đồng xu cần thiết để có thể danh chính ngôn thuận vào xem cũng có thể ngó trộm được ít nhiều buổi trình diễn.

Buổi chiều hôm đó quả là buổi chiều vất vả nhất trong đời André-Louis, vốn không quen với bất cứ công việc chân tay nào. Quãng thời gian này được sử dụng vào việc dựng sân khấu chuẩn bị phông màn ở một đầu chợ; và anh bắt đầu hiểu ra món tiền lương mười lăm livre một tháng này khó kiếm tới mức nào. Thoạt đầu có bốn người tham gia vào việc này - mà thực ra là ba, vì Pantaloon chẳng làm gì khác ngoài quát tháo ra lệnh, cởi bỏ bộ cánh bảnh bao ra, Rhodomont và Leandre giúp đỡ André-Louis trong việc dựng sân khấu. Trong lúc đó, bốn người còn lại ăn trưa cùng các quý bà quý cô của gánh. Khi những người này quay lại để làm tiếp công việc chừng nửa giờ sau đó, đến lượt André-Louis và những người cùng kíp đi ăn trưa, để lại quyền chỉ đạo công việc cũng như phụ giúp những người còn lại cho Polichinelle.

Bốn người đi qua quảng trường tới một nhà trọ rẻ tiền nơi họ đã chọn làm chỗ nghỉ chân. Trên lối đi hẹp, André-Louis chợt thấy mình đối diện với Climene, lúc này đã trút bỏ các phục trang sân khấu và quay trở lại dáng vẻ đời thường.

“Thế ông thấy công việc thế nào?” cô gái hỏi anh khá xấc xược.

Anh nhìn thẳng vào đôi mắt cô. “Cũng có những cái để bù lại,” anh đáp, với giọng nói lạnh lùng gây tò mò khiến người nghe phải tự hỏi liệu có thực anh muốn ám chỉ điều dường như anh đang ám chỉ hay không.

Cô gái cau mày. “Ông... ông đã cảm thấy cần có sự đền bù rồi sao?”

“Nói thực lòng, tôi đã cảm thấy điều đó ngay từ đầu,” anh nói. “Chính triển vọng này đã hấp dẫn tôi.”

Chỉ có hai người với nhau, những người khác đều đã vào trong căn phòng được thu xếp riêng cho đoàn kịch, nơi đồ ăn được dọn ra. André-Louis, một người hiểu biết cặn kẽ về Con Người bao nhiêu thì mơ hồ về Phụ Nữ bấy nhiêu, không thể biết, khi đột nhiên thấy mình ý thức thật rõ rệt nét nữ tính của cô gái, rằng chính cô bằng một cách tính tế khó nhận biết nào đó đã khiến anh cảm thấy như thế.

“Vậy,” cô gái hỏi anh, với vẻ ngây thơ bẽn lẽn nhất trần đời, “sự đền bù đó là gì?”

Anh chợt nhận ra mình đang ở bên bờ vực.

“Mỗi tháng mười lăm livre,” anh nói cụt lủn.

Trong khoảnh khắc, cô gái chăm chăm nhìn anh một cách ngỡ ngàng. Anh cảm thấy thật bối rối. Sau đó cô gái trấn tĩnh lại.

“Ồ, và cả chỗ ngủ và bàn ăn nữa,” cô nói. “Đừng quên chúng khi so đo tính toán, như có vẻ ông đang làm; vì bữa trưa của ông sắp nguội rồi đấy. Ông không tới ăn sao?”

“Cô vẫn chưa ăn sao?” anh thốt lên, và cô gái tự hỏi có phải vừa thoáng nghe thấy chút háo hức trong đó hay không.

“Không,” nàng vừa trả lời vừa quay lưng đi. “Tôi đang đợi.”

“Đợi cái gì vậy?” anh hỏi lại một cách chân thật, đầy hy vọng.

“Tôi cần thay đồ, tất nhiên rồi, đồ ngốc,” cô gái trả lời cộc cằn. Sau khi đã lôi chàng trai trẻ, như cô hình dung, lên thớt, cô không thể không cắm phập dao xuống. Nhưng chàng trai của chúng ta cũng thuộc loại người sẵn sàng chém lại.

“Và cô đã để cách cư xử lịch thiệp của mình ở lại trên lầu cùng với bộ trang phục của một quý cô, thưa tiểu thư. Tôi hiểu rồi.”

Khuôn mặt cô gái đỏ bừng như có lửa. “Ông thật hỗn xược,” cô nói với vẻ hậm hực.

“Tôi cũng vẫn hay được nhắc nhở như thế. Song tôi không tin vào điều này.” Anh mở cửa cho cô gái, và cúi người với thái độ hoàn toàn áp đảo cô, cho dù nó cũng chỉ là một cử chỉ sao chép từ Fleury của nhà hát Comédie Française nơi mà anh vẫn hay lui tới thời còn học ở trường Louis Đại đế, anh đưa tay mời cô vào. “Mời cô, tiểu thư của tôi.” Để nhấn mạnh, anh cố tình tách bạch từng từ một.

“Tôi xin cảm ơn ông, thưa ông,” cô gái trả lời với giọng lạnh như băng, và ở một con người duyên dáng đến thế, thái độ này chẳng khác gì sự mỉa mai khinh khỉnh, rồi bước vào, không nói thêm với anh một lời trong suốt bữa ăn. Thay vào đó, cô gái để tâm vào chăm sóc Leandre với thái độ ân cần bất thường và khủng khiếp tới mức làm anh ta sững sờ kinh ngạc, anh chàng khốn khổ vốn không thể nào thành công trong việc diễn vai người tình với nàng trên sân khấu bởi quá khao khát được đóng vai đó trong đời thực.

Tuy nhiên André-Louis vẫn ăn cá trích và bánh mì đen ngon lành. Bữa ăn như thế thật đạm bạc, nhưng ăn uống đạm bạc là số phận chung của người nghèo trong mùa đông đói rét ấy và vì anh đã gieo đời mình vào giữa nhóm người làm ăn không mấy phát đạt, anh phải đón nhận những sự bất tiện của hoàn cảnh một cách bình thản.

“Anh có họ tên đấy chứ?” Binet hỏi anh trong bữa ăn, khi cuộc trò chuyện chợt tạm ngưng.

“Ừ đúng là tôi có thật,” anh nói. “Tôi nghĩ nó là Parvissimus.”

“Parvissimus?” Binet lặp lại. “Là họ à?”

“Trong một đoàn kịch như ở đây, nơi chỉ có người chủ gánh được đặc quyền có họ, quyền tương tự sẽ là không thích hợp với bất cứ thành viên nào khác. Vì vậy tôi đã chọn cái tên thích hợp với mình nhất. Và tôi nghĩ cái tên đó là Parvissimus - ít nhất là vậy.”

Binet thấy thú vị. Thật khôi hài; sự lựa chọn ấy thể hiện trí tưởng tượng phong phú. Ô, tất nhiên rồi, chắc chắn họ sẽ cùng nhau viết kịch bản.

“Chắc tôi sẽ thích việc đó hơn việc đi dựng sân khấu,” André-Louis nói. Dẫu vậy, anh vẫn phải quay trở lại với công việc này chiều hôm đó, và làm việc quần quật tới tận bốn giờ, khi cuối cùng ông chủ gánh Binet độc đoán cũng tuyên bố hài lòng với quá trình chuẩn bị, và chuyển sang, lại một lần nữa với sự trợ giúp của André-Louis, thu xếp phần ánh sáng, được cung cấp một phần nhờ những cây nến mỡ bò, một phần nhờ những cây đèn đốt bằng dầu cá.

Tới năm giờ chiều hôm ấy, ba tiếng trống vang lên, và màn sân khấu được kéo lên để bắt đầu vở diễn “Người cha vô tâm”.

Trong số những trách nhiệm André-Louis được thừa hưởng từ anh chàng Felicien đã ra đi, có chức trách gác cửa. Chức trách này được anh thực hiện với bộ đồ của Polichinelle mặc trên người, kèm thêm một cái mũi giả bằng giấy bồi. Đây là một thỏa thuận làm hài lòng cả ông Binet và chính bản thân anh. Ông Binet - người đã thực hiện thêm biện pháp phòng xa nữa là giữ lại quần áo của André-Louis - như thế để khỏi có nguy cơ thành viên mới nhất của ông chuồn mất cùng chỗ tiền thu được từ khán giả. André-Louis, chẳng hề có chút ảo tưởng nào về mục đích thực sự của Pantaloon, cũng đồng ý với việc này một cách khá thoải mái, vì nó giúp anh khỏi bị nhận ra bởi một người quen biết nào đó đang tình cờ có mặt tại Guichen.

Màn trình diễn có thể nói là chẳng hấp dẫn chút nào ở mọi khía cạnh; khán giả thưa thớt và cũng không mấy hào hứng. Những băng ghế kê ở nửa trước khu chợ có chừng hai mươi bảy người: mười một người ở mức giá hai mươi xu và mười sáu người ở mức mười hai xu. Phía sau những người này, có một đám chừng ba mươi người khác đứng xem với giá sáu xu mỗi người. Tổng số thu nhập là hai louis, mười livre và hai xu. Sau khi ông Binet đã trả tiền thuê chợ, tiền thắp sáng, cũng như khoản chi phí cho đoàn kịch ở lại nhà trọ qua ngày Chủ nhật, xem chừng khó lòng còn đủ tiền để trả lương cho các diễn viên. Vì thế, không mấy ngạc nhiên khi khuôn mặt ông Binet có phần ủ dột tối hôm đó.

“Anh bạn nghĩ sao về chuyện này?” ông ta hỏi André-Louis, trong khi hai người đi bộ về nhà trọ sau buổi diễn.

“Nhiều khả năng còn có thể tồi tệ hơn; nhưng nó đã không thế,” anh nói.

Hoàn toàn ngỡ ngàng, ông Binet dừng bước, quay sang nhìn người đồng hành.

“Hừm!” ông ta nói. “Có Chúa chứng giám! Anh bạn quả là thẳng thắn.”

“Một hình thức phụng sự không mấy được ưa chuộng trong đám những kẻ ngốc, tôi biết thế.”

“Được lắm, tôi không phải là một kẻ ngốc,” Binet nói.

“Đó là lý do vì sao tôi thẳng thắn với ông. Tôi đã trân trọng ông khi đưa ra giả thiết là có sự thông minh tồn tại trong con người ông, thưa ông Binet.”

“Ồ, thật vậy sao?” ông Binet hỏi lại. “Mà anh là đồ quái quỷ nào để cho phép mình giả thiết về bất cứ cái gì? Những giả thiết của anh bạn quá tự phụ đấy, thưa quý ông.” Nói tới đây, ông chủ gánh chìm trở lại vào im lặng và bận bịu sắp xếp các khoản thu chi trong đầu.

Nhưng nửa tiếng sau đó bên bàn ăn, trong lúc ăn bữa tối, ông chủ gánh nối lại chủ đề lúc trước.

“Thành viên mới nhất của chúng ta, quý anh Parvissimus xuất chúng đây,” ông ta tuyên bố, “đã bạo gan nói với tôi vở hài kịch của chúng ta nhiều khả năng còn tồi tệ hơn; nhưng nó đã không tới mức đó.” Và ông chủ gánh chìa hai gò má núc ních tròn trịa của mình ra để mời gọi một tràng cười chế nhạo lời phê phán ngớ ngẩn.

‘Thật tệ hại,” ông Polichinelle ngăm ngăm đen nói đầy mỉa mai. Ông ta tỏ vẻ nghiêm nghị như thể mình là Rhadamanthus đang đưa ra lời phán quyết. ‘Thật tệ hại. Nhưng điều còn tệ hại hơn rất nhiều là khán giả lại khinh suất có cùng suy nghĩ như thế.”

“Một đám người dốt nát,” Leandre khinh bỉ thốt lên, đồng thời hất mái đầu đẹp đẽ.

“Anh sai rồi,” Harlequin lên tiếng. “Anh được sinh ra cho tình yêu, anh bạn thân mến, chứ không phải để phê bình.”

Leandre - một anh chàng ù lì chậm hiểu, như các bạn rồi sẽ thấy - nhìn khinh khỉnh về phía anh chàng nhỏ bé kia. “Thế còn anh bạn, anh bạn được sinh ra để làm gì?” anh ta làm bộ băn khoăn.

“Chẳng ai biết được,” lời thừa nhận thẳng thắn cất lên. “Và cũng chưa ai biết tại sao. Đó là trường hợp của rất nhiều người trong chúng ta đấy, anh bạn thân mến, hãy tin tôi đi.”

“Nhưng tại sao,” Binet hỏi anh ta, và làm hỏng mất màn mào đầu của một cuộc cãi cọ đầy hứa hẹn, “tại sao cậu lại nói Leandre đã sai?”

“Đại để là, vì anh ta lúc nào cũng sai. Còn cụ thể, vì tôi cho rằng khán giả tại Guichen quá phức tạp đối với ‘Người cha vô tâm’.”

“Anh có thể nói ra một cách dễ chịu hơn nhiều,” André-Louis, nguồn gốc gây ra cuộc tranh luận này, xen vào, “nếu nói rằng ‘Người cha vô tâm’ quá đơn giản với khán giả Guichen.”

“Thế thì có gì khác nhau chứ?” Leandre hỏi.

“Tôi không hề muốn nói tới một sự khác biệt. Tôi chỉ đơn thuần đề xuất rằng đó là cách dễ chịu hơn để diễn tả sự thật thôi.”

“Quý ông đây quả là tinh tế,” Binet mỉa mai.

“Tại sao lại dễ chịu hơn?” Harlequin hỏi.

“Bởi vì làm cho ‘Người cha vô tâm’ trở nên đủ tầm phức tạp với khán giả tại Guichen sẽ dễ hơn nhiều so với việc buộc họ phải trở nên đơn giản tương xứng với ‘Người cha vô tâm’.”

“Hãy để tôi nghĩ xem sao đã,” Polichinelle rên rẩm, rồi ông ta đưa hai bàn tay lên ôm lấy đầu.

Nhưng từ phía cuối bàn, André-Louis đã bị Climene, đang ngồi giữa Columbine và Phu nhân, lên tiếng thách thức.

“Ông có thể chỉnh sửa lại vở hài kịch đó chứ, ông Parvissimus?” cô gái hỏi.

Anh quay lại để chống đỡ đòn tấn công đầy ác ý của nàng.

“Tôi muốn đề xuất rằng nên chỉnh sửa lại nó,” anh đính chính lại, và cúi đầu.

“Và ông định chỉnh sửa nó như thế nào, thưa ông?”

“Tôi ư? Ồ, cho hay hơn.”

“Nhưng tất nhiên rồi!” Cô gái mỉa mai theo cách ngọt ngào nhất. “Và ông sẽ làm điều đó bằng cách nào?”

“À phải đấy, hãy thử nói cho chúng tôi biết xem,” ông Binet gầm lên, rồi nói thêm: “Im lặng, tôi đề nghị quý vị, thưa các quý ông quý bà. Hãy im lặng dành lời cho anh Parvissimus.”

André-Louis nhìn từ ông bố sang cô con gái, và mỉm cười. “Tất nhiên rồi!” anh nói. “Tôi đang ở giữa đe và búa. Nếu tôi thoát ra được mà còn sống sót, hẳn tôi là người rất may mắn. Biết làm sao được, vì các vị đã dồn tôi tới chân tường, tôi sẽ cho các vị biết tôi sẽ làm gì. Tôi sẽ quay lại với bản gốc để từ đó tự do phát triển thêm.”

“Bản gốc?” ông Binet - tác giả vở hài kịch - hỏi lại.

“Tôi tin rằng nó tên là ‘Ông de Pourceaugnac’, và do Molière viết.”

Có ai đó khúc khích cười, nhưng người đó không phải là ông Binet. Ông ta đã bị chạm nọc, và cái nhìn trong đôi mắt lươn ti hí của ông chủ gánh cho thấy rõ vẻ bề ngoài xởi lởi niềm nở của ông ta chứa đựng một thứ chẳng ăn nhập với nó chút nào.

“Anh bạn đang cáo buộc tôi đạo văn,” cuối cùng ông ta lên tiếng, “bằng cách ăn cắp ý tưởng của Molière.”

“Tất nhiên,” André-Louis nói, hoàn toàn bình thản, “vẫn luôn có khả năng hai trí tuệ xuất chúng cùng có chung một cảm hứng.”

Ông Binet chăm chú quan sát chàng trai trẻ trong khoảnh khắc. Ông ta cảm thấy anh chàng này thật khó hiểu, không sao nhìn thấu được, và quyết định phủ đầu anh.

“Vậy là anh bạn không có ý nói tôi đã ăn cắp ý tưởng của Molière?”

“Tôi đang khuyên ông nên làm như thế, thưa ông,” câu trả lời vang lên không chút bối rối.

Ông Binet sững người.

“Anh bạn khuyên tôi nên làm như thế! Anh dám khuyên ta, Antoine Binet, trở thành kẻ trộm khi đã ngần này tuổi!”

“Ông ta thật hỗn xược,” cô thiếu nữ phẫn nộ thốt lên.

“Hỗn xược là từ hoàn toàn thích đáng. Bố cảm ơn con, con gái yêu quý. Tôi đã tin ông, thưa ông. Ông ngồi vào bàn ăn của tôi, ông có vinh hạnh được gia nhập đoàn kịch của tôi, và ông dám cả gan đứng trước mặt tôi mà khuyên tôi trở thành một kẻ cắp - thứ kẻ cắp tồi tệ nhất từng có trên đời, một kẻ đánh cắp sản phẩm tinh thần, một kẻ đánh cắp ý tưởng! Thật không thể chịu đựng được, không thể chấp nhận được! Tôi sợ rằng tôi đã quá nhầm lẫn về con người ông, thưa ông; cũng giống như ông đã nhầm lẫn về tôi. Tôi không phải là một tên vô lại như ông nghĩ, và tôi sẽ không chấp nhận trong đoàn kịch của mình một kẻ dám khuyên tôi nên trở thành một tên vô lại. Thật hỗn xược!”

Ông ta có vẻ cực kỳ tức giận. Giọng nói của ông chủ gánh vang lên oang oang trong căn phòng nhỏ, và cả đoàn kịch ngồi nép vào nhau, có phần sợ sệt, mắt đổ dồn cả vào André-Louis, người duy nhất đang có mặt không hề bị lay chuyển trước cơn thịnh nộ chính trực này.

“Thưa ông, hẳn ông cũng nhận ra,” anh nói, rất nhẹ nhàng, “rằng ông đang lăng nhục danh dự của một người vĩ đại đã khuất đấy chứ?”

“Cái gì?” Binet nói.

André-Louis bắt đầu bài thuyết giảng của mình.

“Ông vừa lăng nhục danh dự của Molière, viên ngọc quý giá nhất trên sân khấu của chúng ta, một trong những báu vật lớn nhất của đất nước ta, khi ông cho rằng làm điều mà chính tác giả vĩ đại này không bao giờ ngần ngại thực hiện, cũng là điều chưa tác giả xuất chúng nào khác từng dè dặt, là một chuyện xấu xa. Ông không thể cho rằng Molière từng có lúc nào đó bận tâm tới việc phải là người độc nhất vô nhị về mặt ý tưởng. Ông không thể cho rằng những câu chuyện ông ấy thuật lại chưa từng bao giờ được kể ra trước đó. Chúng được chọn lọc lại, như ông biết rất rõ - cho dù dường như ông đã quên mất điều đó trong thoáng chốc, và vì thế tôi cần phải nhắc lại để ông nhớ -chúng được chọn lọc lại, rất nhiều trong số chúng, từ các tác giả Italia, và những người này cũng đã thu nhặt lại những ý tưởng ấy từ đâu thì chỉ có Chúa mới biết rõ. Molière lấy những câu chuyện cũ ấy, kể lại chúng bằng ngôn ngữ của chính ông. Đó cũng chính là điều tôi đang đề nghị ông nên làm. Đoàn kịch của ông là một đoàn kịch ứng tác. Các vị đưa ra lời thoại trong quá trình diễn xuất, nghĩa là còn nhiều hơn những gì Molière từng dám thử. Nếu các vị thích, cho dù với tôi việc này sẽ là cẩn trọng quá đáng, các vị có thể tìm thẳng tới Boccaccio hay Sacchetti. Nhưng ngay cả khi đó các vị cũng không thể dám chắc mình đã tìm tới được nguồn gốc của tất cả.”

André-Louis đã thành công mỹ mãn. Bạn đọc có thể thấy trong anh một nhà tranh luận đại tài đã bị uổng phí tài năng; có thể thấy chàng luật sư trẻ của chúng ta là người khéo léo đến mức nào trong nghệ thuật biến trắng thành đen. Cả đoàn kịch đã hoàn toàn bị thuyết phục, và nhất là ông Binet, người vừa thấy mình được cung cấp một lý lẽ vô cùng sắc bén để đối chọi lại với bất cứ kẻ nào trong tương lai có thể sẽ buộc tội ông là một kẻ đạo văn trơ trẽn, một tội danh, không nghi ngờ gì nữa, ông chủ gánh từng phạm phải.

“Vậy là anh bạn nghĩ,” ông ta nói, sau khi một tràng tán đồng rôm rả rộ lên, “anh bạn nghĩ rằng kịch bản ‘Người cha vô tâm’ của chúng ta có thể được cải thiện bằng cách kết hợp nó với ‘Ông de Pourceaugnac’, một vở kịch mà sau khi cân nhắc chín chắn, tôi phải thừa nhận quả tình có một chút tương đồng bề ngoài?”

“Tôi nghĩ vậy; chắc chắn là vậy - dĩ nhiên là với điều kiện các vị làm điều đó một cách phù hợp. Nhiều thứ đã thay đổi kể từ thời của Molière.” Hệ quả của cuộc trao đổi là ngay sau đó Binet rút lui, kéo André-Louis cùng đi với mình. Hai người ở cùng nhau tới rất khuya tối hôm đó, và rồi lại tiếp tục bận rộn trao đổi với nhau trong suốt buổi sáng ngày Chủ nhật.

Sau bữa trưa, ông Binet đọc cho cả đoàn kịch nghe kịch bản đã được sửa đổi và nhuận sắc của “Người cha vô tâm” mà ông ta đã lao tâm khổ tứ để chuẩn bị, theo lời khuyên của anh Parvissimus. Cả đoàn kịch vốn đã không có mấy băn khoăn về tác giả thực sự của nó trước khi ông chủ gánh cất lời đọc; và chẳng còn chút nào sau khi ông ta đã đọc xong. Có điều gì đó đầy cảm hứng, đầy cuốn hút ở vở kịch mới này; và, còn hơn thế nữa, một số người trong họ biết rõ Molière đã nhận ra, thay vì tiến lại gần nguyên bản, kịch bản này đúng ra đã rời xa nó hơn. Vai gốc của Molière - cũng là vai mang tên vở kịch gốc - đã bị đẩy lùi xuống vị trí rất thứ yếu, một điều làm Polichinelle, người đảm nhận vai này, không khỏi bất bình. Nhưng các vai khác lại được nâng tầm quan trọng lên, ngoại trừ vai Leandre vẫn nguyên như trước. Hai vai quan trọng nhất giờ đây là Scaramouche, trong nhân vật Sbrigandini hấp dẫn, và Pantaloon, người bố. Ngoài ra, cũng có một vai hài hước cho Rhodomont, trong nhân vật anh to mồm được Polichinelle thuê để băm vằm Leandre thành từng mảnh. Và xuất phát từ tầm quan trọng hiện tại của Scaramouche, vở kịch đã được đổi tên lại thành “Figaro-Scaramouche”.

Cái tên này đã vấp phải không ít phản đối từ ông Binet. Nhưng người cộng tác không khoan nhượng của ông ta, người trên thực tế cũng chính là tác giả thật - người rốt cuộc cũng đã viện đến, không chút xấu hổ nhưng cũng rất thực tế, vốn đọc phong phú của mình - đã khuất phục được ông chủ gánh.

“Ông cần phải thay đổi cho bắt kịp với thời cuộc, thưa ông. Ở Paris, Beaumarchais đang làm người ta phát điên phát cuồng lên. Giờ đây Figaro đã được biết đến trên khắp thế giới rồi. Chúng ta hãy mượn lấy chút hào quang của ông ta. Điều đó sẽ thu hút khán giả. Bọn họ sẽ đổ xô tới để xem cho dù chỉ một nửa ‘Figaro’, trong khi họ sẽ chẳng buồn đoái hoài tới cho dù cả một tá các ‘Người cha vô tâm’. Vì thế, chúng ta hãy khoác chiếc áo choàng của Figaro lên một nhân vật nào đó, và nêu rõ điều này trong tên vở kịch của chúng ta.”

“Nhưng vì tôi là chủ của đoàn kịch...” ông Binet bắt đầu yếu ớt lên tiếng.

“Nếu ông mù quáng đến thế vì lợi ích của chính mình, chẳng bao lâu nữa ông sẽ chẳng còn đoàn kịch nào để làm chủ nữa. Và việc đó thì ích lợi gì chứ? Liệu đôi vai của Pantaloon có mang nổi chiếc áo choàng của Figaro không? Ông cười rồi kìa. Tất nhiên ông phải cười thôi. Ý tưởng đó thật lố bịch. Nhân vật hợp lý nhất để khoác lên người chiếc áo choàng của Figaro là Scaramouche, người về bản chất chính là anh em sinh đôi của Figaro.”

Bị chế áp hung bạo như vậy, ông bạo chúa Binet đành chịu thua, lấy làm an ủi với ý nghĩ nếu quả thực ông ta có hiểu biết gì đó về sân khấu, thì rõ ràng với giá mười lăm livre một tháng, ông đã có được cho mình một thứ không bao lâu nữa sẽ đem về cho mình rất nhiều đồng louis.

Lúc này, cách cả đoàn kịch đón nhận kịch bản đã khẳng định lại niềm tin của ông chủ gánh, với ngoại lệ duy nhất của Polichinelle, người đã tuyên bố kịch bản này thật ngớ ngẩn, xuất phát từ nỗi bất bình trước việc mất đi nửa đất diễn của mình sau những sửa đổi.

“À! Ông bảo tác phẩm của tôi là ngớ ngẩn phải không?” ông Binet quát nạt ông ta.

“Tác phẩm của ông?” Polichinelle thốt lên, rồi nói tiếp trong khi chống lưỡi vào trong má: “À, xin thứ lỗi. Tôi đã không nhận ra ông là tác giả của nó.”

“Vậy thì giờ ông nhận ra rồi đấy.”

“Ông ở rất gần với quý ông Parvissimus đây trong việc nắm quyền tác giả thì phải,” Polichinelle nói, với vẻ bóng gió đầy châm chích.

“Và nếu thế thì sao? Ý ông muốn nói gì?”

“Rằng ông đã dùng anh bạn đây để vót lông ngỗng cho ông viết, tất nhiên rồi.”

“Tôi sẽ xẻo tai ông ra nếu ông không biết nói năng cho đàng hoàng,” Binet nổi xung lên đe dọa.

Polichinelle từ tốn đứng lên, vươn vai.

“Lạy Chúa lòng lành!” ông ta thốt lên. “Nếu Pantaloon chuyển sang đóng vai Rhodomont, tôi nghĩ tôi sẽ từ biệt các vị. Ông ta khó lòng có thể trở nên thú vị với vai đó.” Và ông ta nghênh ngang đi ra ngoài trước khi ông Binet kịp định thần lại sau cơn á khẩu.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.