Kiếm Sĩ Không Trái Tim

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3. Ông Chủ Tịch Le Chapelier
Chương 3. Ông Chủ Tịch Le Chapelier

❊ ❊ ❊

Không khí sôi sục của Paris, nơi đã trở nên giống với một trại lính hơn một thành phố trong suốt hai ngày tiếp theo, đã đẩy lùi việc an táng cho Bertrand des Amis tới tận ngày thứ Tư của tuần lễ đầy biến động ấy. Giữa những sự kiện đang làm một quốc gia chấn động tới tận xương tủy, cái chết của ông thầy dạy kiếm hầu như không được ai biết đến, kể cả các học sinh của ông, phần lớn những người này đều không ghé qua phòng tập kiếm trong hai ngày thi thể của ông nằm tại đó. Tuy vậy, cũng có vài người đến, và chính những người này đã báo tin cho những người khác, kết quả là ông thầy dạy kiếm được chừng hai mươi chàng trai trẻ tiễn đưa tới nghĩa địa Cha Lachaise, dẫn đầu là André-Louis, người vào vai chủ tang.

André-Louis không biết bất cứ người họ hàng nào để thông báo, nhưng một tuần sau khi ông des Amis qua đời, một cô em gái tới từ Passy để nhận quyền thừa kế gia tài. Khoản thừa kế này cũng đáng kể, vì ông chủ phòng tập kiếm đã phát tài và để dành khá nhiều tiền, trong đó phần lớn được đầu tư vào Công ty Cấp nước và Trái phiếu quốc gia. André-Louis giao phó cô em gái này cho luật sư, và không gặp lại bà ta nữa.

Cái chết của des Amis khiến anh cảm thấy cô độc và trống trải đến mức không còn tâm trí đâu để suy nghĩ hay bận tâm tới cánh cửa dẫn tới phát tài mà nó vừa tự động mở ra cho anh. Có thể số tiền ông thầy dạy kiếm đã gom góp được sẽ thuộc về cô em gái, song André-Louis chính là người kế thừa khu mỏ đã tạo ra sự giàu có ấy, phòng tập kiếm mà giờ đây anh đã thiết lập được vị thế thầy dạy vững chắc tới mức số lượng học sinh đông đảo của nó đang trông đợi anh sẽ tiếp tục duy trì một cách thành công trên vị thế ông chủ. Và chưa bao giờ các phòng tập kiếm lại ăn nên làm ra như trong những ngày tháng nhiễu nhương ấy, khi tất cả những người đàn ông đều mang kiếm của họ ra mài sắc và học tập cách dụng kiếm.

Mãi tận hai tuần sau André-Louis mới ý thức được những gì thực sự xảy đến với mình, và cùng lúc anh nhận ra mình đã kiệt sức, sau khi đảm nhiệm một mình công việc của hai người trong suốt hai tuần trước đó. Nếu anh không nghĩ ra giải pháp hữu ích để các học trò đã tiến bộ của mình đấu kiếm với nhau trong lúc anh đứng bên cạnh nhận xét, chỉnh sửa hoặc hướng dẫn, chắc chắn anh đã phải thấy công việc vượt quá sức lực của mình. Ngay cả như vậy, anh vẫn cần phải đấu kiếm sáu giờ mỗi ngày, và mỗi ngày anh lại phải mang thêm trong mình dư âm mệt mỏi của ngày hôm trước cho tới khi anh lâm vào nguy cơ gục ngã trước gánh nặng càng ngày càng làm anh kiệt sức hơn. Cuối cùng, anh tìm kiếm một trợ lý để phụ trách các học sinh mới bắt đầu tập, cũng là phần việc nặng nhọc nhất. Chàng trai trẻ nhận ra anh đã được vận may trợ giúp khá mau mắn khi chọn được một người có họ Le Due trong số học sinh của chính anh. Khi mùa hè tiếp tục trôi đi, và số lượng học sinh tìm đến ngày một tăng, anh lại phải tuyển mộ thêm một trợ lý nữa - một kiếm thủ trẻ đầy triển vọng mang họ Galoche - cũng như dùng đến một căn phòng nữa ở lầu trên.

Quãng thời gian đó là những ngày cực kỳ vất vả với André-Louis, còn vất vả hơn tất cả những gì anh từng biết đến, thậm chí hơn cả khi anh bận bịu xây dựng đoàn kịch Binet, nhưng hệ quả đi kèm là thời gian này cũng trở thành những ngày phát tài hiếm có. Anh không khỏi nuối tiếc than phiền trước việc Bertrand des Amis lại đen đủi chết đi ngay trước một thời kỳ phát tài đến thế cho nghề dạy kiếm.

Danh hiệu Kiếm sư Học viện Hoàng gia, một danh hiệu André-Louis không hề sở hữu, vẫn tiếp tục hiện diện ngoài cửa. Anh đã vượt qua khó khăn đó theo một cách đậm chất Scaramouche. Anh để nguyên tấm gỗ có hình tấm khiên cùng dòng chữ “Phòng dạy kiếm của Bertrand des Amis, Kiếm sư của Học viện Hoàng gia”, rồi thêm vào đó hàng chữ: “Do André-Louis điều hành”.

Vì lúc này chẳng còn mấy thời gian rảnh để ra ngoài, chính từ các học sinh và báo chí - một cơn lũ xuất bản đã tràn ngập khắp Paris nhờ việc thiết lập quyền tự do báo chí - anh đã được biết về những tiến trình cách mạng đang diễn ra xung quanh mình, xảy ra tiếp theo sự kiện Bastille bị đánh chiếm, như đỉnh cao của sự phản kháng. Biến cố này xảy ra trong lúc ông des Amis đang nằm chết ở phòng tập kiếm, một ngày trước khi ông ta được chôn cất, và trên thực tế là lý do chính làm tang lễ bị trì hoãn. Đó là một sự kiện bắt nguồn từ cuộc tấn công thiếu cân nhắc của hoàng thân Lambesc, trong đó ông thầy dạy kiếm đã tử nạn.

Quần chúng phẫn nộ đã bao vây các đại biểu tại Tòa thị chính, yêu cầu được phát vũ khí để tự bảo vệ tính mạng họ, chống lại những tên sát nhân ngoại quốc được chế độ chuyên chế thuê mướn. Và cuối cùng các đại biểu đã đồng ý phát vũ khí cho họ, hay nói đúng hơn - vì bọn họ chẳng có trong tay bất cứ món vũ khí nào để phát - là cho phép quần chúng tự vũ trang cho mình. Bọn họ cũng cung cấp cho đám đông một quân hiệu, màu đỏ và xanh, hai màu của Paris. Nhưng vì những màu này cũng là màu trên chế phục nhà công tước Orleans, màu trắng được thêm vào - màu trắng từ màu cờ cổ xưa của nước Pháp - và vậy là lá cờ tam tài ra đời. Thêm vào đó, một hội đồng thường trực đã được chỉ định để phụ trách tình hình trị an.

Sau khi được trao quyền, quần chúng bắt tay vào việc hiệu quả đến mức trong vòng ba mươi sáu giờ có sáu mươi nghìn cây giáo đã được rèn. Tới chín giờ sáng thứ Ba, ba mươi nghìn người đã tập trung trước Điện Invalides. Đến mười một giờ, họ đã vét sạch kho súng tại đây, gồm khoảng ba mươi nghìn khẩu súng hỏa mai, trong khi những người khác cũng chiếm lĩnh kho quân khí và đoạt lấy thuốc súng.

Họ đã hành động như vậy để chuẩn bị chống lại cuộc tấn công chuẩn bị được tung ra tại bảy địa điểm trong thành phố tối hôm đó. Nhưng Paris không đợi đến khi bị tấn công. Nó đã nắm lấy thế chủ động. Trong cơn hăng hái điên rồ, đám đông thực hiện kế hoạch điên rồ là đánh chiếm lấy pháo đài Bastille ghê gớm, và hơn thế, như các bạn đã biết, họ đã thành công vào trước lúc năm giờ chiều hôm ấy, với sự hỗ trợ của lực lượng vệ binh Pháp và đại bác.

Tin tức về biến cố này, được Lambesc mang tới Versailles trong khi bỏ chạy cùng đám long kỵ binh của mình trước đám đông vũ trang khổng lồ vừa trồi lên từ dưới những viên đá lát đường của Paris, làm triều đình sững sờ. Dân chúng đã sở hữu trong tay những khẩu pháo chiếm được từ Bastille. Họ đang dựng chiến lũy trên các đường phố, và kéo pháo đến bố trí trên đó. Cuộc tấn công đã bị trì hoãn quá lâu. Đành phải bãi bỏ nó vì rõ ràng lúc này cuộc tấn công chỉ dẫn tới đổ máu vô ích chắc chắn sẽ làm cho uy tín vốn đã bị lung lay nghiêm trọng của hoàng gia suy sụp hơn nữa.

Vậy là triều đình, đột nhiên trở nên khôn ngoan trong khoảnh khắc sợ hãi, quyết định lựa chọn thỏa hiệp. Necker sẽ được triệu tập trở lại thêm một lần nữa, và ba đẳng cấp sẽ cùng ngồi chung lại như Quốc hội yêu cầu. Đó là sự đầu hàng trọn vẹn nhất của sức mạnh trước sức mạnh, lý lẽ duy nhất đủ thuyết phục. Nhà vua một mình tới thông báo cho Quốc hội quyết định vừa được đưa ra vào phút chót, trước sự nhẹ nhõm của các thành viên Quốc hội, những người đang khổ sở lo lắng theo dõi tình hình khủng khiếp đang diễn ra tại Paris. “Không sức mạnh nào khác ngoài sức mạnh của trí tuệ và lý lẽ” là câu tôn chỉ của họ, và sẽ tiếp tục là như thế trong hai năm tiếp theo, với sự kiên nhẫn và can trường nhằm đối chọi lại vô số hành động khiêu khích không ngừng diễn ra và không được công lý xử trí một cách thích đáng.

Khi nhà vua rời khỏi Quốc hội, một phụ nữ tìm tới ôm lấy đầu gối hoàng thượng, nói ra những lời hoàn toàn có thể coi là câu hỏi của cả nước Pháp:

“Ôi, hoàng thượng, người có thành thật không? Người chắc rằng họ sẽ không khiến người đổi ý chứ?”

Tuy nhiên, chẳng hề có câu hỏi nào như thế được đưa ra khi vài ngày sau nhà vua, đơn độc, không được ai bảo vệ ngoài các đại diện của Quốc hội, tới Paris để hoàn tất quá trình hòa giải, mà trên thực tế là sự đầu hàng của Đặc quyền. Triều đình chìm ngập trong tâm trạng kinh hoàng trước cuộc phiêu lưu đó. Chẳng phải chúng là “kẻ thù” sao, đám dân Paris nổi loạn đó? Và liệu một vị vua có nên tìm đến kẻ thù của mình như thế không? Nếu đức vua chia sẻ ít nhiều nỗi lo sợ đó, như thái độ ủ dột của hoàng thượng có thể khiến chúng ta nghĩ vậy, hẳn nhà vua cũng sẽ thấy điều đó là vô ích. Có sao đâu nếu hai trăm nghìn người cầm vũ khí - những con người không có quân phục, chỉ được trang bị vũ khí hỗn tạp tới mức người ta chưa bao giờ chứng kiến điều gì tương tự - chờ đợi nhà vua? Họ đợi hoàng thượng như một đội quân danh dự.

Thị trưởng Bailly đón nhà vua ngay ngoài cửa ô với các chìa khóa của thành phố. “Đây cũng chính là các chìa khóa đã được dâng lên Henri IV[1]. Khi đó nhà vua đã giành lại được thần dân của ngài. Giờ đây nhân dân đã giành lại được đức vua của họ.”

Tại Tòa thị chính, thị trưởng Bailly trao cho nhà vua biểu tượng mới của thủ đô, dải băng tam tài tượng trưng cho nước Pháp lập hiến, và sau khi phê chuẩn việc thành lập Vệ binh Tư sản cũng như việc bổ nhiệm Bailly và Lafayette, nhà vua lại quay về Versailles trong những tiếng hô “Hoàng thượng vạn tuế!” từ các thần dân trung thành của ngài.

Và giờ chúng ta thấy rằng Đặc quyền - trước những họng đại bác - cuối cùng cũng chịu khuất phục, trong khi đáng ra nếu chịu khuất phục sớm hơn rất có thể họ đã ngăn hàng biển máu - phần lớn là của chính họ - khỏi đổ ra. Họ tới, giới quý tộc và tu sĩ, để gia nhập Quốc hội, để cùng nó thảo ra bản hiến pháp sẽ làm tái sinh nước Pháp. Nhưng sự hội ngộ này là tấn trò khôi hài - cũng khôi hài chẳng kém gì việc Tổng giám mục Paris hát bài Te Deum[2] khi Bastille thất thủ - lố bịch và khó tin nổi nhất trong tất cả những sự kiện lố bịch và khó tin này. Tất cả những gì diễn ra với Quốc hội là nó đã đón nhận thêm năm hay sáu trăm kẻ thù cản trở và phá hoại những cuộc thảo luận của nó.

Nhưng tất cả những sự kiện đó là một câu chuyện vẫn hay được kể, và có thể tìm đọc rất chi tiết ở nhiều nơi khác. Ở đây tôi chỉ thuật lại cho các bạn những gì liên quan đến câu chuyện chúng tôi tìm thấy trong những bản thảo do chính André-Louis viết, gần như bằng ngôn từ của bản thân anh, phản ảnh những thay đổi diễn ra trong tâm trí anh. Trở nên im lặng, anh bắt đầu hoàn toàn tin vào những điều anh không hề tin khi rao giảng chúng trước đây.

Trong khi đó, cùng với sự thay đổi về vận hội, thêm một sự thay đổi nữa cũng đến, liên quan tới vị thế của anh trước pháp luật, một sự thay đổi do những thay đổi khác đang diễn ra xung quanh anh đem tới. Anh không còn cần phải giấu mình nữa. Vào những ngày đó, liệu còn ai muốn mang lời buộc tội lố bịch về việc xúi giục nổi loạn ra chống lại anh vì những gì anh đã làm ở Bretagne? Tòa án nào còn dám gửi anh tới đoạn đầu đài vì đã nói trước những gì hôm nay cả nước Pháp đang nói? Còn về khả năng bị buộc tội giết người, liệu có ai bận tâm đến cái chết của lão Binet đê tiện đã bị anh bắn chết khi tự vệ - nếu quả thực anh đã giết được lão đúng như anh hy vọng.

Vậy là vào một ngày đẹp trời đầu tháng Tám, André-Louis cho phép bản thân được có một ngày rời khỏi trường đấu kiếm, lúc này đang hoạt động rất trơn tru dưới bàn tay các trợ lý của anh, và thuê một cỗ xe ngựa tới quán Café D’‘Amauri ở Versailles, nơi anh biết là địa điểm hội họp của Câu lạc bộ Breton, nòng cốt tạo nên Hiệp hội những Người bạn của Hiến pháp trong tương lai, được biết đến nhiều hơn dưới danh xưng Câu lạc bộ Jacobin. Anh tới tìm Le Chapelier, người từng là một trong những sáng lập viên của câu lạc bộ, giờ là một người rất có ảnh hưởng, chủ tịch Quốc hội vào thời điểm quan trọng này khi đang diễn ra cuộc tranh luận về Tuyên ngôn Nhân quyền.

Tầm quan trọng của Le Chapelier có thể thấy rõ trong vẻ tận tụy đột ngột của người hầu bàn mặc áo sơ mi đeo tạp dề trắng khi André-Louis hỏi thăm về vị đại biểu.

Ông Le Chapelier đang ở trên lầu cùng những người bạn. Người hầu bàn rất muốn phục vụ cho quý ông, nhưng không dám chen vào đám đông đang có mặt cùng ông đại biểu.

André-Louis cho anh ta một đồng bạc để giúp anh chàng có đủ can đảm làm việc đó. Rồi anh ngồi xuống bên một chiếc bàn mặt cẩm thạch kê cạnh cửa sổ nhìn xuống quảng trường rộng có hàng cây bao quanh. Tại đó, trong căn phòng chung của quán cà phê, vốn vắng người vào giờ giữa chiều, con người đầy ảnh hưởng ấy đã tới gặp anh. Gần một năm trước, anh ta đã nhường André-Louis vai trò đứng đầu trong một tình thế không mấy dễ dàng; hôm nay, anh ta đang đứng trên đỉnh cao, một trong những thủ lĩnh có ảnh hưởng nhất của Quốc hội đang được triệu tập, còn André-Louis chìm trong bóng tối của đám đông quần chúng.

Ý nghĩ này lóe lên trong tâm trí cả hai người lúc họ quan sát nhau, mỗi người đều nhận ra ở người kia những thay đổi đáng kể mà vài tháng ngắn ngủi đã đem đến. Ở Le Chapelier, André-Louis nhận thấy cách ăn mặc của anh ta có phần chỉn chu hơn, đi kèm với phong thái tinh tế lịch lãm hơn. Anh ta gầy hơn trước, khuôn mặt tái xanh, đôi mắt đang quan sát người tới gặp mình qua đôi mắt kính gọng vàng hiện rõ vẻ mệt mỏi. Đôi mắt mệt nhoài nhưng nhanh nhạy của vị đại biểu vùng Bretagne còn nhận thấy ở André-Louis sự thay đổi rõ rệt hơn. Hàng trăm giờ luyện kiếm hầu trong mấy tháng vừa qua đã đem đến cho André-Louis dáng đi uyển chuyển, tư thế đĩnh đạc, và dáng vẻ kiêu hãnh, uy quyền một cách lạ lẫm khó tả. Những điều này giúp anh trông dường như cao hơn, và chàng trai trẻ cũng ăn mặc với phong cách lịch sự, cho dù rất tế nhị song cũng không kém phần sang trọng. Anh mang một thanh kiếm nhỏ chuôi nạm bạc, và đeo nó bên người như một món đồ vật hết sức quen thuộc, mái tóc đen Le Chapelier từng luôn thấy ở trạng thái để dài lòa xòa xuống tận hai gò má xương xẩu của anh giờ đây trở nên óng mượt và được buộc lại. Trông anh gần như có dáng vẻ của một chàng công tử bảnh bao.

Tuy nhiên, với cả hai người, những thay đổi chỉ hoàn toàn là ở vẻ bề ngoài, như chẳng bao lâu sau mỗi người đã hé lộ cho người kia thấy. Le Chapelier vẫn là anh chàng Breton thẳng thắn và bộc trực, vắn gọn cả về phong thái lẫn ngôn từ. Anh ta đứng mỉm cười trong khoảnh khắc với tâm trạng ngạc nhiên pha lẫn vui mừng; rồi dang rộng cánh tay. Hai người ôm chầm lấy nhau trước ánh mắt ngỡ ngàng của người hầu bàn, anh chàng này sau đó lập tức rút lui.

“André-Louis, anh bạn của tôi! Cậu từ đâu rơi xuống vậy?”

“Chúng ta đều từ trên rơi xuống. Nhưng tôi chui từ dưới lên để ngắm nghía tận mắt một con người đang ở trên đỉnh cao.”

“Trên đỉnh cao! Nhưng nếu như cậu muốn, rất có thể đáng ra giờ đây cậu đang đứng ở chỗ của tôi.”

“Tôi là người sợ độ cao, và tôi cảm thấy không khí trên đó loãng quá. Quả thực, duờng như bản thân anh trông cũng không được khá lắm, Isaac. Anh xanh quá.”

“Quốc hội đã họp cả tối hôm qua. Chỉ đơn giản vậy thôi. Những kẻ Đặc quyền đáng nguyền rủa làm khó khăn của chúng ta tăng lên gấp bội. Chúng sẽ còn làm như thế cho tới khi chúng ta ra sắc lệnh xóa bỏ chúng.”

Hai người bạn ngồi xuống. “Xóa bỏ! Anh dự định xa đến thế ư? Nhưng quả thực điều này cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên. Anh luôn là một người cực đoan.”

“Tôi dự kiến đến điều đó để tôi có thể cứu vớt bọn họ. Tôi tìm cách xóa bỏ bọn họ một cách chính thức, để nhờ đó cứu thoát bọn họ khỏi một cách thức xóa bỏ khác trong tay của một dân tộc đã bị họ đẩy tới chỗ phẫn nộ tột độ.”

“Tôi hiểu. Còn nhà vua thì sao?”

“Nhà vua là hiện thân của quốc gia. Chúng ta sẽ giải phóng ông ta cùng với quốc gia khỏi vòng kiềm tỏa của Đặc quyền. Hiến pháp của chúng ta sẽ hoàn tất việc đó. Cậu có đồng ý vậy không?”

André-Louis nhún vai. “Điều đó liệu có quan trọng không? Về chính trị tôi chỉ là một kẻ mơ mộng, không phải con người của hành động. Cho tới gần đây tôi vẫn luôn là người rất hòa hoãn; hòa hoãn hơn nhiều so với những gì anh nghĩ. Nhưng giờ đây tôi gần như đã là một người theo phái Cộng hòa. Tôi đã quan sát, và tôi nhận ra rằng nhà vua này... chẳng là gì hết, một con rối nhảy múa theo bàn tay giật dây ông ta.”

“Nhà vua này, cậu nói vậy sao? Còn có thể có nhà vua nào khác đây? Hiển nhiên cậu không phải loại người đang mơ mộng về Orleans, đúng không? Ông ta có trong tay đảng phái của mình, một đám người được chiêu mộ đa phần nhờ vào sự căm ghét đại chúng dành cho hoàng hậu cũng như sự thật ai cũng biết là hoàng hậu căm ghét ông ta. Có những người từng nghĩ đến chuyện biến ông ta thành nhiếp chính, vài người còn muốn nhiều hơn thế; Robespierre[3] cũng thuộc về nhóm này.”

“Ai cơ?” André-Louis hỏi, với anh cái họ này hoàn toàn lạ lẫm.

“Robespierre - một anh chàng luật sư bé nhỏ lố bịch đại diện cho Arras, một kẻ đần độn xoàng xĩnh, vụng về, rụt rè, một người luôn đọc các bài phát biểu bằng giọng mũi mà chẳng ai buồn nghe - một kẻ bảo hoàng cuồng nhiệt mà đám bảo hoàng và những kẻ ủng hộ Orleans đang lợi dụng cho mục đích của chúng. Anh ta là kẻ ương ngạnh cố chấp, luôn khăng khăng muốn được lắng nghe. Có thể đến ngày nào đó người ta sẽ nghe anh ta. Nhưng còn chuyện anh ta, hay những kẻ khác, có thể biến được Orleans thành cái gì đó... phù! bản thân Orleans có thể thèm muốn điều đó, nhưng ông ta thậm bất tài; ông ta muốn, nhưng không thể. Đó là câu nói của Mirabeau[4].”

Anh ta chuyển sang hỏi thăm tình hình André-Louis.

“Cậu đã không coi tôi như một người bạn khi viết thư cho tôi,” anh ta phàn nàn. “Cậu chẳng cho tôi manh mối nào về nơi cậu đang sống; cậu viết về mình như một kẻ sắp ăn mày mà không cho tôi có cơ hội để trợ giúp cậu. Tôi đã rất lo lắng cho cậu, André. Thế nhưng nếu đánh giá qua vẻ bề ngoài của cậu, đáng ra tôi đã chẳng nên lo lắng làm gì. Dường như cậu đang phát tài, chắc chắn rồi. Kể cho tôi nghe đi.”

André-Louis thẳng thắn kể lại cho vị đại biểu nghe tất cả những gì anh có để kể. “Cậu có biết với tôi cậu quả là một sự kinh ngạc không?” vị đại biểu thốt lên. “Từ pháp bào tới mặt nạ sân khấu, và giờ từ mặt nạ chuyển sang thanh kiếm! Tôi tự hỏi không biết đoạn kết của cậu sẽ là gì nữa?”

“Đoạn đầu đài, hẳn thế rồi.”

“Thôi nào! Nghiêm chỉnh một chút chứ. Tại sao không phải là ghế thượng nghị sĩ trong thượng viện nước Pháp? Vị trí đó giờ đây hoàn toàn có thể là của cậu rồi nếu trước đây cậu muốn.”

“Con đường chắc chắn nhất trong mọi con đường dẫn tới đoạn đầu đài,” André-Louis phá lên cười.

Đến đây, Le Chapelier tỏ vẻ sốt ruột ra mặt. Tôi tự hỏi liệu câu nói này có lướt qua tâm trí anh ta hay không, khi anh ta ngồi trên cỗ xe dành cho phạm nhân tử hình tới quảng trường Grève vào một ngày bốn năm sau đó.

“Chúng ta có sáu mươi sáu đại biểu Bretagne trong Quốc hội. Nếu một ghế trống xuất hiện, cậu sẽ đồng ý làm người thay thế chứ? Một lời nói của tôi, kết hợp với ảnh hưởng tên tuổi của cậu tạo lập được tại Rennes và Nantes, và việc này coi như xong.”

André-Louis bật cười. “Anh có biết, Isaac, rằng chưa bao giờ tôi gặp anh mà anh lại không tìm cách lôi kéo tôi vào chính trị không?”

“Bỏi vì cậu có năng khiếu cho chính trị. Cậu được sinh ra để làm chính trị.”

“À, phải rồi... Scaramouche ngoài đời thực. Tôi từng diễn vai này trên sân khấu. Thế là đủ rồi. Nói cho tôi biết, Isaac, anh có tin tức gì về ông bạn cũ de La Tour d’Azyr của tôi không?”

“Hắn đang ở đây, ở Versailles, quỷ tha ma bắt hắn đi - quả là một cái dằm trong da thịt Quốc hội. Người ta đã đốt trụi lâu đài của hắn tại La Tour d’Azyr. Thật không may lúc đó hắn lại không có mặt trong lâu đài. Ngọn lửa thậm chí còn chẳng thiêu đốt được sự ngạo mạn của hắn. Hắn vẫn mơ mộng rằng sau khi cơn lầm lạc nông nổi về tư tưởng này chấm dứt, sẽ có nông nô xây lại lâu đài cho hắn.”

“Vậy là ở Bretagne đã có rắc rối xảy ra sao?” André-Louis đột ngột trở nên nghiêm túc, mọi ý nghĩ của anh dồn cả về Gavrillac.

“Rất nhiều là đằng khác, và ở các nơi khác cũng thế. Cậu có ngờ được không? Bấy nhiêu thứ bị đình lại vào một thời điểm như lúc này, khi nạn đói lan tràn khắp đất nước? Các lâu đài đã liên tục cháy trụi trong vòng nửa tháng qua. Những người nông dân đã học được phương pháp từ dân chúng Paris, và xử trí với mọi tòa lâu đài như thể chúng cũng là Bastille. Trật tự đã được thiết lập lại, ở đây cũng như ở đó, và giờ đây họ đã trở nên yên ắng hơn.”

“Thế tình hình Gavrillac thế nào? Anh có biết gì không?”

“Tôi tin mọi thứ vẫn ổn cả. Ông de Kercadiou không phải là hầu tước de La Tour d’Azyr. Ông ấy biết thông cảm với dân chúng của mình. Chắc khó lòng có chuyện họ làm gì tổn hại tới Gavrillac. Nhưng chẳng lẽ cậu không liên lạc gì với cha đỡ đầu của cậu sao?”

“Trong hoàn cảnh hiện tại ư - không. Những gì anh vừa cho tôi biết còn làm việc đó trở nên khó khăn hơn bao giờ hết, vì ông cụ hẳn sẽ coi tôi là một trong những kẻ góp phần thổi bùng lên ngọn đuốc đã hủy hoại bấy nhiêu người thuộc đẳng cấp của ông ấy. Hãy giúp tôi đảm bảo là mọi chuyện vẫn ổn cả, và cho tôi biết.”

“Tôi sẽ thu xếp ngay lập tức.”

Khi chia tay, đúng lúc André-Louis chuẩn bị leo lên xe ngựa để quay về Paris, anh đột ngột hỏi thăm thêm thông tin về một chuyện khác.

“Anh có tình cờ biết hầu tước de La Tour d’Azyr đã thành hôn hay chưa không?” anh hỏi.

“Tôi không biết; và điều đó trên thực tế có nghĩa là ông ta chưa lấy vợ. Người ta hẳn phải nghe nói tới việc này trong trường hợp của một kẻ Đặc quyền cao quý đến vậy.”

“Hẳn là thế rồi.” André-Louis đáp một cách dửng dưng. “Tạm biệt, Isaac! Anh hãy tới thăm tôi nhé - số 13 phố Tình Cờ. Hãy đến sớm nhé.”

“Ngay khi những bổn phận tôi phải đảm đương cho phép. Còn giờ thì chúng xích chặt tôi ở đây.”

“Một nô lệ khốn khổ của trách nhiệm để phụng sự cho Phúc âm của tự do!”

“Đúng thế! Và cũng chính vì thế tôi sẽ tới gặp cậu. Tôi có một trách nhiệm với Bretagne: biến Omnes Omnibus trở thành một trong những người đại diện cho nó tại Quốc hội.”

“Đó là một trách nhiệm mà nếu quên đi anh sẽ khiến tôi hàm ơn anh rất nhiều,” André-Louis bật cười, rồi leo lên xe ngựa quay về.

❀ ❀ ❀

[1] Henry IV (1553-1610): vua Pháp từ năm 1589 đến 1610.

[2] Một bài thánh ca có lời đầu là “Te Deum laudamus”, nghĩa là “Chúng con ngợi ca Người, ơi Chúa”.

[3] Maximilien de Robespierre (1758-1794): luật sư, chính trị gia, thủ lĩnh phái Jacobin trong Cách mạng Tư sản Pháp.

[4] Honoré Gabriel Riqueti, bá tước Mirabeau (1749-1791): nhà cách mạng Pháp.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.