Người đánh xe ghì cương ngựa lại, người hầu mở cửa, mở bậc thang lên xuống, và đưa tay ra cho bà chủ để giúp vị phu nhân xuống xe, vì đó là yêu cầu bà vừa đưa ra. Sau đó, anh ta mở rộng một cánh cổng sắt và giữ cổng cho bà chủ đi qua. Vị phu nhân là một phụ nữ chừng ngoài bốn mươi tuổi, một người hẳn từng có thời rất xinh đẹp, và bây giờ cũng vẫn còn đẹp với vẻ tinh tế mà tuổi tác đem đến cho một số phụ nữ. Trang phục và phong thái của vị phu nhân cũng cho biết bà là người có địa vị cao quý.
“Anh sẽ chia tay em ở đây, vì em đang có khách,” André-Louis nói.
“Nhưng đây cũng là một người quen cũ của anh mà, André. Anh còn nhớ nữ bá tước de Plougastel chứ?”
Anh nhìn về phía vị phu nhân đang lại gần, trong lúc Aline hối hả bước tới để chào đón bà, và bởi vì tên của vị khách đã được nhắc cho anh, giờ anh đã nhận ra bà. Anh nghĩ chỉ cần nhìn thấy hẳn anh sẽ nhận ra bà ngay mà không cần giới thiệu ở bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào, và bất chấp việc chừng mười sáu năm đã trôi qua kể từ lần cuối cùng anh trông thấy bà. Hình ảnh của vị phu nhân lúc này mang tất cả quay trở lại với anh - một hồi ức quý báu chưa bao giờ cho phép nó hoàn toàn bị che lấp bởi những sự kiện diễn ra sau đó.
Khi André-Louis còn là một cậu bé mười tuổi, ngay trước khi cậu được gửi tới trường học ở Rennes, người phụ nữ này đã tới thăm cha đỡ đầu của cậu, cũng là anh họ bà. Chuyến thăm diễn ra cùng lúc Rabouillet đưa cậu tới dinh thự Gavrillac, và tại đây cậu bé đã được giới thiệu với phu nhân de Plougastel. Vị phu nhân quý phái, với tất cả vẻ lộng lẫy của một sắc đẹp trẻ trung, với giọng nói dịu dàng, sang trọng - sang trọng đến nỗi dường như bà đang nói một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với cậu bé Breton - cùng phong thái vương giả thượng lưu của bà, đã khiến cậu bé ban đầu có đôi chút sợ sệt. Thật dịu dàng, người phụ nữ đã xóa tan đi cảm giác e dè của cậu bé, và bằng một phép thuật bí hiểm nào đó, bà đã hoàn toàn thu hút mọi sự chú ý của cậu. Giờ đây, anh nhớ lại mình đã hoảng sợ thế nào khi bị buộc phải đi tới vòng tay đang dang ra đón chào anh, và sau đó miễn cưỡng ra sao khi phải rời khỏi vòng tay mềm mại đó. Anh vẫn còn nhớ mùi thơm tỏa ra từ người bà, cũng như thứ nước hoa bà đã sử dụng, một thứ nước hoa có mùi tử đinh hương - vì trí nhớ luôn đặc biệt dai dẳng trong những chi tiết như thế.
Trong ba ngày nữ bá tước ở lại Gavrillac, ngày nào anh cũng vào khu dinh thự, và tại đó, anh dành ra hàng giờ ở bên vị phu nhân. Là một phụ nữ không con với bản năng làm mẹ đầy mạnh mẽ, bà đã nhanh chóng yêu mến cậu bé thông minh có đôi mắt to này.
“Nhường lại cậu bé cho em, anh họ Quintin,” anh còn nhớ bà đã nói với cha đỡ đầu của anh như thế vào ngày cuối cùng. “Hãy để em mang nó về Versailles làm con nuôi em.”
Nhưng vị lãnh chúa đã nghiêm nghị lắc đầu, im lặng từ chối, và không ai còn nhắc tới chủ đề ấy nữa. Rồi sau đó, khi bà chào từ biệt anh - khoảnh khắc ấy giờ đây đang ào ạt quay về như một đợt sóng - bà đã ứa nước mắt.
“Thỉnh thoảng hãy nghĩ đến ta, André-Louis,” là những lời cuối cùng của bà.
Anh nhớ mình từng tự hào ra sao khi chỉ trong thời gian ngắn ngủi như thế đã chiếm được cảm tình của vị phu nhân quý phái này. Điều đó làm anh cảm thấy mình quan trọng, một cảm giác kéo dài trong nhiều tháng sau đó, trước khi tan dần vào quên lãng.
Nhưng tất cả giờ đây đều hồi sinh thật sống động khi anh lại trông thấy bà, sau mười sáu năm, đã thay đổi và chín chắn hơn nhiều, cô gái trẻ - vì bà mới chỉ ở tầm tuổi này trong những ngày xa xưa đó - đã trở thành người phụ nữ từng trải với vẻ đường hoàng bình tĩnh và hoàn toàn làm chủ bản thân. Dẫu vậy, anh thầm cả quyết, chắc chắn anh sẽ nhận ra bà ngay, cho dù ở bất cứ đâu.
Aline trìu mến ôm hôn bà, rồi sau đó trả lời cái nhìn dò hỏi với đôi lông mày hơi nhướng lên mà nữ bá tước dành cho người đồng hành của Aline...
“Đây là André-Louis,” nàng nói. “Bà còn nhớ André-Louis không, thưa phu nhân?”
Phu nhân sững người. André-Louis thấy vẻ ngỡ ngàng hiện rõ trên khuôn mặt bà, làm nó hơi tái đi, khiến cho bà gần như nghẹn thở trong khoảnh khắc.
Rồi giọng nói của bà - giọng nói du dương giàu nhạc điệu mà anh còn nhớ rõ - giờ đây còn du dương, trầm lắng hơn trước, nhắc lại tên anh:
“André-Louis!”
Cách bà nhắc lại cho thấy cái tên đã đánh thức dậy những ký ức, có lẽ là những ký ức của thời tuổi trẻ đã trôi qua có liên quan tới cái tên này. Và bà đứng đó hồi lâu, ngắm nhìn anh, mắt hơi mở to hơn, trong lúc anh cúi chào nữ bá tước.
“Tất nhiên ta còn nhớ cậu ấy,” cuối cùng bà cũng nói, và bước tới gần anh, đưa bàn tay ra. Anh hôn tay bà một cách kính trọng, đầy phục tùng, gần như vô thức. “Vậy là cậu đã lớn thế này rồi ư?” Nữ bá tước nhận xét, và anh đỏ mặt vì tự hào trước vẻ hài lòng trong giọng nói của bà. Dường như anh vừa quay trở lại mười sáu năm trước, quay trở lại là cậu bé Breton ở Gavrillac. Phu nhân quay sang Aline. “Quintin đã lầm lẫn biết bao trong những giả thiết của ông ấy. Hẳn bác cháu phải rất vui khi gặp lại cậu ấy, phải không?”
“Thưa phu nhân, vui mừng đến mức ông ấy vừa mời tôi ra khỏi cửa,” André-Louis nói.
“Ôi!” Nữ bá tước cau mày, tiếp tục nhìn anh với đôi mắt sẫm màu đượm buồn. “Chúng ta cần làm thay đổi chuyện này, Aline. Tất nhiên ông ấy rất giận cậu. Nhưng đó không phải là cách để thuyết phục người khác. Ta sẽ biện hộ cho cậu, André-Louis. Ta là một luật sư tốt.”
Anh cảm ơn bà rồi cáo từ.
“Tôi xin trông đợi vào phu nhân với tất cả lòng biết ơn. Xin tạm biệt phu nhân.”
Vậy là bất chấp màn đón tiếp đầy giận dữ người cha đỡ đầu dành cho anh, một khúc hát ngân lên từ môi chàng trai trẻ khi cỗ xe ngựa màu vàng đưa anh trở lại phố Tình Cờ ở Paris. Cuộc gặp với phu nhân de Plougastel đã làm anh phấn chấn hơn; lời hứa của bà rằng bà sẽ giúp biện hộ cho anh cùng với Aline đã đảm bảo mọi việc rồi sẽ êm đẹp.
Sự đúng đắn của anh trong việc này hoàn toàn được chứng minh khi ngày thứ Năm tiếp theo, ông de Kercadiou xồng xộc tiến vào phòng luyện kiếm của anh lúc gần trưa. Cậu nhóc Gilles báo tin cho anh, sau khi lập tức cho ngừng bài học đang dạy dở, anh cởi mặt nạ, và mặc nguyên đồ như vậy - trong chiếc áo chẽn da dài tới hông cài cúc kín đến tận cằm và thanh kiếm tập kẹp dưới nách - anh xuống phòng khách khiêm tốn ở tầng dưới, nơi người cha đỡ đầu đang chờ anh.
Ông lãnh chúa nhỏ thó hồng hào của Gavrillac đứng chào đón anh với vẻ gần như thách thức.
“Ta đã phải nghe quá nhiều về việc phải tha thứ cho anh,” ông tuyên bố gay gắt, dường như bằng cách đó ông muốn thể hiện ông chỉ chấp nhận tìm đến đây đơn thuần vì muốn chấm dứt những màn năn nỉ chán ngắt đó.
André-Louis không bị lừa. Anh đã phát hiện ra đây chỉ là cái cớ nhà quý tộc viện đến để cho phép ông xuống thang một cách đàng hoàng.
“Con cầu Chúa ban phước lành cho những người đã thuyết phục cha, cho dù họ có là ai đi nữa. Cha đã giúp con cảm thấy hạnh phúc một lần nữa, thưa cha đỡ đầu.”
Anh cầm lấy bàn tay được đưa ra và hôn nó, tuân theo sự thôi thúc của thói quen đã hình thành từ ngày thơ bé. Đó là hành động thể hiện sự quy phục hoàn toàn của anh, làm nối lại giữa anh và người cha đỡ đầu mối liên hệ giữa người được che chở và người che chở, với tất cả những quyền lợi và nghĩa vụ từ phía mỗi người bao hàm trong đó. Không lời nói nào có thể thực hiện trọn vẹn hơn việc giảng hòa giữa anh và người cha đỡ đầu rất yêu quý anh.
Khuôn mặt ông de Kercadiou chuyển sang một sắc hồng sẫm hơn, đôi môi ông run rẩy, và có chút nghèn nghẹn trong lời lẩm bẩm “Con trai yêu quý của ta!” Sau đó ông trấn tĩnh lại, ngẩng thật cao cái đầu to quá khổ và cau mày. Giọng nói của ông cũng lấy lại âm hưởng the thé chói tai của nó. “Ta hy vọng anh nhận ra anh đã cư xử thật đáng trách... đáng trách, và với một thái độ vô ơn không thể chấp nhận được rồi chứ?”
“Chẳng phải chuyện đó còn phụ thuộc vào cách nhìn nhận sao?” André-Louis hỏi lại, nhưng là với giọng hòa giải thấy rõ.
“Nó phụ thuộc vào một sự thật, chứ không phải cách nhìn nhận nào hết. Vì ta đã được thuyết phục cho qua, ta tin rằng ít nhất anh cũng ít nhiều có ý định sửa mình.”
“Con... con sẽ đoạn tuyệt với chính trị,” André-Louis nói, đó là tất cả những gì anh có thể hứa một cách chân thật.
“Ít nhất đó cũng là một việc đáng ghi nhận.” Người cha đỡ đầu tự cho phép mình dịu giọng xuống, sau khi một sự nhượng bộ - hay một hành động làm ra vẻ nhượng bộ - đã được thực hiện để đáp lại cơn phẫn nộ chính đáng của ông.
“Cha ngồi xuống đi.”
“Không, không. Ta tới đây đưa anh cùng đi thực hiện một chuyến thăm, về việc ta chấp nhận nhìn mặt anh trở lại, anh phải hoàn toàn chịu ơn phu nhân de Plougastel. Ta muốn anh đi cùng ta tới cảm ơn phu nhân.”
“Con còn công việc ở đây...” André-Louis lên tiếng, rồi ngừng lại giữa chừng.
“Không quan trọng! Con sẽ thu xếp. Hãy đợi con một lát.” Và anh lập tức quay đi để lên phòng tập kiếm.
“Công việc của anh là gì vậy? Không phải anh là người hướng dẫn đấu kiếm đấy chứ?”
Ông de Kercadiou đã quan sát chiếc áo da và thanh kiếm tập kẹp dưới nách André-Louis.
“Con là thầy dạy ở phòng tập kiếm này - phòng tập kiếm của Bertrand des Amis đã quá cố, và là trường dạy kiếm thuật phát đạt nhất Paris hiện nay.”
Ông de Kercadiou nhướng mày.
“Anh là thầy dạy kiếm thuật?”
“Kiếm sư. Con đã kế thừa phòng tập này sau cái chết của des Amis.”
Anh để ông de Kercadiou tiếp tục ngẫm nghĩ về thông tin mới mẻ này, rồi chạy đi thu xếp công việc và thay đổi trang phục.
“Vậy ra đó là lý do tại sao bây giờ anh lại đeo kiếm bên người,” ông de Kercadiou nói, trong lúc hai người leo lên cỗ xe của ông đang đợi bên ngoài.
“Ngoài ra còn là sự cần thiết phải tự vệ vào thời buổi này.”
“Và anh không định nói với ta rằng một người sống bằng một nghề nghiệp mà nói cho cùng là đáng kính trọng, một nghề nghiệp chủ yếu trông cậy vào giới quý tộc, lại có thể đồng thời đánh bạn với đám luật sư chuyên bới móc và đám viết truyền đơn thấp hèn, những kẻ đang làm lan rộng sự chia rẽ và bất phục tùng?”
“Cha đã quên mất chính con cũng là một luật sư, và đã theo nghề này do chính mong muốn của cha, thưa cha đỡ đầu.”
Ông de Kercadiou hầm hừ, lấy thuốc lá bột ra hít. “Anh nói là phòng tập kiếm rất phát đạt?” ông hỏi.
“Đúng thế. Con có hai người trợ giảng. Con có thể phải thuê thêm một người thứ ba. Công việc rất vất vả.”
“Như thế có nghĩa là cuộc sống của anh bây giờ cũng dư dả.”
“Con hoàn toàn có lý do để hài lòng. Con kiếm được nhiều hơn rất nhiều so với những gì con cần.”
“Vậy thì anh có thể góp phần vào việc trang trải nợ nần cho quốc gia,” nhà quý tộc càu nhàu, không khỏi hài lòng khi - như ông nhìn nhận - một phần mầm ác André-Louis đã giúp gieo rắc sẽ quay lại rơi xuống đầu anh.
Sau đó cuộc trò chuyện chuyển sang phu nhân de Plugastel. Ông de Kercadiou, như André-Louis thấy nhưng không đoán ra được lý do tại sao, rất không tán thành chuyến thăm này. Nhưng nữ bá tước lại là một phụ nữ bướng bỉnh mà người ta không thể từ chối bất cứ chuyện gì, người mà cả thế giới phải chiều ý. Ông de Plougastel lúc này đang vắng nhà để tới Đức, nhưng sẽ sớm quay về. Một lời thừa nhận hớ hênh có thể dễ dàng cho phép suy ra ông de Plougastel là một trong những tín sứ vẫn đi đi lại lại đưa tin giữa hoàng hậu Pháp và anh bà ta, hoàng đế Áo.
Cỗ xe dừng lại trước một tòa dinh thự đẹp nằm ở khu Saint-Denis, tại góc phố Thiên Đường, và hai vị khách được một gia nhân ăn vận lịch sự dẫn vào một phòng tiếp khách nhỏ, tràn ngập đồ thếp vàng và thảm thêu, mở ra hàng hiên rộng dẫn xuống khu vườn vốn là một tư viên thu nhỏ. Bà chủ nhà đang đợi họ ở đây. Nữ bá tước đứng dậy, cho người đọc sách trẻ tuổi đang phục vụ bà lui ra, rồi bước tới đưa cả hai bàn tay ra trước để chào đón ông anh họ de Kercadiou.
“Em đã sợ là anh sẽ không giữ lời,” bà nói. “Thật là bất công. Nhưng kỳ thực em không dám hy vọng anh thành công trong việc đưa được cậu ấy đến đây.” Và ánh mắt bà, dịu dàng, tươi cười chào đón, hướng về phía André-Louis.
Chàng trai trẻ trả lời với vẻ lịch lãm.
“Ký ức về bà, thưa phu nhân, đã in sâu trong tim tôi, tới mức bất cứ lời thuyết phục nào cũng là không cần thiết.”
“A, một chàng trai lịch thiệp!” nữ bá tước thốt lên, và đưa bàn tay cho anh. “Chúng ta cần nói chuyện một chút, André-Louis,” bà nói với anh, với vẻ nghiêm trọng khiến anh mơ hồ cảm thấy bất an.
Họ ngồi xuống, và một hồi lâu cuộc nói chuyện quanh quẩn với những chủ đề chung chung, tuy nhiên chủ yếu là về André-Louis, công việc và quan điểm của anh. Và trong suốt thời gian đó, nữ bá tước luôn chăm chú quan sát anh với đôi mắt dịu dàng, đượm buồn, cho tới khi cảm giác bất an lại thức dậy trong anh. Một cách vô thức, anh nhận ra mình đã được đưa tới đây vì một mục đích nào đó sâu kín hơn những gì đã được nói ra.
Cuối cùng, như thể tất cả đã được dàn dựng từ trước - và ông lãnh chúa Gavrillac vụng về là người cuối cùng trên đời này biết cách che giấu - cha đỡ đầu của anh đứng dậy, lấy cớ muốn ra ngắm nghía khu vườn, và đi qua ô cửa sổ ra ngoài hiên có hàng lan can nở đỏ vô vàn hoa phong lữ. Sau đó, ông biến mất vào dưới các tán lá trong vườn.
“Giờ chúng ta có thể trò chuyện riêng tư hơn,” phu nhân nói. “Lại đây, ngồi cạnh ta nào.” Bà chỉ vào nửa còn trống của chiếc trường kỷ đang ngồi.
André-Louis tới đó ngồi, song không khỏi cảm thấy hơi thiếu thoải mái. “Cậu có thấy,” bà dịu dàng nói, đặt một bàn tay lên cánh tay anh, “cậu đã xử sự rất không phải, và việc cha đỡ đầu của cậu phật ý là rất có lý không?”
“Thưa phu nhân, nếu tôi biết là vậy, hẳn tôi sẽ là người bất hạnh, tuyệt vọng nhất trên đời.” Và anh biện minh cho bản thân, cũng giống như anh đã làm với cha đỡ đầu của mình hôm Chủ nhật. “Những gì tôi làm, tôi đã làm vì đó là cách duy nhất tôi có trong tay ở một đất nước nơi công lý đã bị Đặc quyền làm tê liệt không thể trừng trị một kẻ đê tiện có tiếng tăm đã sát hại người bạn thân nhất của tôi - một hành động sát nhân đê mạt, tàn bạo mà không pháp luật nào trừng phạt. Và như thể điều đó còn là chưa đủ - xin hãy thứ lỗi cho tôi nếu tôi nói quá thẳng thắn, thưa phu nhân - sau đó hắn còn làm ô uế người phụ nữ tôi sắp sửa kết hôn.”
“Ôi, lạy Chúa!” nữ bá tước thốt lên.
“Hãy thứ lỗi cho tôi. Tôi biết chuyện đó thật kinh khủng. Có lẽ phu nhân cũng nhận ra tôi đã phải chịu đựng những gì, đã bị dồn đẩy tới mức nào. Sự kiện cuối cùng mà tôi gây ra - cuộc hỗn loạn khởi phát ở nhà hát Feydau và sau đó lan ra khắp thành phố Nantes - đều bắt nguồn từ đó.”
“Cô gái đó, cô ta là ai vậy?”
Phụ nữ là vậy, anh nghĩ, chỉ luôn quan tâm tới những chi tiết ngoài lề.
“Ồ, một diễn viên nhà hát, một cô gái ngốc nghếch mà tôi không thấy luyến tiếc chút nào. Tên cô ta là Binet. Lúc đó tôi là diễn viên trong đoàn kịch của bố cô ta. Chuyện đó xảy ra sau biến cố tại Rennes, khi tôi cần phải lẩn tránh khỏi thứ công lý đang tồn tại ở nước Pháp - thứ công lý luôn dành đoạn đầu đài cho những kẻ kém may mắn không có xuất thân quý phái. Bất công chồng chất đã khiến tôi khuấy động nên cuộc ẩu đả trong nhà hát.”
“Chàng trai tội nghiệp,” nữ bá tước dịu dàng nói. “Chỉ có trái tim của người phụ nữ mới cố thể hình dung ra những gì cậu đã phải chịu đựng, và chính vì thế ta sẵn sàng tha thứ cho cậu. Nhưng bây giờ...”
“A, thưa phu nhân, vậy là bà không hiểu rồi. Nếu hôm nay tôi nghĩ rằng ngày ấy mình không có gì ngoài lý do cá nhân khi góp một tay vào công cuộc thiêng liêng xóa bỏ Đặc quyền, tôi nghĩ rằng tôi nên tự cắt cổ mình đi. Lý do chính đáng của tôi xuất phát từ sự không thành thật của những người đã dự định biến việc triệu tập Đại hội các Đẳng cấp thành một trò giả tạo, một màn tung hỏa mù che mắt cả quốc gia.”
“Nhưng biết đâu không thành thật trong một việc như thế lại chẳng là khôn ngoan sao?”
Anh nhìn nữ bá tước một cách vô cảm.
“Thưa phu nhân, có bao giờ không thành thật lại có thể coi là khôn ngoan được?”
“Ồ, thực sự là có đấy; hãy tin ta, một người gấp đôi tuổi cậu, và thấu hiểu thế giới này.”
“Thưa phu nhân, tôi muốn nói không có gì làm phức tạp cuộc sống lên lại đáng gọi là khôn ngoan cả; và tôi chưa từng biết thứ gì làm nó phức tạp lên đến như sự thiếu thành thật. Phu nhân hãy thử dành một lát để nghĩ về những điều rắc rối đã phát sinh từ đó xem.”
“Nhưng tất nhiên, André-Louis, cách nhìn nhận của cậu hẳn không lệch lạc đến mức cậu không nhận ra một tầng lớp cai trị là cần thiết ở bất cứ quốc gia nào đấy chứ?”
“Sao chứ, tất nhiên rồi. Nhưng không nhất thiết phải là cha truyền con nối.”
“Vậy có thể là gì khác đây?”
Anh trả lời nữ bá tước bằng một chuỗi suy luận. “Con người, thưa phu nhân, là đứa con do chính ta tạo ra. Vậy hãy thừa kế những quyền lợi từ chính bậc sinh thành ấy. Vậy thì những người xuất sắc nhất trong một quốc gia sẽ luôn chiếm ưu thế, và một quốc gia như thế sẽ có những thành tựu lớn lao.”
“Nhưng chẳng lẽ cậu không coi xuất thân có chút quan trọng nào sao?”
“Không hề, thưa phu nhân - nếu không xuất thân của chính tôi sẽ khiến tôi phải băn khoăn rất nhiều.” Từ khuôn mặt bỗng trở nên đỏ bừng của bà chủ nhà, anh sợ rằng anh đã xúc phạm bà theo cách thiếu tế nhị nhất. Nhưng sự trách cứ anh chờ đợi đã không xuất hiện. Thay vào đó...
“Và nó không khiến cậu băn khoăn sao?” bà hỏi. “Chưa bao giờ sao, André?”
“Chưa bao giờ, thưa phu nhân. Tôi hoàn toàn thấy hài lòng.”
“Cậu chưa bao giờ... chưa bao giờ nuối tiếc vì thiếu vắng sự chăm sóc của bố mẹ sao?”
Anh phá lên cười, dẹp sang bên sự ái ngại đầy từ tâm không cần thiết của bà. “Ngược lại, thưa phu nhân, tôi luôn rùng mình sợ hãi khi nghĩ đến con người mà rất có thể họ đã biến tôi thành, và tôi thấy biết ơn số phận vì đã có cơ hội tự tạo nên chính mình.”
Nữ bá tước buồn bã nhìn anh trong khoảnh khắc, rồi mỉm cười khẽ lắc đầu.
“Tự mãn quá không tốt đâu... Dẫu thế tôi vẫn ước gì cậu nhìn nhận mọi thứ khác đi, André. Đây là thời điểm của những cơ hội lớn lao đối với một thanh niên trẻ có tài năng và nhiệt huyết. Ta có thể giúp cậu; có thể ta sẽ giúp cậu tiến rất xa nếu cậu cho phép mình được giúp theo cách của ta.”
“Phải rồi,” anh thầm nghĩ, “giúp tôi được đánh bạn với thòng lọng bằng cách gửi tôi đi thực hiện những sứ mệnh phản bội ở Áo trên danh nghĩa của hoàng hậu, giống như ông de Plougastel. Như thế, hiển nhiên tôi sẽ kết thúc ở một vị trí thật cao.”
Còn khi nói thành tiếng, anh trả lời theo phép lịch sự. “Tôi rất biết ơn bà, thưa phu nhân. Nhưng bà cũng sẽ thấy, do đã nuôi dưỡng những lý tưởng tôi vừa nói ra, tôi không thể phụng sự bất cứ sự nghiệp nào đối kháng với việc hiện thực hóa chúng.”
“Cậu đang bị định kiến làm cho lầm lạc, André, và cả những phiền muộn cá nhân nữa. Chẳng lẽ cậu chấp nhận để chúng cản đường thăng tiến của mình?”
“Nếu thứ mà tôi gọi là các lý tưởng thực sự là định kiến, liệu tôi có thể coi mình là trung thực được không khi đi ngược lại với chúng trong khi vẫn tin vào chúng?”
“Giá ta có thể thuyết phục được cậu rằng cậu sai lầm! Ta có thể giúp cậu tìm được một cơ hội xứng đáng để thi thố những tài năng cậu sở hữu. Cậu sẽ cân nhắc đến việc này, André-Louis, và chúng ta sẽ cùng bàn lại chứ?”
Anh trả lời nữ bá tước bằng giọng lịch sự, lạnh lùng theo phép xã giao.
“Tôi e rằng sẽ chỉ vô ích thôi, thưa phu nhân. Tuy vậy, tôi rất hân hạnh khi được nhận sự quan tâm của bà, và tôi xin cảm ơn bà. Thật chẳng may cho tôi khi tôi lại cứng đầu đến thế.”
“Và giờ thì ai đang không thành thật đây?” nữ bá tước hỏi anh.
“À, nhưng bà thấy đấy, thưa phu nhân, đó là một sự không thành thật không làm ai lầm lạc cả.”
Sau đó, ông de Kercadiou lại đi vào qua lối cửa sổ, và làm om sòm lên rằng ông cần phải quay về Meudon, và ông sẽ đưa cậu con đỡ đầu đi cùng rồi thả anh xuống tại phố Tình Cờ.
“Anh phải đưa cậu ấy đến đây lần nữa đấy, Quintin,” nữ bá tước nói, và hai vị khách cùng cáo biệt bà.
“Một ngày nào đó, có lẽ,” ông de Kercadiou mơ hồ nói, và lôi cậu con đỡ đầu ra ngoài.
Ngồi trên xe, ông thẳng thừng hỏi anh về những gì phu nhân đã nói.
“Bà ấy rất tốt - một phụ nữ đáng mến,” André-Louis trầm ngâm đáp.
“Quỷ bắt anh đi. Ta đâu có hỏi nhận định của anh về bà ấy. Ta hỏi anh bà ấy đã nói những gì với anh.”
“Bà ấy nóng lòng muốn chỉ ra cho con thấy sai lầm trong cách cư xử của con. Bà ấy nói về những điều lớn lao con có thể làm - và bà ấy sẽ rất sẵn lòng giúp con trong việc này - nếu con sáng suốt trở lại. Nhưng vì phép mầu không xảy ra, con đã chẳng cho bà ấy nhiều lý do để hy vọng.”
“Ta hiểu. Ta hiểu. Bà ấy còn nói gì nữa không?”
Nhà quý tộc tỏ ra sốt sắng tới mức André-Louis quay lại nhìn ông.
“Cha còn trông chờ bà ấy nói gì nữa, thưa cha đỡ đầu?”
“Ồ, không gì cả.”
“Vậy thì bà ấy đã hoàn tất những gì cha trông đợi rồi.”
“Hả? Ồ, quỷ tha ma bắt, tại sao anh không thể nói năng theo cách dễ hiểu để một người bình thường có thể hiểu được mà không cần đau đầu nghĩ ngợi vậy?”
Rồi sau đó, ông trở nên sưng sỉa trong suốt con đường quay về phố Tình Cờ, hay có vẻ thế trong mắt André-Louis. Ít nhất ông cũng ngồi im lặng, trầm tư đến ủ ê nếu xét theo nét mặt.
“Anh có thể sớm tới gặp chúng ta ở Meudon,” ông nói với André-Louis khi hai người chia tay. “Nhưng làm ơn nhớ cho - sau này không chính trị cách mạng gì nữa hết, nếu anh muốn chúng ta còn giữ quan hệ thân thiện.”