Ngay trong tuần đó, anh được đón Le Chapelier ghé thăm ngay trước giữa trưa.
“Tôi có tin cho cậu đây, André. Cha đỡ đầu của cậu đang ở Meudon. Ông ấy vừa tới đó hai ngày trước. Cậu đã biết chưa?”
“Chưa. Làm sao tôi biết được? Tại sao ông ấy lại ở Meudon?” Anh ý thức được chút phấn khích nho nhỏ, một cảm xúc anh khó lòng lý giải nổi.
“Tôi không biết. Vừa mới có thêm chuyện lộn xộn xảy ra ở vùng Bretagne. Có thể đó là nguyên nhân.”
“Và vậy là ông ấy tìm đến nương nhờ em trai mình?” André-Louis hỏi.
“Tới nhà em trai ông ấy, đúng thế; nhưng không phải tới với em trai ông ấy. Cậu sống ở đâu vậy, André? Chẳng lẽ cậu không bao giờ nghe thấy tin tức gì hay sao? Etienne de Gavrillac đã ra nước ngoài lâu rồi. Ông ta thuộc về phe của d’Artois[1], và đã vượt biên cùng với hắn. Giờ này, không nghi ngờ gì nữa, chắc hẳn ông ta đang ở Đức cùng bá tước với âm mưu chống lại nước Pháp. Vì đó là những gì đám di tản làm. Ả đàn bà người Áo ở Tuileries[2] kia thế nào cũng sẽ hủy diệt nền quân chủ.”
“Phải, phải,” André-Louis sốt ruột nói. Vào lúc này chính trị chẳng hề khiến anh bận tâm chút nào. “Nhưng còn Gavrillac thì sao?”
“Sao cơ, chẳng phải tôi đã nói với cậu Gavrillac đang ở Meudon, tới sống trong ngôi nhà em trai ông ta để lại hay sao? Chúa ơi! Tôi đang không nói tiếng Pháp hay cậu không còn hiểu thứ tiếng này nữa vậy? Tôi tin rằng Rabouillet, quản lý của ông ấy, đang đảm đương mọi việc tại Gavrillac. Tôi đã mang tin này tới cho cậu ngay khi tôi biết được. Tôi nghĩ chắc cậu sẽ muốn tới Meudon.”
“Tất nhiên tôi sẽ đi đến đó ngay lập tức - nghĩa là sớm nhất có thể. Hôm nay tôi chưa thể đi được, ngày mai cũng thế. Ở đây tôi đang quá bận rộn.” Anh vung tay về phía căn phòng bên trong, từ đó không ngừng vọng ra tiếng những thanh kiếm va vào nhau chan chát, tiếng bàn chân di chuyển thật nhanh nhẹn, và giọng nói của người huấn luyện, Le Due.
“Được thôi, đó là việc riêng của cậu. Cậu đang bận. Vậy bây giờ tôi sẽ không quấy quả cậu thêm nữa. Chúng ta hãy cùng dùng bữa tối nay tại quán Café de Foy. Kersain cũng sẽ có mặt.”
“Đợi chút đã!” Giọng nói của André-Louis vang lên giữ chân anh ta lại ngay trên ngưỡng cửa. “Tiểu thư de Kercadiou có ở cùng bác cô ấy không?”
“Làm thế quái nào tôi biết được? Hãy tự đến đó mà tìm hiểu.”
Vị đại biểu ra về, còn André-Louis đứng đó một lát chìm đắm trong suy nghĩ. Sau đó anh quay vào phòng tập, tiếp tục luyện cho học sinh của mình, tử tước de Villeniort, chiêu demi-contre Danet đang dạy dở, minh họa bằng một thanh đoản kiếm những lợi thế có được từ việc sử dụng đường kiếm này.
Sau đó, anh tập đối kháng với tử tước, có lẽ là học sinh xuất sắc nhất của anh vào thời điểm đó, trong khi ý nghĩ hướng tới những ngọn đồi ở Meudon, tâm trí anh soát lại lịch các bài học anh sẽ dạy chiều hôm đó và ngày hôm sau, đồng thời tự hỏi trong số đó anh có thể hoãn được những bài nào mà không làm rối loạn hoạt động của phòng tập kiếm. Sau khi đánh trúng tử tước ba lần liên tiếp, anh dừng lại, lùi ra sau, không khỏi kinh ngạc trước sự chính xác có được chỉ đơn thuần nhờ các động tác được thực hiện một cách vô thức. Cho dù không hề bận tâm tới những gì đang làm, cổ tay, cánh tay và đầu gối anh đã tự động thực hiện phần việc của chúng, giống như một cỗ máy chiến đấu chính xác mà hơn một năm liên tục luyện tập vừa qua đã kết hợp thành.
Mãi tới tận Chủ nhật André-Louis mới có điều kiện thỏa mãn cái mong ước mà cảm giác sốt ruột bồn chồn của những ngày trước đó đã biến thành nỗi khao khát. Ăn mặc chăm chút hơn so với ngày thường, mái tóc được tạo kiểu lịch thiệp - bởi một trong những người thợ làm tóc cho giới quý tộc vốn gần đây lâm vào cảnh thất nghiệp khá nhiều do dòng người di tản lúc này đang mỗi lúc một đông lên - André-Louis leo lên cỗ xe ngựa thuê, và lên đường tới Meudon.
Ngôi nhà của người con thứ trong gia đình Kercadiou chẳng hề có điểm tương đồng nào với tu thất của người con cả, cũng như ông em bản thân chẳng mấy tương đồng với người anh. Một con người của triều đình, trong khi anh trai ông ta hoàn toàn là con người của vườn tược, và là sĩ quan dưới trướng bá tước d’Artois, người em đã xây cho bản thân và gia đình một tòa biệt thự tráng lệ nằm trên các ngọn đồi ở Meudon, giữa một khu tư viên nhỏ, tọa lạc một cách rất thuận lợi cho chủ nhân của nó tại chính giữa Versailles và Paris. Bá tước d’Artois - tay chơi bóng quần của hoàng gia - là một trong những người đầu tiên di tản. Cùng với các gia tộc Conde, Conti, Polignac và những thành viên khác trong đám cận thần thân tín của hoàng hậu, ông thống chế già de Broglie và hoàng thân de Lambesc, những người hiểu chỉ nguyên tên họ của họ cũng trở nên đáng ghê tởm với dân chúng, đã rời nước Pháp ngay sau khi Bastille thất thủ. Ông ta đã di tản để tiếp tục chơi bóng quần bên kia biên giới - và tại đó tiếp tục hoàn tất việc làm sụp đổ chế độ quân chủ Pháp mà ông ta cùng những người đồng hội đồng thuyền với mình đã bắt đầu từ khi còn ở trong nước. Cùng với ông ta, trong số vài thành viên gia tộc, Etienne de Kercadiou cũng di tản, và đi cùng Etienne de Kercadiou là gia đình ông này, một người vợ và bốn đứa con. Kết quả là lãnh chúa Gavrillac, lấy làm mừng được thoát khỏi một nơi nhiễu nhương rối ren như Bretagne thời đó - nơi giới quý tộc tỏ ra ương ngạnh không khoan nhượng nhất so với trên toàn nước Pháp - đã tới tiếp quản ngôi biệt thự đẹp đẽ của vị triều thần tại Meudon trong lúc ông ta vắng mặt.
Khó có thể trông đợi ông thực sự vui vẻ ở đó. Là một người với thói quen gần như khắc kỷ, quen thuộc với chế độ ăn uống đạm bạc và tự cung tự cấp, ông có phần thấy khó chịu với tòa dinh thự quá xa hoa này, với những tấm đệm êm ái, lộng lẫy chói lòa với ánh thếp vàng xuất hiện khắp nơi, cũng như đội ngũ đông đảo gia nhân đầy tớ nói năng khéo léo với đôi chân êm ái - vì Kercadiou em đã để lại tất cả sau lưng. Thòi gian, vốn được ông lãnh chúa sử dụng trọn vẹn ở Gavrillac vào việc chăm lo đến chuyện mùa màng, trôi qua tại đây thật nặng nề. Để tự vệ, ông đã ngủ rất nhiều, và nếu không vì Aline, người không hề giấu giếm sự vui thích của nàng khi được sống gần Paris, được ở giữa trung tâm của mọi thứ, rất có thể ông lãnh chúa quê mùa đã rút lui ngay lập tức khỏi bối cảnh xung quanh quá tương phản với thói quen của ông. Có thể sau này dần dà ông sẽ trở nên quen dần và cam chịu chấp nhận cảnh ăn không ngồi rồi trong nhung lụa. Trong thời gian chờ cho tới lúc ấy, sự mới mẻ của cuộc sống này làm ông phát cáu, và vào đầu giờ chiều ngày Chủ nhật đó của tháng Sáu, André-Louis đã được dẫn vào ra mắt một quý ông de Kercadiou đang hết sức bẳn gắt và có phần lơ mơ buồn ngủ. Sự xuất hiện của anh không được báo trước, như thói quen ngày trước ở Gavrillac. Bởi vì Benoit, người quản gia già của ông de Kercadiou, đã tháp tùng chủ nhân của mình trong cuộc phiêu lưu êm đềm này, và được bổ nhiệm - trước sự bỡn cợt không dứt và cũng chỉ được che giấu nửa vời của đám gia nhân hỗn hào quý ông Etienne để lại - làm quản gia của bác anh ở đây, tại Meudon.
Benoit đón chào cậu André với vẻ hân hoan tới mức cuống quýt; gần như ông lão đã nhảy cẫng lên như một con chó trung thành trong lúc dẫn anh vào phòng khách để ra mắt lãnh chúa Gavrillac, người - như Benoit nói - hẳn sẽ vui sướng mê tơi khi được gặp lại cậu André.
“Ông chủ! Ông chủ!” ông lão reo lên vót giọng nói run run, đi trước người tới thăm một hai nhịp bước. “Là cậu André... cậu André, con đỡ đầu của ông, tới để hôn tay ông. Cậu ấy ở đây... và trông lịch sự đến mức ông chủ cũng khó lòng mà nhận ra. Cậu ấy đây, thưa ông chủ! Chẳng phải trông cậu ấy thật đẹp sao?”
Và người hầu già xoa tay tin chắc vào sự vui mừng mà mình đang mang tới cho chủ nhân.
André-Louis bước qua ngưỡng cửa gian phòng rộng mênh mông đó, chân đặt lên tấm thảm trải sàn mềm mại, trong lúc đôi mắt hoa lên vì cảnh tượng hiện ra xung quanh. Căn phòng có trần rất cao, và mái nhà trang trí các hình hoa lá được đỡ bằng những cột trụ múi khế có đỉnh cột khảm vàng. Cánh cửa anh vừa bước qua, cũng như khung cửa sổ mở ra khu vườn đều rất cao - trên thực tế, chúng gần như vươn lên tới hết chiều cao của căn phòng. Đó là một căn phòng tràn ngập những mảng thếp vàng lộng lẫy, với vô vàn mảng đồng giả vàng khảm trên các món đồ gỗ, một cảnh tượng kỳ thực cũng chẳng hề khác biệt so với những gì thường thấy tại dinh thự của những người xuất thân quý phái và giàu có. Quả thực, chưa bao giờ lượng vàng được sử dụng vào mục đích trang trí lại nhiều đến như vào thời kỳ này, khi gần như không thể kiếm ra được những đồng tiền vàng nữa, đến nỗi tiền giấy đã phải được đưa vào lưu hành để bù đắp sự thiếu hụt. Chẳng vậy mà André-Louis vẫn hay nói nếu những người này chỉ cần chịu khó dán giấy lên tường và cho vàng vào hầu bao của họ thì hẳn là tình hình tài chính của vương quốc rất có thể sẽ trở nên khả quan ngay.
Ông chủ nhà - đã được trang hoàng chải chuốt lại cho hài hòa với bối cảnh xung quanh ông - đứng dậy, sững sờ trước sự thâm nhập đầy phấn khích của Benoit, người vốn cũng rơi vào tình trạng ủ ê gần như chẳng kém gì ông kể từ khi họ chuyển tới Meudon.
“Cái gì vậy? Hả?” đôi mắt cận thị nhạt màu của ông nhìn chằm chằm về phía vị khách. “André!” ông thốt lên, xen lẫn cả ngạc nhiên và bực bội; khuôn mặt to hồng hào của ông đỏ lên.
Benoit, lúc đó đang quay lưng lại với ông chủ, cố ý nháy mắt mỉm cười với André-Louis để động viên anh đừng e ngại trước bất cứ biểu hiện khó chịu nào từ phía người cha đỡ đầu của anh. Xong đâu đấy, ông lão tinh nhanh tế nhị rút lui.
“Anh muốn gì ở tôi?” ông de Kercadiou hầm hừ.
“Không gì hơn ngoài được hôn tay cha, như Benoit đã nói cho cha biết, thưa cha đỡ đầu,” André-Louis ngoan ngoãn nói, cúi mái đầu đen bóng của anh xuống.
“Anh đã xoay xở tốt mà không cần phải hôn nó suốt hai năm qua.”
“Cha đỡ đầu, xin đừng trách cứ con chỉ vì bất hạnh con gặp phải.”
Nhà quý tộc bé nhỏ cứng đờ người ra, cái đầu to quá khổ ngẩng cao, đôi mắt lồi nhạt màu đầy nghiêm khắc.
“Có phải anh nghĩ có thể làm cho hành động xúc phạm đáng phẫn nộ của anh trở nên dễ chấp nhận hơn bằng cách biến mất một cách vô tâm như thế, bằng cách mặc kệ không cho chúng ta hay anh còn sống hay đã chết?”
“Lúc đầu việc tiết lộ nơi con ẩn náu là rất nguy hiểm - nguy hiểm cho tính mạng của con. Rồi sau đó, có lúc con lâm vào cảnh khốn quẫn, gần như cùng đường, và lòng tự tôn không cho phép con, sau những gì con đã làm cũng như cách mà cha nhìn nhận chúng, được phép cầu cứu cha. Sau đó...”
“Khốn quẫn ư?” Vị lãnh chúa ngắt lời anh. Trong chốc lát môi ông run lên. Sau đó ông bình tâm lại, và khuôn mặt ông càng cau vào khi quan sát người con đỡ đầu lịch thiệp đã thay đổi rất nhiều của ông, nhận ra sự sang trọng kín đáo trong vẻ bề ngoài của anh, những chiếc khóa và đôi gót đỏ trên đôi giày anh đi, thanh kiếm có chuôi khảm xà cừ và bạc, mái tóc được chăm chút cẩn thận trước đây ông vốn chỉ thấy bị bỏ mặc cho rủ xuống lòa xòa quanh khuôn mặt anh. “Ít nhất bây giờ trông anh chẳng mấy khốn quẫn,” ông mỉa mai.
“Lúc này thì không. Kể từ dạo đó con đã khá lên. Trong chuyện này, thưa cha đỡ đầu, con khác với những đứa con lang bạt thông thường, những kẻ chỉ chịu quay về nhà khi nó cần đến sự trợ giúp. Con quay về chỉ đơn thuần vì con yêu quý cha - để nói với cha điều đó. Con tới đây ngay sau khi con biết cha đang ở đây.” Anh bước tới. “Cha đỡ đầu của con!” anh nói, và đưa bàn tay ra.
Nhưng ông de Kercadiou vẫn không mềm lòng, vẫn giữ nguyên vẻ kiêu hãnh lạnh lùng đầy tức giận.
“Cho dù anh đã phải chịu đựng khổ cực đến thế nào đi nữa, hay khăng khăng tự cho rằng anh đã phải chịu đựng chúng, thì chúng vẫn còn xa mới xứng với những gì mà cách cư xử đáng xấu hổ của anh đáng phải nhận, và ta thấy có vẻ chúng chưa hề làm giảm bớt sự ngỗ nghịch của anh. Anh nghĩ anh chỉ việc mò đến đây và nói ‘Cha đỡ đầu của con!’ là mọi thứ sẽ được tha thứ và quên lãng. Đó là sai lầm của anh. Anh đã phạm phải một sai lầm quá ghê gớm; anh đã xúc phạm tới mọi thứ mà ta trân trọng, và xúc phạm tới chính bản thân ta, qua việc phản bội niềm tin ta dành cho anh. Anh là một trong những tên du đãng tồi tệ đã gây ra cuộc cách mạng này.”
“Than ôi, cha đỡ đầu, con thấy là cha cũng chia sẻ quan niệm sai lầm ấy. Những tên du đãng tồi tệ ấy chẳng qua chỉ muốn có một hiến pháp, thứ chính nhà vua đã hứa với họ. Họ không thể biết lời hứa ấy lại không chân thành, hay việc biến nó thành hiện thực lại bị các tầng lớp đặc quyền ngáng trở. Những người đã thúc đẩy cuộc cách mạng này, thưa cha, là các quý tộc và tu sĩ.”
“Anh dám - và vào một lúc như thế này - đứng đó nói với ta những lời dối trá ghê tởm đó! Anh dám nói rằng các nhà quý tộc đã gây ra cuộc cách mạng, trong khi hàng chục người trong số họ, theo gương công tước d’Aguillon, đã vứt trả lại các đặc quyền, thậm chí cả giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai của họ, cho dân chúng! Hay có lẽ anh định phủ nhận chuyện này?”
“Ồ, không. Sau khi đã ương ngạnh tự châm lửa đốt ngôi nhà của chính họ, giờ đây bọn họ lại cố dập lửa bằng cách hắt nước lên; và hễ không thành công thì họ đổ hết tội lỗi cho ngọn lửa.”
“Ta thấy rằng anh tìm đến đây để nói chuyện chính trị.”
“Hoàn toàn không phải thế. Con tới để giải thích cho mình, nếu điều đó là có thể. Hiểu luôn đồng nghĩa với tha thứ. Đó là một câu nói vĩ đại của Montaigne. Nếu con có thể làm cha hiểu...”
“Anh không thể. Anh sẽ không bao giờ khiến tôi hiểu được vì đâu mà anh khiến mình trở nên tai tiếng một cách đáng ghê tởm như thế ở Bretagne.”
“À, thưa cha đỡ đầu, không hề đáng ghê tởm!”
“Đáng ghê tởm, chắc chắn rồi - nhất là trong mắt những người có địa vị. Người ta thậm chí còn đồn đại rằng anh chính là Omnes Omnibus, mặc dù chuyện này thì tôi không thể tin, và sẽ không tin.”
“Thế nhưng nó lại đúng đấy.”
Ông de Kercadiou nghẹn lời. “Và anh thừa nhận? Anh dám cả gan thừa nhận?”
“Những gì một người đã dám làm, anh ta cũng nên dám thừa nhận - trừ phi anh ta là một kẻ hèn nhát.”
“Ồ, và chắc chắn là anh rất can đảm rồi, luôn bỏ chạy sau khi đã gây ra tai họa, xoay sang làm diễn viên để lẩn trốn, gây ra thêm tai họa nữa khi làm diễn viên, gây ra một cuộc bạo động ở Nantes, rồi sau đó lại bỏ chạy, rồi trở thành cái gì thì chỉ Chúa mới biết được - hẳn là một thứ chẳng lương thiện gì, nếu nhìn qua bộ dạng phát tài của anh. Chúa ơi, ta xin nói cho anh hay suốt hai năm qua ta vẫn hy vọng anh đã chết, và anh làm ta thất vọng vô cùng khi vẫn còn chưa chết!” Ông vỗ mạnh hai bàn tay vào nhau, và rít giọng lên “Benoit!” Ông chủ nhà quay đi bước tới bên lò sưởi, mặt đỏ lựng, cả người run lên vì xúc động. “Nếu anh chết, ta có thể đã tha thứ cho anh, như một người đã trả giá cho những gì xấu xa hắn gây ra, cũng như sự điên rồ của hắn. Anh còn sống, ta sẽ không bao giờ có thể tha thứ cho anh. Anh đã đi quá xa. Chỉ Chúa mới biết mọi chuyện sẽ kết thúc ở đâu.”
“Benoit, dẫn khách ra cửa. Dẫn ông André-Louis Moreau ra cửa!” Giọng nói của nhà quý tộc thể hiện một quyết tâm không gì lay chuyển được. Tái nhợt và đầy tự chủ, nhưng nhói đau trong tim, André-Louis lắng nghe lời xua đuổi đó, nhìn thấy khuôn mặt Benoit trắng bệch ra hốt hoảng trong khi hai bàn tay đang run rẩy của ông lão giơ lên nửa chừng như thể người quản gia sắp tranh cãi với ông chủ của mình. Thế rồi một giọng nói khác mạnh mẽ, tươi trẻ vang lên.
“Bác!” giọng nói ấy cất lên đầy phẫn nộ và ngạc nhiên, rồi sau đó là: “André!” Và lần này, trong âm hưởng gần như vui sướng, có cả sự chào đón, pha lẫn chút dư âm ngạc nhiên vẫn còn lưu lại.
Cả hai người cùng quay lại, lúc này họ đang đứng cách xa nhau cả nửa gian phòng, và trông thấy Aline trên một trong những khung cửa sổ cao đang rộng mở, vừa đứng sững lại khi sắp sửa từ ngoài vườn đi vào. Aline trong chiếc mũ vải kiểu các cô gái vắt sữa bò, thứ mốt mới nhất lúc đó, cho dù không có mặt chiếc băng tam tài vẫn thường thấy.
Đôi môi mỏng của André-Louis méo đi thành một nụ cười kỳ lạ. Trong tâm trí anh lại hiện lên ký ức về lần chia tay cuối cùng của hai người. Anh hình dung lại chính mình, đứng đó đầy phẫn nộ trên vỉa hè Nantes, nhìn theo sau cỗ xe của nàng khi nó lăn bánh xuống đại lộ Gigan,
Lúc này, nàng đang bước lại gần anh với đôi bàn tay đưa ra phía trước, đôi má hơi ửng hồng, một nụ cười chào đón tươi tắn trên môi. Anh cúi thật thấp và im lặng hôn tay nàng.
Sau đó, bằng một cái nhìn kèm theo một cử chỉ, cô thiếu nữ ra lệnh cho Benoit lui ra ngoài, và theo phong cách độc đoán của mình bắt tay vào làm luật sư biện hộ cho André-Louis chống lại lời trục xuất khắc nghiệt nàng vừa nghe thấy.
“Bác,” nàng nói, rời khỏi André và tới bên ông de Kercadiou, “bác làm cháu phải xấu hổ vì bác đấy! Khi bác để cho cảm xúc cáu bẳn lấn át tất cả tình cảm bác dành cho André!”
“Ta chẳng có tình cảm nào với nó hết. Ta đã từng có. Nó đã chọn dập tắt chúng đi. Giờ nó cứ việc đi với quỷ; và làm ơn hãy nhớ rằng ta không cho phép cháu can thiệp vào.”
“Nhưng nếu anh ấy thừa nhận anh ấy đã làm những việc sai lầm...”
“Nó chẳng thừa nhận gì như thế cả. Nó tới đây để tranh luận với ta về những thứ nhân quyền quỷ tha ma bắt đó. Nó lớn tiếng tuyên bố không có gì phải ân hận cả. Nó vỗ ngực tự nhận, đúng như cả xứ Bretagne đang nói, rằng nó chính là tên vô lại đã giấu mình dưới cái biệt danh Omnes Omnibus. Liệu ta có thể bỏ qua được không?”
Cô thiếu nữ quay sang nhìn André qua khoảng cách lúc này đang chia tách họ.
“Nhưng có thật vậy không? Chẳng lẽ anh không thấy ân hận sao, André - khi giờ đây anh đã thấy tất cả những điều tai hại đã xảy đến?”
Đó rõ ràng là một lời mở đường cho anh, khẩn cầu anh hãy nói rằng anh ân hận, và giảng hòa với cha đỡ đầu của mình. Trong khoảnh khắc, lời đề nghị ấy gần như đã làm anh dao động. Sau đó, khi nghĩ tới sự gian trá giả dối của nó, anh đã trả lời trung thực, mặc dù nỗi đau anh đang phải chịu đựng hiện rõ trong giọng nói của anh.
“Thừa nhận rằng anh ân hận,” anh chậm rãi nói, “sẽ là thừa nhận một tội ác ghê gớm. Em không thấy thế sao? Thưa cha đỡ đầu, xin hãy kiên nhẫn với con; hãy cho phép con được giải thích đôi điều. Cha nói rằng con phần nào phải chịu trách nhiệm về một số việc trong tất cả những gì đã xảy ra. Việc con hô hào người dân ở Rennes, và hai lần tại Nantes được coi là góp phần vào những gì diễn ra tiếp theo ở những nơi đó. Có thể là như thế. Có thể con không chối bỏ được điều đó. Tiếp sau những biến cố ấy là cách mạng và đổ máu. Và rất có thể còn nhiều nữa sẽ tới. Ân hận đồng nghĩa với nhận thức rằng con đã làm những việc sai lầm. Làm sao con có thể nói rằng con đã làm sai, và nhận một phần trách nhiệm về tất cả máu đã đổ ra trên chính linh hồn mình? Con sẽ rất thẳng thắn với cha để cha thấy trên thực tế con không ân hận tới mức nào. Những gì con làm, quả thực con đã làm ngược lại với những gì con tin vào thời điểm đó. Bởi vì không công lý nào ở nước Pháp chịu ra tay trừng trị kẻ sát hại Philippe de Vilmorin, con đã đi theo con đường duy nhất con hình dung có thể khiến nghiệp ác quay trở lại trút xuống bàn tay đã gây ra nó, cũng như những bàn tay khác, nắm trong tay quyền lực cần thiết để trừng phạt cái ác nhưng lại không có tinh thần làm điều đó. Kể từ khi đó, con đã nhận ra mình sai lầm, và Philippe de Vilmorin cũng như những người có cùng suy nghĩ với anh ấy đã đúng.
“Cha đỡ đầu, cha cần hiểu rằng con đã nhận ra, với sự biết ơn chân thành nhất, rằng con đã không làm gì đáng phải ân hận; mà ngược lại, khi nước Pháp nhận được món quà hiến pháp vô giá, một việc cũng sắp xảy ra rồi, có lẽ con sẽ thấy tự hào vì đã góp phần của mình vào việc tạo ra hoàn cảnh giúp cho việc này trở thành hiện thực.”
Sau đó là một khoảng ngừng. Khuôn mặt ông de Kercadiou chuyển từ hồng sang đỏ tía.
“Anh đã xong chưa?” ông gay gắt hỏi.
“Nếu cha đã hiểu con, thưa cha đỡ đầu.”
“Ồ, ta đã hiểu anh, và... và ta yêu cầu anh hãy đi ngay cho.”
André-Louis nhún vai, toát lên vẻ bẽ bàng. Anh đã tới đó thật vui vẻ, trong nỗi nhớ cồn cào, để rồi lại bị mời ra khỏi cửa. Anh nhìn Aline. Khuôn mặt nàng tái xanh, bối rối; nhưng trí tuệ đã không thể mách bảo được cho cô thiếu nữ nên giúp đỡ anh bằng cách nào. Sự thẳng thắn thái quá của anh đã chặn đứng mọi cơ hội.
“Được thôi, thưa cha đỡ đầu. Nhưng con xin cha hãy nhớ điều này sau khi con rời khỏi đây. Con đã không tới tìm cha như một kẻ tới tìm sự trợ giúp, như một kẻ bị cảnh khốn cùng bức ép buộc phải tới gặp cha. Con không phải là một đứa con đi hoang tìm về nhà, như lúc trước con đã nói. Con là một người không cần gì, không đòi hỏi gì, hoàn toàn làm chủ vận mệnh của bản thân, con tới đây hoàn toàn do tình cảm thôi thúc, dưới sự thúc giục của tình yêu và lòng biết ơn con dành cho cha và sẽ tiếp tục dành cho cha.”
“Ôi, đúng thế!” Aline kêu lên, lúc này nàng đã quay sang nhìn ông bác. Đây ít nhất cũng là một lý lẽ có lợi cho André, nàng nghĩ. “Đúng thế. Chắc chắn là...”
Ông bác bực bội rít lên buộc nàng phải im bặt.
“Sau này, có lẽ điều đó sẽ giúp cha nghĩ về con tốt hơn, thưa cha đỡ đầu.”
“Thưa ông, tôi không thấy có bất cứ lý do nào để nghĩ đến ông hết. Một lần nữa, mời ông đi ngay cho.”
André-Louis nhìn Aline trong giây lát, như thể vẫn còn do dự.
Cô thiếu nữ trả lời anh bằng một cái nhìn về phía ông bác đang bốc hỏa, nàng khẽ nhún vai, rồi nhướng mày khe khẽ, trong lúc khuôn mặt nàng nhuốm vẻ buồn bã.
Như thể nàng muốn nói: “Anh thấy tâm trạng bác em rồi đấy. Bây giờ chẳng thể làm gì được đâu.”
Anh cúi người chào với vẻ uyển chuyển đặc trưng mà phòng tập kiếm đã đem đến cho anh rồi bước qua cửa ra ngoài.
“Ôi, như thế thật tàn nhẫn!” Aline kêu lên, giọng nghẹn lại, hai bàn tay nàng nắm chặt, và nàng lao tới cửa sổ.
“Aline!” giọng nói của ông bác vang lên buộc cô thiếu nữ phải dừng lại. “Cháu đi đâu vậy?”
“Nhưng chúng ta không biết tìm anh ấy ở đâu.”
“Ai muốn tìm thằng vô lại ấy chứ?”
“Có thể chúng ta sẽ không bao giờ được gặp lại anh ấy nữa.”
“Không còn gì đáng mong ước hơn thế?’
Aline “hứ” một tiếng rồi ra ngoài qua lối cửa sổ.
Ông bác gọi với theo cô cháu gái, nghiêm khắc yêu cầu nàng quay lại. Song Aline - cô cháu gái ngoan ngoãn - vờ như không nghe thấy gì để tránh phải làm trái ý ông, và nhanh nhẹn băng qua bãi cỏ tới con đường để đón đầu André-Louis đang bỏ về.
Khi anh ủ rũ bước lại, nàng từ hàng cây bên đường bước ra đứng trước mặt anh.
“Aline!” anh thốt lên, gần như vui mừng.
“Em không muốn anh bỏ đi như thế này. Em sẽ không để anh làm thế,” nàng giải thích sự xuất hiện của mình. “Em biết rõ bác ấy hơn anh, và em biết trái tim mềm yếu rộng lượng của bác ấy sẽ dịu lại ngay thôi. Rồi bác sẽ rất hối hận. Ông sẽ muốn cho người đi tìm anh, và sẽ chẳng biết phải tới đâu mà tìm.”
“Em nghĩ vậy sao?”
“Ồ, em biết thế mà! Anh đến vào một thời điểm thật bất lợi. Bác em luôn cáu bẳn và bực bội như thế, tội nghiệp bác ấy, kể từ khi ông tới đây. Môi trường nhung lụa này hoàn toàn lạ lẫm với bác em. Ông ấy ủ rũ vì phải xa rời Gavrillac yêu quý của mình, xa rời những cuộc đi săn, việc chăm lo đồng áng, cùng với sự thật là trong đầu mình ông trách anh rất nhiều về những gì đã xảy ra - về việc chúng đã làm cho sự thay đổi này trở nên cần thiết, hay chí ít là khôn ngoan. Anh phải biết Bretagne đã trở nên rất không an toàn. Lâu đài La Tour d’Azyr, cũng như nhiều lâu đài khác, đã bị đốt trụi vài tháng trước. Vào bất cứ lúc nào, chỉ cần một cơn kích động mới, rất có thể sẽ đến lượt Gavrillac. Và vì chuyện này cũng như cuộc sống gò bó hiện tại, ông trách cứ anh và các bạn anh. Nhưng chẳng mấy chốc nữa ông sẽ hồi tâm lại. Ông sẽ ân hận vì đã xua đuổi anh đi như thế này - vì em biết, bất chấp tất cả, bác rất yêu quý anh, André. Em sẽ khuyên giải ông vào lúc thích hợp. Và đến lúc đó em và bác sẽ muốn biết cần tìm anh ở đâu.”
“Ở số 13 phố Tình Cờ. Con số không may mắn, và tên của con phố hoàn toàn phù hợp. Thế nên cả hai đều dễ nhớ.”
Nàng gật đầu. “Em sẽ đi cùng anh ra cổng.” Và hai người cùng thong thả dạo bước bên nhau theo con đường chạy dài dưới ánh nắng tháng Sáu len lỏi qua bóng của hai hàng cây bên đường. “Trông anh khá lắm, André; và anh có biết anh đã thay đổi rất nhiều không? Em rất vui vì anh đã thành công.” Và sau đó, đột ngột thay đổi chủ đề trước khi anh kịp có thời gian để trả lời, nàng chuyển sang điều đang làm tâm trí nàng bận bịu hơn cả.
“Em đã rất muốn gặp anh trong suốt những tháng vừa qua, André. Anh là người duy nhất có thể giúp em; người duy nhất có thể nói cho em biết sự thật, và em đã rất giận anh vì chẳng bao giờ viết thư cho em biết có thể tìm anh ở đâu.”
“Tất nhiên em đã động viên anh làm như thế khi chúng ta gặp nhau lần cuối ở Nantes.”
“Gì cơ? Vẫn còn giận sao?”
“Anh chưa bao giờ giận. Em cần phải biết thế.” Chàng trai trẻ lại thể hiện ra lòng tự tôn của mình. Anh thích nghĩ về bản thân như một người Khắc kỷ. “Nhưng anh vẫn mang lằn sẹo của một vết thương chắc hẳn sẽ lành lại nếu em rút lại những gì từng nói.”
“Vậy sao, nếu thế em xin rút lại, André. Giờ hãy kể cho em nghe đi.”
“Phải rồi, một hành động đầy tính toán,” anh nói. “Em trao cho anh một thứ để có thể có một thứ khác.” Anh bật cười khá vui vẻ. “Được thôi, được thôi, hãy yêu cầu đi.”
“Hãy cho em biết, André.” Nàng dừng lời, như thể đang gặp khó khăn, rồi nói tiếp trong khi hai mắt nhìn dán xuống đất. “Hãy cho em biết - sự thật về chuyện xảy ra ở Feydau.”
Lời yêu cầu làm anh cau mày. Anh lập tức nghi ngờ về ý nghĩ đã dẫn tới nó. Và kể cho cô gái nghe một cách khá đơn giản ngắn gọn về vụ lộn xộn.
Nàng lắng nghe rất chăm chú. Và khi anh kể xong, nàng thở dài; khuôn mặt cô thiếu nữ có vẻ đầy suy tư.
“Những điều đó em cũng đã được nghe kể,” nàng nói. “Nhưng người ta còn nói thêm rằng ông de La Tour d’Azyr đã tới nhà hát chỉ cốt nhằm mục đích chia tay vĩnh viễn với cô Binet. Liệu anh có biết việc này đúng hay sai không?”
“Anh không biết; và cũng không biết bất cứ lý do nào giải thích tại sao ông ta phải làm thế. Binet cho ông ta thứ thú vui mà ông ta và loại người như ông ta luôn thèm muốn...”
“Ồ có một lý do đấy,” nàng ngắt lời anh. “Em chính là lý do. Em đã nói chuyện với phu nhân de Sautron. Em nói với bà ấy rằng em sẽ không tiếp tục tiếp đón một người tìm đến với em trong trạng thái bị vấy bẩn như thế.” Cô thiếu nữ nói với vẻ khó khăn thấy rõ, mặt mỗi lúc một đỏ hơn trong lúc anh quan sát khuôn mặt hơi quay đi, tỏ vẻ né tránh của nàng.
“Giá như em lắng nghe anh...” anh bắt đầu lên tiếng, nhưng nàng lại ngắt lời anh lần nữa.
“Ông de Sautron đã nhắn lại quyết định của em tới ông ấy, và sau đó kể lại cho em nghe hầu tước đã trở nên tuyệt vọng, cảm thấy ân hận và sẵn sàng chứng minh - bằng bất cứ cách nào - về sự chân thành và tình cảm ông ấy dành cho em. Bá tước nói với em rằng ông de La Tour d’Azyr đã thề với ông ấy sẽ chấm dứt ngay mối quan hệ, rằng ông ta sẽ không tiếp tục gặp Binet nữa. Rồi sau đó, ngay ngày hôm sau, em được biết chỉ thiếu chút nữa hầu tước đã mất mạng trong vụ ẩu đả ở nhà hát. Ông ấy đã tới thẳng đó sau cuộc gặp với ông de Sautron, ngay sau khi cam đoan sẽ sửa mình, để gặp Binet. Em đã rất phẫn nộ. Em đưa ra quyết định cuối cùng. Em nói dứt khoát rằng em sẽ không bao giờ tiếp ông de La Tour d’Azyr nữa, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào! Thế rồi sau đó người ta đưa ra với em lời giải thích đó. Và suốt một thời gian dài em đã không tin.”
“Vậy là bây giờ em đã tin,” André nói thật nhanh. “Tại sao?”
“Em không nói là bây giờ em đã tin. Nhưng... nhưng... em cũng không thể không tin. Sau khi em và bác chuyển tới Meudon, ông de La Tour d’Azyr cũng theo tới đây, và ông ấy đã thề với em đó là sự thật.”
“Ồ, nếu ông de La Tour d’Azyr đã thề...” André-Louis bật cười pha chút mỉa mai cay đắng.
“Anh đã bao giờ thấy ông ấy nói dối chưa?” cô thiếu nữ gay gắt ngắt lời anh. Nàng khiến anh sững sờ. “Nói gì thì nói, ông de La Tour d’Azyr là một người có danh dự, và những người có danh dự không bao giờ dối trá. Đã bao giờ anh từng thấy ông ấy làm như vậy hay chưa, để anh có thể mỉa mai như vừa rồi?”
“Chưa,” anh thừa nhận. Sự công bằng đòi hỏi rằng ít nhất anh cũng phải thừa nhận phẩm chất đó ở kẻ thù của mình.
“Đúng là anh chưa từng thấy ông ta nói dối. Loại người như ông ta quá ngạo mạn, quá tự tin để viện đến dối trá. Nhưng anh biết ông ta từng làm những việc cũng xấu xa như thế...”
“Không gì có thể xấu xa bằng dối trá,” nàng ngắt lời anh, nói theo những nguyên tắc ứng xử nàng đã được dạy dỗ. “Chỉ với những kẻ dối trá - những kẻ cùng một giuộc với trộm cướp - là không còn chút hy vọng nào. Chỉ trong dối trá người ta mới thực sự mất đi danh dự.”
“Anh nghĩ là em đang biện hộ cho kẻ đồi bại đó,” anh lạnh lùng nói.
“Em muốn mình công bằng.”
“Công lý rất có thể sẽ là vấn đề khác hẳn đối với em khi cuối cùng, em quyết định trở thành nữ hầu tước de La Tour d’Azyr.” Anh cay đắng đáp lại.
“Em không nghĩ sẽ có lúc nào đó em đi tới quyết định như vậy.”
“Nhưng em vẫn chưa chắc chắn - bất chấp mọi thứ đã diễn ra.”
“Liệu có bao giờ người ta có thể chắc chắn về bất cứ điều gì trên thế giới này không?”
“Có đấy. Người ta có thể chắc chắn là mình ngu ngốc.”
Hoặc cô gái không nghe thấy, hoặc nàng không để ý tới những lời anh vừa nói.
“Từ những gì anh biết, anh không thể khẳng định thực tế không đúng như những gì ông de La Tour d’Azyr đã nói - khi ông ấy tới nhà hát Feydau tối hôm ấy?”
“Anh không thể,” anh thừa nhận. “Tất nhiên có thể ông ấy nói thật. Nhưng điều đó có gì quan trọng?”
“Có đấy. Hãy cho em biết đi, cô Binet ra sao rồi?”
“Anh không biết.”
“Anh không biết?” Nàng quay lại nhìn anh. “Và anh có thể nói ra điều đó dửng dưng như thế! Vậy mà em nghĩ... em nghĩ anh yêu cô ấy, André.”
“Đúng vậy đấy, trong một thời gian ngắn. Anh đã nhầm lẫn. Phải cần đến một ông hầu tước de La Tour d’Azyr để giúp anh nhìn ra sự thật. Quả là những nhà quý tộc này cũng có chỗ hữu ích của họ. Họ giúp những gã ngu ngốc như anh nhận ra những sự thật quan trọng. Anh thật may mắn khi sự khai sáng đến sớm hơn đám cưới trong trường hợp của anh. Giờ đây anh có thể nhìn lại quãng thời gian đó một cách bình thản và nhẹ nhõm vì việc đã thoát khỏi, ở những phút cuối cùng, hậu quả của một thoáng lầm lạc trong cảm xúc. Đó là một thứ vẫn hay bị nhầm lẫn với tình yêu. Kinh nghiệm đó, như em thấy đấy, rất hữu ích.”
Cô thiếu nữ nhìn anh với vẻ kinh ngạc không giấu giếm.
“Anh biết không, André, có những lúc em vẫn nghĩ anh không có trái tim.”
“Có thể vì đôi lúc anh đã để lý trí lộ ra quá rõ ràng. Còn về em thì sao, Aline? Thuở ban đầu, thái độ của bản thân em thế nào trong câu chuyện giữa em và ông de La Tour d’Azyr? Nó có thể hiện trái tim không? Nếu anh buộc phải nói với em thực ra nó thể hiện những gì, chắc anh và em lại cãi nhau mất, mà có Chúa chứng giám, lúc này anh không thể cho phép mình cãi vã với em được. Anh... anh sẽ chọn cách khác.”
“Ý anh là gì?”
“Sao chứ, đâu cần phải bận tâm vào lúc này, vì hiện tại không hề có nguy cơ em kết hôn với con quái vật đó.”
“Và nếu có thì sao?”
“A! Trong trường hợp đó, tình cảm dành cho em sẽ giúp anh tìm ra phương cách nào đó để ngăn việc này lại – trừ phi...” Anh ngừng lại.
“Trừ phi?” nàng hỏi, đầy thách thức, vươn cao hết mức chiều cao khiêm tốn của mình, đôi mắt nàng đầy hống hách.
“Trừ phi em cũng nói với anh rằng em yêu ông ta,” anh trả lời thật đơn giản, và nghe đến đây, cô thiếu nữ đột ngột trở nên mềm lòng một cách thật kỳ lạ. Rồi anh nói thêm, vừa nói vừa lắc đầu: “Nhưng tất nhiên không thể có chuyện đó.”
“Tại sao?” nàng hỏi anh, giờ đây khá dịu dàng.
“Vì em chính là em, Aline - lương thiện, trong sáng và đáng yêu. Thiên thần không phải là bạn đời của ác quỷ. Có thể em sẽ trở thành vợ ông ta, nhưng bạn đời thì không bao giờ, Aline - không bao giờ.”
Hai con người trẻ tuổi đã tới trước cánh cổng bằng sắt uốn nằm cuối con đường. Qua cánh cổng, họ nhìn thấy cỗ xe màu vàng đã chở André-Louis tới đang chờ đợi. Từ gần đó vang lên tiếng cọt kẹt của những chiếc bánh xe khác, tiếng những vó ngựa khác đang gõ xuống mặt đường, và không lâu sau một cỗ xe xuất hiện trong tầm nhìn, đỗ lại bên cạnh cỗ xe màu vàng - lần này là một cỗ xe ngựa rất đẹp với những tấm ván bằng gỗ gụ quét sơn bóng với hình gia huy màu vàng và xanh da trời sáng long lanh dưới ánh nắng. Một người hầu nhảy xuống đất mở rộng cửa xe ra; cũng trong khoảnh khắc đó, vị phu nhân ngồi trong xe trông thấy Aline liền vẫy tay chào nàng và ra lệnh cho người hầu.
❀ ❀ ❀
[1] Charles Phillip, bá tước d’Artois (1757-1836), em trai vua Louis XVI, sau này là vua Charles X của Pháp từ năm 1824 đến 1830.
[2] Tức hoàng hậu Marie-Antoinette, vốn là nữ đại công tước Áo.