Người ta không còn thấy ông de La Tour d’Azyr tại Manege nữa - hay trên thực tế là ở bất cứ đâu tại Paris - trong suốt những tháng Quốc hội tiếp tục nhóm họp để hoàn tất công việc đem đến cho nước Pháp một bản hiến pháp. Nói cho cùng, mặc dù vết thương trên cơ thể ông ta tương đối nhẹ, vết thương mà niềm tự hào của ông ta phải chịu đựng chỉ còn thiếu nước lấy đi tính mệnh ông ta.
Tin đồn lan rộng rằng ông ta đã vượt biên. Nhưng đó chỉ là một nửa sự thật. Sự thật trọn vẹn là hầu tước đã gia nhập vào nhóm các tín sứ vẫn đi đi lại lại giữa Điện Tuileries và tổng hành dinh của đám người lưu vong tại Coblenz. Nói một cách ngắn gọn, ông ta đã trở thành một thành viên của tổ chức bảo hoàng bí mật đang lên kế hoạch làm nền quân chủ sụp đổ tan tành.
Về phần André-Louis, anh không còn xuất hiện tại nhà người cha đỡ đầu của mình nữa, đó là kết quả từ niềm tin rằng ông de Kercadiou sẽ không thay đổi ý định không bao giờ nhìn mặt anh nếu cuộc quyết đấu xảy ra.
Anh lao mình vào các trách nhiệm tại Quốc hội với sự hăng hái và được việc tới mức khi Quốc hội Lập hiến được giải thể - vì mục đích của nó đã hoàn tất - vào tháng Chín năm sau, một ghế thành viên của Quốc hội Lập pháp, vốn được bầu ra lập tức ngay sau đó, đã gần như được ấn vào tay anh.
Khi đó, cũng giống như nhiều người khác, anh coi cuộc cách mạng là một công cuộc đã hoàn tất, rằng nước Pháp chỉ còn việc tự quản lý mình bằng hiến pháp đã được trao cho nó, và giờ đây mọi việc sẽ tốt đẹp. Rất có thể đã là như thế nếu không phải vì triều đình không thể đi tới chấp nhận những thay đổi của thời thế mới. Hậu quả là một nửa châu Âu đang rầm rộ chuẩn bị vũ khí để nhảy xổ vào nước Pháp, và cuộc xung đột này về bản chất là cuộc xung đột giữa vua nước Pháp và thần dân của ông ta, Đó chính là nỗi kinh hoàng tạo nên gốc rễ của tất cả những nỗi kinh hoàng rồi đây sẽ kéo theo sau.
Trong những cuộc bạo động phản cách mạng đang bị giới tu sĩ khuấy lên ở khắp nơi, không đâu chúng lại diễn ra dữ dội bằng tại Bretagne, và, xuất phát từ mức độ ảnh hưởng người ta hy vọng anh sẽ có được ở tỉnh nhà, ủy ban Mười hai[1], đang ở vào thời kỳ đầu nắm quyền của phái Girondin, yêu cầu André-Louis tới vùng này để đối phó với tình trạng bất ổn. Anh được kỳ vọng giải quyết nhiệm vụ một cách hòa bình, nhưng quyền lực anh được giao là hầu như tuyệt đối, như những mệnh lệnh anh mang theo thể hiện - những mệnh lệnh yêu cầu tất cả mọi người cần trợ giúp anh, đồng thời cảnh cáo những kẻ có ý định cản trở anh rằng việc đó có thể sẽ bắt họ phải trả giá bằng tính mạng.
Anh chấp nhận nhiệm vụ, và là một trong năm đại diện toàn quyền được cử đi nhằm cùng mục đích vào mùa xuân năm 1792. Nhiệm vụ ấy đã khiến anh vắng mặt ở Paris bốn tháng, và rất có thể đã giữ chân anh lâu hơn nếu đầu tháng Tám anh không được gọi về thủ đô. Còn khẩn cấp hơn bất cứ cuộc bạo loạn nào ở Bretagne là những bất ổn đang sôi sục tại chính Paris, khi tình hình chính trị đang trở nên đen tối hơn bất kỳ lúc nào trước đó kể từ năm 1789. Paris hiểu rằng cuộc tranh đấu lâu dài giữa Bình đẳng và Đặc quyền đang nhanh chóng tiến sát tới thời khắc cao trào. Và André-Louis đã hối hả từ phía Tây trở về một thành phố đang ở vào tình trạng như vậy, để rồi tìm thấy ở đó màn cao trào trong suốt con đường đời đầy biến cố của anh.
Tiểu thư de Kercadiou cũng đang có mặt tại Paris vào những ngày đầu tháng Tám đó, nàng đang ghé thăm em họ và cũng là người bạn thân thiết nhất của bác nàng, phu nhân de Plougastel. Và cho dù giờ đây không gì có thể rõ ràng hơn những biểu hiện bất an báo hiệu cho cơn bùng nổ sắp xảy ra, bầu không khí tươi vui, kỳ thực gần như hân hoan hồ hỏi, ngự trị trong triều đình - nơi phu nhân và tiểu thư tìm đến hầu như hằng ngày - đã trấn an được họ. Ông de Plougastel cứ về rồi lại đi, quay trở lại Coblenz trong những nhiệm vụ bí mật khiến ông ta gần như liên tục vắng mặt bên bà vợ. Nhưng trong những lúc ở bên phu nhân, ông ta đã lạc quan cam đoan với bà rằng mọi biện pháp cần thiết đã được thực hiện, và một cuộc nổi dậy là điều đáng hoan nghênh, bởi vì nó chỉ có thể dẫn đến một kết cục duy nhất, cuộc cách mạng bị nghiền nát hoàn toàn trước thềm Điện Tuileries. Đó chính là lý do tại sao nhà vua vẫn ở lại Paris, ông ta nói thêm. Nếu không vì niềm tin đó, hoàng thượng đã có thể ẩn náu giữa những người lính Thụy Sĩ cùng các nhà quý tộc hộ vệ của mình, và rời khỏi thủ đô. Họ có thể dễ dàng mở đường máu cho nhà vua nếu việc ra đi của hoàng thượng bị cản trở. Nhưng thậm chí cả việc này cũng là không cần thiết.
Thế nhưng vào những ngày đầu tháng Tám đó, sau khi ông chồng lên đường, những lời nói đầy tin tưởng của ông ta đã dần dần nhạt nhòa trước chuỗi biến cố nối tiếp nhau xảy ra ngay trước mắt phu nhân. Và cuối cùng, vào chiều ngày 9, một người đưa thư từ Meudon tìm tới dinh thự Plougastel mang theo lời nhắn của ông de Kercadiou, trong đó ông gấp gáp giục cô cháu gái lập tức quay về với mình, và khuyên bà chủ nhà đi cùng nàng.
Có lẽ các bạn cũng đã nhận ra ông de Kercadiou là kiểu người có thể đánh bạn với mọi tầng lớp. Dòng dõi xa xưa cho phép ông xử sự ngang hàng với các thành viên của giới quý tộc; tính cách giản dị - vừa có vẻ của những người nông dân cục mịch vừa có vẻ của giới tư sản - cùng thái độ hòa nhã tự nhiên cũng cho phép ông có quan hệ rất thân mật với những người thấp kém hơn ông về mặt xuất thân. Ở Meudon, tất cả những người dân thường đều biết và quý mến ông, và chính ông thị trưởng Rougane đầy thiện ý đã báo cho nhà quý tộc già biết, vào ngày 9 tháng Tám, về cơn bão tố sẽ nổ ra hôm sau, khi biết được tiểu thư đang ở chơi trong Paris, ông này đã khuyên ông hãy đưa cô thiếu nữ ra khỏi nơi rất có thể sau hai mươi bốn giờ nữa sẽ là vùng nguy hiểm với tất cả những ai có xuất thân quý tộc, nhất là những người bị nghi ngờ có quan hệ với phe Triều đình.
Giờ đây không còn gì phải nghi ngờ về mối quan hệ của phu nhân de Plougastel với Triều đình. Thậm chí cũng không còn gì phải nghi ngờ - kỳ thực, những biện pháp đối phó chẳng bao lâu sau đã được đưa ra - rằng những cơ quan bí mật hiện diện khắp nơi có trách nhiệm bảo vệ sự an nguy của cuộc cách mạng non trẻ đã nắm được đầy đủ thông tin về những chuyến đi tới Coblenz của ông de Plougastel, và hẳn họ cũng chẳng nuôi chút ảo tưởng nào về mục đích của chúng. Vì thế, trong trường hợp phe Triều đình thất bại trong cuộc đụng độ đang được chuẩn bị, phu nhân de Plougastel sẽ gặp nguy hiểm, một mối nguy hiểm mà bất cứ vị khách xuất thân quý tộc nào đang có mặt tại nhà bà cũng sẽ phải chịu chung.
Tình cảm ông de Kercadiou dành cho cả hai người phụ nữ khiến ông càng hốt hoảng hơn khi nghe lời cảnh báo của Rougane. Đó là nguyên do của lời nhắn được hối hả gửi đi, trong đó bày tỏ mong muốn cô cháu gái, đồng thời khẩn khoản van nài người bạn thân lâu năm, hãy lập tức quay về Meudon.
Ông thị trưởng thân thiện còn tận tâm hơn nữa khi cử chính cậu con trai ông ta, một thanh niên thông minh mười chín tuổi, mang lá thư lên Paris. Đến cuối buổi chiều của ngày tháng Tám đẹp trời đó, chàng thanh niên Rougane trẻ tuổi xuất hiện tại dinh thự Plougastel.
Phu nhân de Plougastel niềm nở chào đón chàng thanh niên ngoài phòng khách, trong khi khung cảnh lộng lẫy của căn phòng cùng dáng vẻ cao sang của bà chủ nhà làm tâm hồn đơn giản, chất phác của cậu thanh niên trẻ ngỡ ngàng. Phu nhân lập tức đưa ra quyết định.
Lời nhắn khẩn cấp của ông de Kercadiou chỉ càng củng cố thêm cho nỗi lo sợ bà đang cảm thấy cũng như dự định của bà. Phu nhân quyết định đi ngay lập tức.
“Tốt quá, thưa phu nhân,” cậu thanh niên nói. “Vậy tôi xin phép được cáo từ.”
Nhưng bà không để cậu đi như thế. Trước hết cậu phải vào bếp ăn uống cho lại sức, trong khi phu nhân và tiểu thư chuẩn bị sẵn sàng, rồi sau đó cùng ngồi lên xe của phu nhân quay về Meudon. Bà không thể để cậu thanh niên phải đi bộ về như lúc tới đây.
Cho dù bất luận thế nào thì điều này cũng hoàn toàn xứng đáng với những gì cậu ta đã làm, song thái độ chu đáo tới mức trong thời khắc đầy loạn lạc như lúc này vẫn còn có thể nghĩ tới người khác như thế hiển nhiên sẽ sớm được tưởng thưởng. Giá như nữ bá tước làm ít hơn những gì bà đã làm, hẳn bà đã phải trải qua - trong trường hợp may mắn - chí ít cũng là vài giờ trong nỗi thống khổ thậm chí còn nặng nề hơn những gì vốn đã đợi sẵn bà.
Khoảng nửa giờ trước khi mặt trời lặn, họ lên xe của nữ bá tước với ý định rời khỏi Paris qua cửa ô Saint-Martin. Đi tháp tùng đằng sau xe chỉ có một người hầu duy nhất. Rougane - vô cùng bối rối trước sự chiếu cố - được dành cho một chỗ ngồi trong xe với hai người phụ nữ, và gần như lập tức bắt đầu phải lòng tiểu thư de Kercadiou, người được cậu thanh niên coi là cô gái đẹp nhất cậu ta từng trông thấy, không những thế nàng còn trò chuyện với cậu ta một cách giản dị và thân mật như với một người bằng vai phải lứa. Điều đó ít nhiều đã len lỏi vào trong đầu chàng trai, và làm lung lay một số khái niệm cộng hòa mà cậu ta cho tới lúc đó vẫn nghĩ rằng mình đã thấm nhuần.
Cỗ xe dừng lại trước gác chắn, bị cản đường bởi một hàng rào lực lượng Vệ binh Quốc gia đang chắn trước những cánh cổng sắt.
Viên thượng sĩ chỉ huy chốt gác bước tới bên cửa xe. Nữ bá tước thò đầu ra cửa sổ.
“Cổng đã đóng, thưa bà,” phu nhân được thông báo một cách cộc cằn.
“Đóng!” bà lặp lại. Chuyện này quả không thể tin nổi. “Nhưng... nhưng chẳng lẽ ý ông là chúng tôi không thể đi qua được?”
“Không thể, trừ phi bà có giấy thông hành, thưa bà.” Viên thượng sĩ hờ hững tựa người lên cây giáo của mình. “Mệnh lệnh không cho phép bất cứ ai ra hay vào mà không có giấy tờ hợp lệ.
“Lệnh nào vậy?”
“Lệnh của Công xã Paris.”
“Nhưng tôi cần ra vùng ngoại ô ngay tối nay.” Giọng phu nhân gần như bực dọc. “Người ta đang đợi tôi.”
“Nếu vậy bà hãy đi xin giấy thông hành.”
“Tôi có thể xin ở đâu?”
“Tại Tòa thị chính hoặc trụ sở ủy ban của khu bà sống.”
Nữ bá tước nghĩ ngợi một lát. “Vậy tôi sẽ tới ủy ban. Làm ơn nói cho người đánh xe của tôi hãy cho xe tới khu Bondy.”
Viên thượng sĩ giơ tay chào phu nhân rồi lùi lại. “Khu Bondy, phố Người Chết,” ông ta nói với người đánh xe.
Phu nhân lại ngồi xuống ghế, tâm trạng lo âu của bà lan cả sang tiểu thư. Rougane bèn cố gắng trấn an và động viên họ. Ủy ban chắc chắn sẽ thu xếp ổn thỏa đâu vào đấy. Gần như chắc chắn họ sẽ được cấp giấy thông hành. Liệu có thể có lý do nào để từ chối họ chứ? Nói cho cùng, chẳng qua đó cũng chỉ là một thủ tục!
Những lời động viên của cậu thanh niên giúp hai người phụ nữ phấn chấn hơn đôi chút để rồi chẳng bao lâu sau họ lại phải đón nhận một cảm giác thất vọng còn lớn hơn khi vấp phải sự từ chối thẳng thừng từ ông chủ tịch ủy ban, người tiếp đón nữ bá tước.
“Tên bà, thưa bà?” ông ta cộc cằn hỏi. Một tay thô lỗ với tư tưởng cộng hòa tiên phong vào loại bậc nhất, ông chủ tịch thậm chí chẳng buồn đứng dậy thể hiện chút lịch sự cho phải phép với hai người phụ nữ khi họ bước vào. Tất nhiên ông ta hẳn sẽ nói với bạn ông ta có mặt ở đó là để thực thi chức trách chứ không phải để dạy khiêu vũ.
“Plougastel,” ông ta nhắc lại, song bỏ qua tước hiệu, như thể đó là tên của một bà hàng thịt hay hàng bánh mì. Ông chủ tịch lấy xuống từ trên chiếc giá bên tay phải mình một cuốn sổ nặng trịch, mở ra rồi lần giở từng trang. Đó là một kiểu danh bạ của khu ông ta phụ trách. Không mấy chốc, ông chủ tịch đã tìm ra thứ ông ta cần tìm. “Bá tước de Plougastel, dinh thự Plougastel, phố Thiên Đường. Phải vậy không?”
“Đúng vậy, thưa ông,” nữ bá tước trả lời, với tất cả sự lịch thiệp xã giao bà có thể có được trước thái độ thô lỗ đầy xúc phạm của ông ta.
Sau đó là một hồi lâu im lặng, trong lúc ông chủ tịch ngồi nghiên cứu mấy dòng ghi chú bằng bút chì cạnh cái tên của bà. Trong vài tuần trước đó ủy ban qưản lý của các khu vực đã hoạt động quy củ hơn nhiều so với những gì người ta nghĩ.
“Chồng bà đang ở cùng với bà chứ, thưa bà?” ông ta cộc cằn hỏi, mắt vẫn dán xuống trang giấy.
“Ông bá tước hiện không ở cùng tôi,” nữ bá tước trả lời, nhấn mạnh vào tước hiệu.
“Không ở cùng bà?” Ông chủ tịch ngẩng phắt lên, hướng về phía phu nhân một cái nhìn trong đó pha lẫn sự nghi ngờ và chế giễu. “Vậy ông ấy đang ở đâu?”
“Chồng tôi không có mặt ở Paris, thưa ông.”
“À! Bà có nghĩ ông ấy đang ở Coblenz không?”
Nữ bá tước chợt cảm thấy lạnh toát. Có gì đó không ổn trong tất cả chuyện này. Các ủy ban thu thập thông tin tạm trú tạm vắng của cư dân kỹ lưỡng đến thế để làm gì? Bọn họ đang chuẩn bị cái gì vậy? Bà có cảm giác bị mắc bẫy, như thể một cái lưới vô hình đã chụp xuống đầu bà.
“Tôi không biết, thưa ông,” phu nhân nói, giọng không còn giữ được bình tĩnh.
“Tất nhiên là không rồi.” Ông chủ tịch có vẻ như đang mỉa mai. “Không quan trọng. Và bà cũng muốn rời khỏi Paris sao? Bà muốn đi đâu vậy?”
“Tới Meudon.”
“Bà có việc gì ở đó?”
Khuôn mặt nữ bá tước đỏ lựng. Thái độ xấc xược của người này quả là không thể chịu nổi với một phụ nữ trong suốt cuộc đời mình chưa bao giờ biết đến gì khác ngoài sự tôn trọng tuyệt đối của cả những người thấp kém hơn lẫn những người cùng đẳng cấp. Dẫu vậy, hiểu rõ bà đang phải đối diện với những lực lượng hoàn toàn mới, nữ bá tước cố giữ bình tĩnh, kìm nén cơn phẫn nộ, và điềm đạm trả lời.
“Tôi muốn đưa cô gái trẻ đây, cô de Kercadiou, trở về với bác cô ấy hiện đang sống tại đó.”
“Chỉ vậy thôi ư? Vậy thì một ngày khác cũng được cơ mà, thưa bà. Chuyện này đâu có gấp gáp gì.”
“Thứ lỗi cho tôi, thưa ông, nhưng với chúng tôi chuyện này rất khẩn cấp.”
“Bà đã không thuyết phục được tôi về điều đó, và mọi gác chắn đều đóng kín với tất cả những ai không thể đưa ra các lý do khẩn cấp và hợp lý nhất cho mong muốn được đi qua của họ. Bà phải đợi, thưa bà, cho tới khi lệnh hạn chế di chuyển được gỡ bỏ. Chúc bà buổi tối tốt lành,”
“Nhưng, thưa ông...”
“Chúc buổi tối tốt lành, thưa bà,” ông chủ tịch lặp lại đầy ngụ ý, một lời đuổi khách còn khinh khỉnh và ngang ngược hơn bất cứ câu “Trẫm cho ngươi lui” nào của một ông vua.
Nữ bá tước cùng Aline quay trở ra. Cả hai đều bừng bừng phẫn nộ dù cho sự thận trọng đã thúc giục họ phải cố nén xuống. Hai người phụ nữ lại lên xe, chỉ muốn được trở lại nhà luôn.
Vẻ ngỡ ngàng của Rougane biến thành lo lắng khi họ cho cậu thanh niên biết chuyện gì đã xảy ra. “Vậy tại sao không thử tới Tòa thị chính, thưa bà?” cậu ta đề xuất.
“Sau những gì vừa xảy ra sao? Sẽ vô ích thôi. Chúng tôi đành phải chấp nhận ở lại Paris cho tới khi các cửa ô được mở trở lại!”
“Có lẽ đến lúc đó với chúng ta đi hay ở cũng sẽ chẳng có gì khác nhau nữa đâu, thưa phu nhân,” Aline nói.
“Aline!” kinh hoàng bà kêu lên.
“Tiểu thư!” Rougane cũng thốt lên với cùng thái độ đó. Sau đó, vì hiểu ra rằng những người bị giữ lại theo cách này chắc chắn sẽ lâm vào một tình thế nguy hiểm nào đó mà hiện tại chưa thể thấy rõ được, nhưng chính vì thế lại càng đáng sợ, chàng trai trẻ liền lập tức động não suy nghĩ. Khi họ một lần nữa về tới gần dinh thự Plougastel, cậu ta tuyên bố đã giải quyết được khó khăn.
“Một giấy thông hành được cấp từ bên ngoài cũng có giá trị không kém gì,” cậu thanh niên nói. “Bây giờ hai người hãy nghe và tin tôi. Tôi sẽ quay về Meudon ngay lập tức. Bố tôi sẽ viết cho tôi hai giấy thông hành - một cho mình tôi, một cho ba người chúng ta - từ Meudon tới Paris rồi từ Paris quay trở lại Meudon. Tôi sẽ quay trở vào Paris với giấy thông hành của mình, sau đó tôi sẽ hủy nó đi, và chúng ta cùng nhau rời khỏi thành phố, cả ba người, nhờ vào hiệu lực của giấy thông hành còn lại, trình bày rằng chúng ta đã từ Meudon vào thành phố trong ngày. Nói cho cùng, việc đó cũng khá đơn giản. Nếu tôi đi ngay lập tức, tôi có thể quay trở lại vào tối nay.”
“Nhưng làm cách nào cậu ra khỏi thành phố được?” Aline hỏi.
“Tôi ư? Ôi dào! Về việc đó, không có gì phải lo cả. Bố tôi là thị trưởng Meudon. Có rất nhiều người biết ông ấy. Tôi sẽ tới Tòa thị chính, và nói với họ, mà điều này suy cho cùng cũng là sự thật, rằng tôi bị mắc kẹt ở Paris do các gác chắn bị chặn lại, trong khi bố tôi trông đợi tôi sẽ quay về nhà vào buổi tối. Họ sẽ cho tôi qua thôi. Cũng rất đơn giản thôi mà.”
Sự tự tin của cậu thanh niên giúp hai người phụ nữ phấn chấn trở lại. Việc rời khỏi thành phố dường như trở nên đơn giản hơn đúng như cậu ta vừa trình bày.
“Vậy hãy chuẩn bị giấy thông hành cho bốn người, chàng trai trẻ,” phu nhân nài nỉ cậu thanh niên. “Còn cả Jacques nữa,” bà giải thích, chỉ về phía người hầu vừa giúp họ xuống xe.
Rougane lên đường, tự tin rằng mình sẽ sớm quay trở lại, để lại hai người phụ nữ đợi cậu ta cũng với tâm trạng đầy tin tưởng như thế. Nhưng hết giờ này tới giờ khác trôi qua, rồi màn đêm buông xuống, đã sắp tới giờ đi ngủ, song vẫn chưa thấy bóng dáng cậu thanh niên đâu.
Họ đợi tới nửa đêm, mỗi người đều vì người kia mà giả bộ mình vẫn hoàn toàn tin tưởng, song từng người đều mơ hồ bị ám ảnh bởi những dự cảm chẳng lành, dẫu vậy cả hai vẫn tiếp tục ngồi giết thời gian bằng cách chơi thò lò ngoài phòng khách lớn, như thể không hề có chút bận tâm lo lắng nào.
Cuối cùng, khi chuông đồng hồ báo nửa đêm vang lên, nữ bá tước thở dài đứng dậy.
“Chắc là sáng mai,” bà nói, song không hề tin vào những gì vừa nói.
“Tất nhiên rồi,” Aline tán đồng. “Có thể thực sự cậu ấy không thể quay lại kịp tối nay. Và lên đường vào ngày mai sẽ tốt hơn nhiều. Đi đường vào lúc khuya khoắt thế này chắc chắn sẽ làm phu nhân rất mệt.”
Cứ như thế, hai người tiếp tục vai diễn của mỗi người.
Vào lúc sáng sớm, họ bị đánh thức dậy bởi tiếng chuông đinh tai nhức óc - tiếng chuông báo động tại các khu của thành phố. Sau đó, đôi tai còn đang sững sờ của họ nghe thấy tiếng trống vang lừng, và có một lúc hai người phụ nữ còn nghe thấy âm thanh của một đám đông đang bước đi. Paris đang nổi dậy. Muộn hơn nữa, từ xa vọng lại tiếng nổ của các loại súng nhỏ và tiếng nổ ầm ầm trầm hơn của đại bác. Trận đánh đang diễn ra giữa người của các khu dân cư và của Triều đình. Dân chúng có vũ trang đã tấn công Tuileries. Những tin đồn khủng khiếp nhất lan đi nhanh chóng, và một số tìm đường tới dinh thự Plougastel qua đám gia nhân, rằng trận đánh khủng khiếp diễn ra tại cung điện sớm muộn gì cũng kết thúc bằng cái chết vô ích của tất cả những người bị ông vua ươn hèn bỏ rơi tại đó, trong khi ông ta đặt mình và cả gia đình dưới sự bảo vệ của Quốc hội. Trung thành đến cùng với sự vô dụng của mình, lúc nào cũng nhắm mắt làm theo những gì đám quân sư đầy thù hận chỉ dẫn ông ta sửa soạn cho cuộc nổi dậy, để rồi khi thực sự cần nổi dậy, ông ta lại ra lệnh đầu hàng, một mệnh lệnh đã bỏ mặc những người trung thành với ông ta trở thành mồi ngon cho một đám đông đang điên loạn.
Và trong khi chuyện này đang xảy ra tại Tuileries, hai người phụ nữ tại dinh thự Plougastel vẫn đợi Rougane quay trở lại, cho dù lúc này hy vọng đã trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Và Rougane đã không trở lại. Việc giả mạo giấy thông hành với ông bố không có vẻ đơn giản như với cậu con trai. Ông Rougane bố đã sợ hãi một cách hoàn toàn đúng đắn trước việc can dự vào một trò giả mạo như thế.
Ông ta cùng con trai tới báo cho ông de Kercadiou biết chuyện đã xảy ra, và thẳng thắn nói với ông điều con trai ông ta đã đề xuất, song ông ta không dám thực hiện.
Ông de Kercadiou tìm cách thuyết phục ông ta bằng cách van nài, thậm chí còn nghĩ đến chuyện mua chuộc. Nhưng Rougane vẫn cương quyết.
“Thưa ông,” ông thị trưởng nói, “nếu người ta phát hiện ra tôi làm chuyện đó, và kỳ thực đó là điều không thể tránh khỏi, chắc hẳn tôi sẽ bị treo cổ. Ngoài ra, bất chấp mong muốn làm tất cả những gì có thể trong khả năng để giúp ông, hành động này là một sự thất tín mà tôi không thể phạm phải. Ông không thể yêu cầu tôi làm thế, thưa ông.”
“Nhưng theo ông nghĩ chuyện gì sắp xảy ra?” nhà quý tộc đã có đến nửa phần mất trí hỏi.
“Là chiến tranh,” Rougane, một người hiểu biết tình hình như chúng ta đã được thấy, đáp. “Chiến tranh giữa nhân dân và Triều đình. Tôi lấy làm tiếc vì lời cảnh báo của mình đến quá muộn. Nhưng, nói cho cùng, tôi không nghĩ ông thực sự cần phải hốt hoảng. Người ta không gây chiến với phụ nữ.” Ông de Kercadiou đành an ủi mình bằng cách bám lấy lời cam đoan đó sau khi ông thị trưởng và con trai đã ra về. Song trong tâm trí ông vẫn bị ám ảnh bởi công việc ông de Plougastel đang can dự vào. Sẽ thế nào nếu đám cách mạng kia cũng nắm được thông tin rõ chẳng kém? Và nhiều khả năng là như thế. Trước đây, ai cũng biết những phụ nữ là thân nhân của những kẻ tội phạm chính trị từng phải chịu tai vạ do tội lỗi đám đàn ông của họ gây ra. Bất cứ điều gì cũng đều có thể xảy ra trong một cuộc nổi loạn của dân chúng, và Aline sẽ bị liên lụy cùng phu nhân de Plougastel.
Tới tối muộn đêm đó, khi ông đương ngồi rầu rĩ trong thư viện của người em trai, cái tẩu mà ông viện đến như một nguồn an ủi đã tắt ngấm trong tay, bỗng có tiếng gõ cửa gấp gáp.
Ông quản gia già của Gavrillac ra mở cửa, để lộ trên ngưỡng cửa một thanh niên trẻ mảnh dẻ mặc áo khoác màu ô liu sẫm, đuôi áo phủ dài tới tận bắp chân. Anh ta đi ủng, mặc quần ống túm da hoẵng, đeo một thanh kiếm nhỏ, ngang eo thắt một dải băng tam tài, trên mũ cũng đeo một dải băng tam tài, thứ đem đến cho người lạ mặt một vẻ quan chức đầy đe dọa trong mắt của vị quản gia già cả đã lâu năm gắn bó với bổn phận phong kiến của mình, và hoàn toàn chia sẻ nỗi sợ hãi lúc đó của ông chủ.
“Ông muốn gì?” ông quản gia hỏi, với thái độ xen lẫn sự kính trọng và nghi ngờ.
Thế rồi một giọng nói cả quyết vang lên làm ông ta sững sờ.
“Sao vậy, Benoit! Trời ơi là trời! Chẳng lẽ bác quên bẵng mất tôi rồi sao?”
Ông lão run rẩy giơ cây đèn lồng lên để ánh sáng chiếu rõ hơn vào khuôn mặt xương xương có khuôn miệng rộng của người mới đến.
“Cậu André!” ông quản gia già kêu lên. “Cậu André!” Rồi ông lão lại nhìn dải thắt lưng và băng tam tài trên mũ chàng thanh niên, dường như do dự không biết nên làm gì.
Nhưng André-Louis đã bước qua người quản gia, tiến vào trong gian tiền sảnh rộng, với sàn nhà lát đá cẩm thạch trắng đen hình ô bàn cờ.
“Nếu cha đỡ đầu của tôi chưa đi nghỉ, hãy đưa tôi tới gặp ông. Nếu ông đã đi nghỉ rồi, cũng cứ dẫn tôi tới gặp ông.”
“Ồ, tất nhiên rồi, cậu André - và tôi chắc cha đỡ đầu của cậu sẽ rất vui khi được gặp cậu. Chưa, ông chủ chưa đi ngủ đâu. Đi đường này, cậu André; mời cậu đi lối này.”
André-Louis, vừa về tới Meudon nửa giờ trước, đã đi thẳng tới chỗ ông thị trưởng để tìm hiểu tin tức chính xác về những gì có thể đang diễn ra tại Paris, những tin tức sẽ cho phép xác nhận hoặc loại bỏ những tin đồn đáng lo ngại mà anh càng lúc càng nghe thấy nhiều hơn khi về gần tới thủ đô. Rougane báo cho anh biết cuộc nổi dậy đã cận kề, và lúc này các khu dân cư đã tự dựng lên các chốt gác, và bất cứ ai không có đầy đủ giấy tờ cần thiết đều không thể đi vào hay rời khỏi thành phố.
André-Louis cúi đầu, nghĩ tới những nguy cơ nghiêm trọng nhất. Từ lâu anh đã nhận thấy nguy cơ sẽ có một cuộc cách mạng thứ hai phát sinh trong lòng cuộc cách mạng thứ nhất, một biến cố có thể sẽ hủy hoại hết mọi thứ đã được hoàn thành, và trao quyền lực vào tay một bè phái hiểm độc chắc chắn sẽ khiến cả quốc gia chìm vào cảnh hỗn loạn vô chính phủ. Điều anh vốn lo sợ giờ đây có nguy cơ sắp xảy ra hơn lúc nào hết. Anh cần vào thành phố ngay lập tức, ngay tối hôm đó, và tự mình tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra.
Rồi sau đó, trước khi ra về, anh quay lại hỏi ông Rougane xem ông de Kercadiou có còn ở Meudon hay không.
“Ông biết ông ấy sao?”
“Ông ấy là cha đỡ đầu của tôi.”
“Cha đỡ đầu của ông! Và ông là một đại biểu! Sao chứ, thế thì có lẽ ông chính là người ông ấy cần.” Và Rougane kể lại cho anh chuyến đi của con trai ông ta vào Paris chiều hôm đó cùng kết quả của nó.
Thế là quá đủ. Việc cha đỡ đầu của anh, vì một vài lý do, đã cấm cửa anh từ hai năm trước cũng không còn gì đáng kể vào một thời khắc như lúc này nữa. Anh để xe ngựa đợi mình tại nhà trọ nhỏ và đi thẳng tới chỗ ông de Kercadiou.
Và ông de Kercadiou, sững sờ trước sự xuất hiện đột ngột, nhất là vào một thời khắc như thế này, của một bóng ma vẫn khiến ông rất phiền muộn, đã chào đón anh theo cách gần như tương tự với cách ông từng đón nhận anh cũng trong căn phòng này một dịp trước đây.
“Ông muốn gì ở đây, thưa ông?”
“Để phụng sự cha nếu có thể, thưa cha đỡ đầu,” là câu trả lời với ngụ ý làm ông chủ nhà nguôi giận.
Song nó không hề khiến ông de Kercadiou nguôi giận. “Anh đã lánh mặt đi lâu tới mức tôi đã hy vọng anh sẽ không bao giờ quấy rầy tôi nữa.”
“Đáng ra con đã không dám mạo muội làm trái lời cha lúc này nếu không phải vì hy vọng con có thể có ích. Con đã gặp ông thị trưởng Rougane...”
“Ý anh là gì khi anh nói về chuyện không dám mạo muội trái lời tôi?”
“Cha đã cấm cửa con, thưa cha.”
Ông de Kercadiou sững sờ nhìn anh với vẻ ngỡ ngàng.
“Và vì thế mà anh đã không tới gặp ta trong suốt thời gian vừa qua?”
“Tất nhiên rồi. Còn có thể vì sao nữa ạ?”
Ông de Kercadiou tiếp tục nhìn anh chằm chằm. Rồi ông rủa thầm. Thật bực bội khi phải chịu đựng một người luôn khăng khăng hiểu ông hoàn toàn theo nghĩa đen như thế. Ông đã từng trông đợi André-Louis tìm đến ông với vẻ hối lỗi, thừa nhận sai lầm của anh và cầu khẩn xin được đón nhận trở lại. Và ông nói thẳng ra như vậy.
“Nhưng làm sao con có thể hy vọng cha không hoàn toàn có ý như cha đã nói, thưa cha đỡ đầu? Cha đã rất kiên quyết trong thư. Lời hối lỗi nào có thể giúp ích được cho con nếu không đồng hành với ý định sửa chữa? Và con đã không hề có ý định sửa chữa. Có lẽ chúng ta còn phải thấy biết ơn vì điều đó.”
“Biết ơn?”
“Con là một đại biểu. Con có quyền lực nhất định. Thật may con đã quay trở về Paris. Con có thể giúp đỡ cha việc mà Rougane không thể không? Tình hình, thưa cha đỡ đầu, có vẻ rất khẩn cấp nếu một nửa những gì con nghi ngờ là đúng. Aline cần được đưa tới nơi an toàn ngay lập tức.”
Ông de Kercadiou đầu hàng vô điều kiện. Ông bước tới, nắm lấy tay André-Louis.
“Con trai của ta,” ông nói, và rõ ràng là ông rất cảm động, “trong con tồn tại một phần thật cao quý mà không ai có thể phủ nhận. Nếu có vẻ như ta khắc nghiệt với con, thì đó là vì ta đang tranh đấu chống lại những xu hướng xấu xa trong con. Ta mong muốn giữ con khỏi sa chân vào con đường ma quỷ của chính trị đã đẩy đất nước bất hạnh này tới một tai họa khủng khiếp đến thế. Kẻ thù đã ở sát biên giới; còn trong nước nội chiến sắp bùng nổ. Đó là những gì đám bạn bè cách mạng của con đã tạo ra.”
André-Louis không tranh luận. Anh đi thẳng vào việc.
“Aline thì sao bây giờ?” anh hỏi. Và rồi tự trả lời câu hỏi của bản thân: “Cô ấy đang ở Paris, và cần được đưa ra khỏi đó ngay lập tức, trước khi nơi đó biến thành bãi chiến trường, một điều rất có thể sẽ xảy ra nếu những bất bình đã sôi sục trong suốt những tháng vừa qua bùng nổ. Kế hoạch của cậu Rougane rất hay. ít nhất, con cũng không thể nghĩ ra cách nào hay hơn.”
“Nhưng ông bố cậu ta sẽ không chấp nhận làm thế.”
“Ông ấy sẽ không chấp nhận làm thế nếu ông ấy phải tự chịu hách nhiệm. Nhưng ông ấy sẽ ưng thuận làm vậy nếu người gánh chịu trách nhiệm là con. Con đã để lại cho ông ấy một tờ chứng thực với chữ ký của con xác nhận rằng giấy thông hành cho cô de Kercadiou tới Paris và quay trở về Meudon đã được ông ấy cấp theo lệnh của con. Quyền lực con có trong tay, thứ đã làm ông ấy hài lòng, chính là cái cớ đủ nặng đô để ông ấy tuân lệnh con trong việc này. Con đã để lại cho ông ấy tờ giấy chứng thực đó với thỏa thuận rằng ông ấy chỉ dùng đến nó trong trường hợp tối khẩn cấp để bảo vệ bản thân. Để đổi lại, ông ấy đã đưa cho con giấy thông hành này.”
“Con đã có nó rồi ư!”
Ông de Kercadiou cầm lấy tờ giấy André-Louis chìa ra. Bàn tay ông run lẩy bẩy. Ông cầm nó mang tới gần giá nến đang cháy trên mặt bàn và ghé sát cặp mắt cận thị của mình lại để đọc.
“Nếu cha để cậu thanh niên Rougane cầm giấy thông hành này tới Paris vào buổi sáng,” André-Louis nói, “chắc tới trua Aline sẽ có mặt tại đây. Tất nhiên không thể làm gì tối nay mà không gây ra nghi ngờ. Bây giờ đã quá muộn. Và giờ, thưa cha đỡ đầu, cha đã biết chính xác vì sao con đường đột vi phạm lệnh cấm của cha. Nếu con có thể có ích cho cha theo một cách nào khác, cha chỉ cần nói ra và con sẽ thực hiện ngay.”
“Có đấy, André. Chẳng lẽ Rougane không nói với con là vẫn còn những người khác...”
“Ông ấy có nhắc tới phu nhân de Plougastel và người hầu của bà ấy.”
“Vậy tại sao...?” Ông de Kercadiou bỏ lửng và dùng ánh mắt để hoàn tất câu hỏi của mình.
“Điều đó là không thể,” anh nói.
Ông de Kercadiou kinh ngạc há hốc miệng. “Không thể!” ông nhắc lại. “Nhưng tại sao?”
“Cha đỡ đầu, con có thể làm việc con đang làm cho Aline mà không phản lại lương tâm của con. Hơn nữa, vì Aline con sẵn sàng phản lại lương tâm của mình để làm điều đó. Nhưng phu nhân de Plougastel lại là một trường hợp khác hẳn. Cả Aline lẫn người thân của cô ấy đều không ai can dự tới các hoạt động phản cách mạng, vốn là nguồn gốc thực sự của những tai họa giờ đây đang đe dọa trút xuống đầu chúng ta. Con có thể đưa cô ấy rời khỏi Paris mà không có gì phải tự trách mình, tin chắc rằng con đang làm một việc mà không ai có thể chỉ trích, và cũng không thể trở thành mục tiêu bị điều tra. Nhưng phu nhân de Plougastel là vợ của bá tước de Plougastel, người ai cũng biết là tín sứ giữa Triều đình và những kẻ lưu vong.”
“Đó đâu phải lỗi của bà ấy,” ông de Kercadiou kêu lên bất bình.
“Con đồng ý. Nhưng bà ấy có thể bị triệu tập bất cứ lúc nào để xác minh rằng bà ấy không can dự vào những hoạt động đó. Người ta biết hôm nay bà ấy có mặt tại Paris. Nếu ngày mai người ta tới tìm nữ bá tước và phát hiện ra bà ấy đã biến mất, chắc chắn cuộc điều tra sẽ được tiến hành, và nó chắc chắn sẽ đưa tới kết quả là con đã phản bội, lạm dụng quyền lực được giao phó để phục vụ mục đích cá nhân. Cha đỡ đầu, con hy vọng cha sẽ hiểu đó là một mối mạo hiểm quá lớn để có thể chấp nhận vì một người xa lạ.”
“Một người xa lạ ư?” nhà quý tộc hỏi lại đầy trách móc.
“Hoàn toàn là một người xa lạ với con,” André-Louis nói.
“Nhưng bà ấy không phải là người xa lạ với ta, André. Bà ấy là em họ ta, đồng thời là một người bạn thân ta rất trân trọng. Và, lạy Chúa, những gì con nói chỉ càng khiến cho việc đưa bà ấy ra khỏi Paris trở nên quan trọng. Bà ấy cần được cứu, André, bằng mọi giá - bà ấy cần phải được cứu! Sao chứ, trường hợp của nữ bá tước còn khẩn cấp hơn Aline nhiều!”
Ông đứng trước con đỡ đầu của mình như một người đi cầu khẩn, giờ đây hoàn toàn khác hẳn con người cứng rắn đã chào đón anh khi anh tới. Khuôn mặt ông tái nhợt, hai bàn tay run rẩy, và trán ông lấm tấm mồ hôi.
“Cha đỡ đầu, con sẽ làm bất cứ điều gì hợp lý. Nhưng con không thể làm việc này. Cứu nữ bá tước rất có thể đồng nghĩa với tai họa vô phương cứu vãn xảy ra với Aline, với chính cha cũng như con.”
“Chúng ta phải chấp nhận rủi ro.”
“Tất nhiên cha có quyền làm vậy.”
“Ôi, và ta làm điều đó cho con, André, tin ta đi, cho con!” Ông bước tới sát chàng trai trẻ. “André, ta cầu xin con hãy tin lời ta, và hãy thu xếp giấy thông hành cho phu nhân de Plougastel.”
André nhìn ông với vẻ không hiểu. “Thật kỳ lạ,” anh nói. “Con có những kỷ niệm rất đáng trân trọng về sự quan tâm bà ấy từng dành cho con trong vài ngày hồi con còn bé, và một lần gần đây ở Paris khi bà ấy tìm cách thuyết phục con đi theo cái bà ấy coi là khuynh hướng chính trị đúng đắn. Nhưng con sẽ không mạo hiểm cái cổ của mình - cũng như của cha hay Aline - vì bà ấy.”
“A! Nhưng, André...”
“Đó là lời cuối cùng của con, thưa cha đỡ đầu. Đã khá muộn rồi, và con mong muốn được qua đêm trong Paris.”
“Không, không! Đợi đã!” Lãnh chúa Gavrillac bộc lộ một tâm trạng khổ sở không thể nói ra lời. “André, con cần làm thế!”
Trong những lời nài nỉ kiên quyết này, và hơn thế, trong thái độ cuống cuồng của ông, có điều gì đó vô lý tới mức André không thể không đi tới kết luận rằng đằng sau nó là một nguyên do đen tối bí ẩn nào đó.
“Con cần làm thế ư?” anh nhắc lại. “Tại sao con lại cần phải làm thế? Cha có thể cho con biết lý do của cha được không, cha đỡ đầu?”
“André, lý do của ta khủng khiếp lắm.”
“Xin cha hãy làm ơn cho con được là người phán xét xem điều đó có khủng khiếp hay không.” André-Louis gần như bức ép ông.
Lời yêu cầu ấy dường như làm ông de Kercadiou lâm vào tình cảnh tuyệt vọng. Ông đi đi lại lại trong phòng, chắp tay sau lưng, lông mày cau lại. Cuối cùng, ông tới đứng trước mặt người con đỡ đầu.
“Chẳng lẽ con không thể tin ta khi ta nói rằng ta có lý do riêng sao?” ông thẫn thờ nói.
“Trong một chuyện như thế này - một vấn đề can dự đến tính mạng của con ư? Ôi, thưa cha đỡ đầu, như thế liệu có hợp lý không?”
“Ta sẽ vi phạm lời hứa danh dự, lời thề của ta, nếu ta nói cho con biết.” Ông de Kercadiou lại quay đi, vặn vẹo hai bàn tay, bộ dạng của nhà quý tộc lúc này thật đáng thương hại; sau đó ông quay lại bên André. “Nhưng trong lúc ngặt nghèo này, ngặt nghèo đến tột cùng này, và vì con đã khăng khăng hỏi ta một cách thiếu độ lượng đến thế, ta sẽ phải nói cho con biết. Mong Chúa giúp ta, ta không còn cách nào khác. Bà ấy sẽ hiểu khi bà ấy biết chuyện. André, con trai của ta...” Ông lại ngừng lời, như thể đang sợ hãi. Ông đặt tay lên vai người con đỡ đầu, và André-Louis càng lúc càng kinh ngạc hơn khi anh nhận ra những giọt nước mắt đã ứa trên đôi mắt cận thị nhạt màu của ông. “Phu nhân de Plougastel là mẹ con.”
Rồi trong một lúc lâu, là im lặng hoàn toàn. Chàng trai trẻ không thể hiểu ngay lập tức điều anh vừa được cho biết. Khi cuối cùng anh cũng vỡ lẽ ra, cảm giác đầu tiên của André-Louis là muốn bật khóc. Nhưng rồi anh kiểm soát được bản thân, và lại vào vai một con người Khắc kỷ. Dường như anh luôn phải diễn một vai nào đó. Đó là bản chất của anh. Và chàng trai trẻ luôn trung thành với bản chất của mình ngay cả trong khoảnh khắc cảm xúc bị đẩy lên đến tột cùng này. Anh tiếp tục im lặng cho tới khi, tuân theo bản năng diễn viên kỳ lạ đó, anh biết mình có thể nói ra mà không bộc lộ chút cảm xúc nào. “Con hiểu rồi,” cuối cùng anh lên tiếng, một cách khá bình thản.
Tâm trí anh quay trở lại quá khứ. Anh nhanh chóng lướt qua những ký ức về phu nhân de Plougastel, sự quan tâm đặc biệt cho dù rất đỗi ngắn ngủi mà bà dành cho anh, thái độ pha trộn một cách kỳ lạ giữa vẻ trìu mến và buồn bã luôn hiện hữu những khi bà ở bên anh, và cuối cùng anh cũng hiểu ra rất nhiều điều vốn vẫn khiến anh băn khoăn cho tới lúc này.
“Con hiểu rồi,” anh lặp lại lần nữa; và lần này nói thêm, “Tất nhiên, bất cứ ai ngoại trừ một gã ngốc cũng đã phải đoán ra chuyện này từ lâu rồi.”
Lần này đến lượt ông de Kercadiou kêu lên, loạng choạng lùi lại như vừa nhận phải một đòn trời giáng.
“Lạy Chúa, André, con làm bằng gì vậy? Làm sao con có thể đón nhận một chuyện như thế theo cách này được?”
“Vậy cha muốn con đón nhận nó như thế nào đây? Chẳng lẽ con phải ngạc nhiên khi phát hiện ra mình có một người mẹ sao? Nói gì thì nói, một người mẹ cũng là điều cần thiết để người ta có thể ra đời.”
Anh đột ngột ngồi sụp xuống, để che giấu sự thật quá dễ phát hiện ra là hai chân anh đang run rẩy. Anh lấy khăn tay trong túi ra lau vầng trán lúc này đã ướt đẫm. Và rồi, thật đột ngột, anh nhận ra mình đang khóc.
Thấy những giọt nước mắt đang lặng lẽ lăn xưống trên khuôn mặt đã trở nên tái nhợt, ông de Kercadiou hối hả chạy tới bên anh. Ông ngồi xuống cạnh anh, quàng tay đầy trìu mến qua vai anh.
“André, con trai tội nghiệp của ta,” ông thì thầm. “Ta thật ngốc khi nghĩ con không có trái tim. Con đã khiến ta lầm tưởng vì những trò giả bộ quái quỷ của con, và giờ ta thấy... ta thấy...” Ông không dám chắc đó thực sự là điều ông thấy, hoặc có thể ông do dự không muốn nói ra.
“Không có gì đâu, thưa cha. Con hơi mệt, và... và con thấy lạnh trên đầu.” Sau đó, nhận ra vai diễn đã trở nên quá sức với mình, anh đột ngột rũ sạch nó đi, từ bỏ hết trò giả bộ. “Tại sao... tại sao phải có tất cả những bí ẩn đó?” anh hỏi. “Chẳng lẽ theo dự định con sẽ không bao giờ được biết sao?”
“Đúng vậy, André. Cần... cần phải làm thế, vì thận trọng.”
“Nhưng tại sao? Hãy kể nốt câu chuyện bí mật của cha đi, thưa cha. Chắc chắn cha không thể bỏ lửng nó ở đó. Sau khi đã kể cho con biết nhiều đến thế, cha cần kể cho con nghe tất cả.”
“Lý do, con trai của ta, là con ra đời chừng ba năm sau khi mẹ con kết hôn với ông de Plougastel, và chừng mười tám tháng sau khi ông de Plougastel lên đường tòng quân, và chừng bốn tháng trước khi bá tước trở về với vợ mình. Ông de Plougastel không bao giờ nghi ngờ về chuyện này, và vì những lý do gia đình, ông không bao giờ được nghi ngờ. Đó là lý do tại sao phải giữ bí mật tuyệt đối. Đó là lý do tại sao không bao giờ có ai được biết. Mẹ con đã kịp thời đi tới Bretagne, ở lại vài tháng tại làng Moreau dưới một cái tên giả. Chính trong thời gian bà ấy ở đó con đã ra đời.”
André-Louis ngẫm nghĩ về những gì vừa được nghe. Anh đã lau khô nước mắt. Và lúc này anh ngồi cứng đờ người, hoàn toàn bình tĩnh.
“Khí cha nói không có ai được biết về chuyện này, tất nhiên cha đang muốn nói với con rằng cha, thưa cha đỡ đầu...”
“Ôi, lạy Chúa, không!” Lời phủ nhận bùng ra dữ dội. Ông de Kercadiou bật dậy khỏi chỗ ngồi bên cạnh André bởi những cảm xúc mãnh liệt đang bùng lên. Như thể lời ám chỉ đó khiến ông kinh hoàng tột độ. “Ta là người duy nhất còn lại biết chuyện. Nhưng nó không như con nghĩ đâu, André. Con không thể cho rằng ta có thể dối trá với con, rằng ta có thể chối bỏ con nếu con thực sự là con trai ta đấy chứ?”
“Nếu cha nói rằng không phải vậy, thưa cha đỡ đầu, như thế là đủ.”
“Con không phải con trai ta. Ta là anh họ của Thérèse và cũng là người bạn chân thành nhất của bà ấy, và mẹ con cũng biết rõ điều này. Mẹ con biết bà ấy có thể tin tưởng ta; và bà ấy đã tìm đến ta nhờ giúp đỡ lúc lâm vào cảnh cùng quẫn. Đã có lần, nhiều năm trước đó, ta từng muốn cầu hôn mẹ con. Nhưng, tất nhiên rồi, ta không phải loại đàn ông mà phụ nữ có thể yêu được. Tuy nhiên, mẹ con đặt niềm tin vào tình yêu ta dành cho bà ấy, và ta đã đáp lại niềm tin của mẹ con.”
“Vậy thì ai là bố con?”
“Ta không biết. Bà ấy chưa bao giờ nói với ta. Đó là bí mật của bà ấy, và ta không tò mò tìm hiểu. Đó không phải là tính cách của ta, André.”
André-Louis đứng dậy, và im lặng đối diện với ông de Kercadiou.
“Con tin ta chứ, André?”
“Tất nhiên rồi, cha đỡ đầu; và con lấy làm tiếc, con lấy làm tiếc rằng con không phải là con trai của cha.”
Ông de Kercadiou run rẩy nắm lấy bàn tay người con đỡ đầu, và giữ như thế một lát không nói gì. Rồi khi buông tay anh ra, ông lên tiếng:
“Và bây giờ, con sẽ làm gì, André?” ông hỏi. “Giờ đây khi con đã biết?”
André-Louis đứng một hồi, hầm ngâm suy nghĩ, rồi phá lên cười. Hoàn cảnh này cũng có khía cạnh hài hước của nó. Anh liền giải thích.
“Chuyện này có thể tạo ra sự khác biệt nào đây? Liệu một mối quan hệ như tình mẫu tử có thể đột nhiên hiện hữu chỉ bằng việc công bố nó ra hay không? Liệu con có nên mạo hiểm tính mạng, hành xử thiếu kiềm chế vì một người mẹ đã giỏi kiềm chế tới mức không hề có ý định bộc lộ thân phận của mình? Việc con biết được chuyện này chỉ hoàn toàn là do tình cờ, do một lần gieo súc sắc của Số phận. Liệu nó có thể có bao nhiêu sức nặng với con đây?”
“Quyết định là của con, André.”
“Không, nó vượt quá khả năng của con. Ai có thể xin cứ việc quyết định, con không thể.”
“Ý con là ngay cả lúc này con vẫn từ chối?”
“Ý con là con chấp nhận. Vì con không thể quyết định được mình nên làm gì, con chỉ còn cách làm theo những gì một đứa con nên làm. Thật lố bịch; nhưng cuộc sống này có gì là không lố bịch chứ.”
“Con sẽ không bao giờ, không bao giờ phải hối tiếc vì quyết định này.”
“Con hy vọng là không,” André nói. “Nhưng con nghĩ nhiều khả năng sẽ là có. Tốt hơn hết con nên đi gặp Rougane luôn để lấy thêm hai giấy thông hành. Sau đó, có lẽ tốt nhất con nên tự mình mang chúng tới Paris vào buổi sáng. Nếu cha có thể thu xếp cho con một cái giuờng, con sẽ rất biết ơn. Con... con thú thực con khó lòng có thể làm gì nhiều hơn vào tối nay.”
❀ ❀ ❀
[1] Ủy ban đặc biệt phụ trách việc phát giác và truy quét các âm mưu phản cách mạng thời Cách mạng Tư sản Pháp.