Cuối cùng, Ern đã không phải tòng quân.
Cánh cửa sập mà qua đó người ta từng kinh hoàng ngó xuống những ngọn lửa của địa ngục, nay đóng sập lại y như lúc nó mở ra. Chỉ còn tiếng leng keng của những người thợ đốt lò đang làm việc trong lòng đất tối tăm là vẫn vang lên suốt ngày đêm với công việc địa ngục của họ, lọt vào tai bất kỳ ai dừng chân áp tai xuống mặt đất.
Nước Anh và cả thế giới lại được hít thở bầu không khí yên bình.
Ông Trupp nhận xét: "Suýt thì tiêu," cảm thấy giống như một người vừa ngoi lên mặt nước sau một cú lặn sâu.
Đại tá bảo: "Buổi tổng duyệt."
Ông Pigott ra vẻ trịch thượng tuyên bố với vợ: "Sẽ không bao giờ có chuyện suýt soát thế này nữa! Không bao giờ!"
Người vợ đáp lại: "Cảm ơn ông. Chúng tôi có nên tin lời ông không?"
Khi mọi chuyện qua đi, Đại tá nhận thấy những bức tường thành Jericho đã sụp đổ: Thành trì Tự do đã thất thủ. Ông Geddes lên làm chủ tịch trong một cuộc họp tại Hội trường St. Andrew nhằm thảo luận về chương trình nghị sự của Liên đoàn.
Vị mục sư cao gáo nghiêm nghị nói với Đại tá: "Xem ra cuối cùng ông đã đúng."
Người kia đáp lại với giọng điệu tương tự: "Cầu trời tôi đã không đúng."
Biến cố đáng chú ý thứ hai trong khoảng thời gian này, xảy ra trong khoảng thời gian lắng dịu trước đợt bùng nổ cuối cùng của cuộc khủng hoảng Agadir kéo dài dằng dặc, lại mang đến những kết quả kém vui hơn đối với vị cựu sĩ quan.
Vào tháng Tám, thình lình và không có bất kỳ lời cảnh báo nào, công nhân đường sắt đã đình công. Đại tá vừa lên Luân Đôn qua đêm vì công việc của Liên đoàn, và sáng hôm sau khi bước vào Ga Victoria thì thấy nơi này đã bị quân đội chiếm giữ: những người lính mặc quân phục kaki đầy đủ tư trang hành quân, súng trường, lưỡi lê và băng đạn; lính gác xuất hiện ở khắp mọi nơi; và trên sân ga, một nhân viên nghiệp đoàn đeo huy hiệu xanh đang giục giã lực lượng cảnh vệ bãi công.
Người cảnh vệ, một gã trung niên vai u thịt bắp, cứ lê bước nặng nhọc một cách bướng bỉnh dọc sân ga bằng đôi bàn chân bẹt, tay lắc chiếc đèn lồng.
Gã cứ lải nhải nhắc đi nhắc lại: "Tôi còn phải lo cho trái tim của mình. Tôi còn vợ con để mà suy nghĩ."
Nhân viên nghiệp đoàn kia bám sát theo sau, đáp: "Tôi cũng vậy. Chính vì nghĩ đến họ nên tôi mới bước ra đây."
Một kẻ đứng xem liền buông lời: "Đồ ngốc!"
Một người thứ hai lập tức vặn lại: "Không, hắn không ngốc đâu nhé!"
Một người thứ ba xem vào: "Có chứ, hắn ta ngốc thật đấy chứ! Gây rắc rối cho chính mình và tất cả mọi người xung quanh. Tự nhận mình là bạn của người lao động!—Tôi thì gọi hắn là kẻ kích động!"
Suốt dọc chuyến tàu xuống Beachbourne, Đại tá nhìn thấy các đội tuần tra canh gác những cây cầu; một đội kỵ binh với những mũi giáo lóe sáng từ đám cây xanh ẩn giấu bên đường làng; một cỗ pháo đang hành quân; những đoàn quân đang chuyển động.
Ông thầm nghĩ, Joe Burt nói đúng, đây chính là chiến tranh.
Một hành khách đi cùng, mắt dán chặt vào cửa sổ, lên tiếng: "Tôi chưa từng nghĩ sẽ có ngày được thấy cảnh tượng thế này ở nước Anh."
Đại tá thừa nhận: "Đủ để chúng ta phải suy ngẫm."
Về đến nhà, ông phát hiện ra đang có lời kêu gọi tuyển dụng cảnh sát dự khuyết. Chiều tối hôm đó, ông đến đồn cảnh sát để đăng ký và gặp rất nhiều nhân vật tai mặt của Beachbourne cũng có mặt vì mục đích tương tự. Bobby Chislehurst, gương mặt trẻ tuổi cởi mở thường ngày nay thoáng vẻ u ám và bận tâm, đang lớn tiếng bảo vệ quan điểm của những công nhân đường sắt trước mặt Stanley Bessemere—người đang lắng nghe với thái độ dửng dưng đầy vẻ bề trên của kẻ biết rành mọi chuyện.
Chàng thanh gia thế phô bày cái đầu khôn ngoan của một chính trị gia tương lai, lắc đầu nói với vẻ e ngại: "Tôi e rằng không còn nghi ngờ gì nữa về chuyện đó. Họ đang lợi dụng tình hình quốc tế để mưu cầu lợi ích cho bản thân."
Bobby đầy vẻ phẫn nộ thốt lên: "Nhưng họ bảo rằng chính Chính phủ và các giám đốc mới là những kẻ đang lợi dụng tình hình để tìm cách thoái thác—như họ vẫn làm suốt bao nhiêu năm qua!"
Kẻ kia vẫn không hề lay chuyển khỏi lập trường cao ngạo của mình, đáp: "Tôi tin là tôi biết mình đang nói gì. Tôi không ngại nói cho cậu biết rằng tình hình châu Âu vẫn đang vô cùng bấp bênh. Bọn họ thừa biết điều đó, và họ đang cố chèn ép Chính phủ. Tôi rất mong mọi chuyện không phải như vậy."
Rồi tiếng nói oang oang của vị Giám mục át đi tất cả những âm thanh khác.
“Ôi, ước gì có được một giờ nắm quyền của Hoàng đế!—Ngài sẽ xử lý gọn bọn chúng. Ngài là người duy nhất còn lại ở châu Âu—bây giờ thì Hoàng đế tội nghiệp của tôi đã qua đời rồi. Lloyd George... Lại quỳ gối trước thần Ba-anh... Những kẻ phản bội đất nước... Cần phải cho chúng một bài học... Các người còn mong đợi gì hơn nữa?” Lão lải nhải những câu văn hoa rỗng tuếch vu vơ vào hư không; và chẳng một ai thèm bận tâm đến lão.
Ngay gần đó, ông Pigott với khuôn mặt đỏ bừng và đầu tóc bù xù đang chất vấn rằng Quân đội thì dính líu gì đến chuyện này?—ai cần đến sự can thiệp của binh lính?—tại sao không để mặc cho dân thường giải quyết?—kèm theo một cái nhìn đầy khiêu khích hướng về phía Đại tá.
Đúng lúc đó, ngoài phố vang lên tiếng bước chân hành quân rầm rập, và một đám đông người lao động kéo đến dừng lại ngay trước cửa.
Vị Giám mục lớn tiếng hỏi: "Mấy tên đó là ai vậy?"
Một kẻ trong số đó hất hàm qua cánh cửa đáp lại với giọng đầy xấc xược: "Bọn lao động ở khu Đông đây, cụ già ạ! Kéo đến đăng ký làm Cảnh sát dự khuyết đấy! Và quyền ở đây của tụi tao cũng lớn bằng các người thôi..."
Kẻ đứng đầu đám đông ngoài đường tách khỏi nhóm, hiên ngang xông thẳng vào sân, ánh mắt hừng hực sát khí.
Đó chính là Joe Burt—người mà như Đại tá từng nhận xét, có lúc là một nhà chính trị khôn ngoan, nhưng cũng có lúc chỉ là một tên mị dân sùi bọt mép. Hôm nay, hắn thể hiện bản chất tồi tệ nhất của một kẻ mị dân.
Hắn hằn học nói với Đại tá: "Tôi đã bảo anh thế nào nào? Lại đem Quân đội ra đàn áp chúng tôi. Cả lính Công binh Hoàng gia cũng được điều đi lái tàu lửa nữa chứ! Thật là một nỗi nhục nhã."
Đại tá liền dùng lẽ phải để khuyên giải hắn.
"Nhưng anh bạn thân mến, anh không thể để một bộ phận trong cộng đồng làm tê liệt cả đất nước được."
Hắn gầm gừ hung ác: "Không thể được sao! Các người đã để năm trăm tên tài phiệt ăn hại trong Viện Quý tộc thao túng người dân suốt bao nhiêu năm qua đấy thôi. Lúc đó sao các người không hét lên đi? Nếu họ dùng hành động trực tiếp vì lợi ích riêng của họ, thì tại sao khi 500.000 công nhân đường sắt đứng lên đòi mức lương đủ sống, các người lại làm ầm ĩ lên như thế?—Rồi các người còn quay sang kêu gọi người lao động đến tăng cường sức mạnh cho Quân đội—thứ mà Chính phủ sẽ dùng để chống lại họ!—Thật lạ là các người vẫn còn mặt mũi để nói ra điều đó!" Hắn quay lưng bỏ đi, người run lên bần bật.
May mắn thay, đúng lúc đó một tình huống bất ngờ xảy ra cắt ngang câu chuyện. Cánh cửa sân mà cảnh sát vừa khép lại bỗng bật mở tung; một lão ông có dáng người béo mập lặc lè bước vào với vẻ hoảng sợ của một con gấu lạc trong khu phố đông đúc, dáng điệu cũng y hệt như vậy.
Bám chặt lấy vạt áo lão như một người quản giáo chính là Ruth. Cô đang thở hổn hển, đầu tóc hơi bù xù; trong tay ôm đứa con nhỏ, chiếc mũ trên đầu thì lệch hẳn sang một bên.
Cô suýt khóc, thưa rằng: "Ông ấy cứ khăng khăng đòi ra đây! Chẳng tài nào ngăn cản được. Thế là cháu đành phải lật đật chạy theo luôn."
Nhận thức được rằng mình đã đi quá đà, và cũng thấy may vì có chuyện chen ngang, Joe bước đến bên Ruth và đón lấy đứa bé từ tay cô. Người phụ nữ đang hoảng hốt nhìn hắn với ánh mắt biết ơn rồi bắt đầu vỗ về, chỉnh trang lại mái tóc.
Đúng lúc đó, Ernie xộc vào sân. Trông anh ta nhanh nhẹn hơn thường ngày, đưa mắt liếc nhanh một lượt với vẻ phòng thủ, gần như thù địch. Nhưng rồi khi nhìn thấy Ruth đang bận rộn tự chỉnh đốn lại mình, nét mặt anh ta liền giãn ra.
Anh ta cất lời: "Bắt gặp ổng trốn học chứ gì, ở khu Saffrons Croft đúng không? Người trông công viên vừa mách tôi đấy."
Ruth nhanh chóng lấy lại bình tĩnh.
Cô cười lớn và nói: "Vâng. Tôi bảo với ông ấy là đình công với bạo loạn hay đổ máu thì mặc kệ, chẳng dính dáng gì đến ông ấy cả!—Thật là một ý nghĩ buồn cười!"
Đứa bé bắt đầu cất tiếng khóc oe oe; Ernie quay sang thì thấy Joe đang bế bé Ned trên tay.
Anh ta trêu chọc: "Ô kìa! Anh Joe! Con của tôi cơ mà."
Anh ta đón lại đứa con giữa những tiếng cười rộ lên, còn Joe thì có vẻ hơi bịn rịn chưa muốn buông tay.
Ngay lúc đó, Edward Caspar xuất hiện ở ngưỡng cửa văn phòng. Lão nhìn họ qua cặp kính tròng và lẩm bẩm nói nhỏ như thể đang tự nói với chính mình.
"Đó cũng là Luật pháp. Chúng ta không bao giờ được quên điều đó."
Đại tá quay sang Ernie.
Ông hạ giọng hỏi: "Ý lão là gì thế?—Cả Luật pháp nữa."
Vừa nựng đứa trẻ, Ernie vừa lùi dần vào một góc khuất để tránh không cho Giám mục nghe thấy.
Anh ta hạ giọng giải thích: "Thưa ông, đó là một câu thơ ạ—
Ôi, Tình yêu là thứ Luật pháp vô tình,
Sao mà đẹp đẽ, sao mà hãi hùng thay."
Đại tá hào hứng giục: "Nữa đi! Đọc tiếp đi!—Tôi thích câu đó đấy."
Nhưng Ernie chỉ ngượng ngùng lắc đầu.
Anh ta tỏ vẻ tiếc nuối: "Hết rồi ạ. Chỉ có vỏn vẹn hai câu đó thôi." Anh ta lại cười tủm tỉm đầy vẻ thẹn thùng—"Đó là thơ của tía tôi đấy ạ."
Một chiếc ô tô màu nâu sẫm trờ tới dừng lại ở con phố ngay phía đối diện.
Ông Trupp bước ra từ chiếc xe đó.
Bên trong xe, Đại tá nhìn thấy một người phụ nữ gầy gò với đôi mắt xanh sắc như dao cạo, đôi mày đen dữ dằn và mái tóc bạc trắng như tuyết.
Bà đang hau háu nhòm ra ngoài.
Ernie giải thích: "Mẹ tôi đến tìm tía đây mà. Đi bằng xe của ông Trupp. Còn anh trai tôi đang cầm lái đấy ạ."
Vị cựu bác sĩ phẫu thuật băng qua sân, vừa lúc ấy bắt gặp kẻ trốn nhà đi lang thang đang lúi húi bước ra từ văn phòng liền dịu dàng nắm lấy tay ông cụ tỏ ý trách móc.
Lão vừa dỗ dành vừa rầy la: "Không, không, ông Caspar ạ. Người ta không cần mấy lão già như tôi với ông phải ra tay dồn toa đánh đấm đâu. Mấy đứa con trai của chúng ta sẽ làm hết những việc cần thiết trong khoản đó."
Ông tống vị lão niên trốn nhà ra đi lên xe ô tô.
Ông Caspar ngồi bên cạnh vợ, hai tay đan vào cán chiếc ô, vẻ mặt cố tỏ ra cương quyết hết mức có thể.
Bà Caspar ân cần kéo chiếc chăn đắp lên đầu gối chồng.
Ernie—người vừa đi theo bố ra tận xe và trao đổi vài câu với người anh trai đang ngồi cứng đờ như pho tượng đài phía sau vô-lăng—bây giờ quay trở lại sân, miệng cười toe toét.
Joe cất tiếng hỏi: "Sao rồi?"
Ernie lắc đầu nguầy nguẩy.
Anh ta cười hô hố: "Vừa hỏi thằng Alf xem nó có định ký tên đi làm cảnh sát dự khuyết không đấy!"
Đại tá ngây thơ hỏi: "Nó có định đi không?"
Ernie cười nhạt.
Anh ta đáp: "Đời nào thằng Alf chịu! Thằng Alf là một tín đồ Kitô giáo thực thụ, nhất là khi có tin đánh nhau cập nhật trên bảng tin..."
Vài ngày sau, tại câu lạc bộ khi mọi rắc rối đã qua đi, Đại tá hỏi ông Trupp xem Ernie có đang bị ốm hay không.
Ông chân thành bày tỏ sự lo lắng: "Trông cậu ta có vẻ phờ phạc quá."
Vị cựu bác sĩ phẫu thuật càu nhàu: "Nó bị vậy là phải rồi. Nó đang cần một trận roi vọt—chỉ thế thôi."
Đại tá trầm ngâm nhận xét: "Khác hẳn với người anh trai—cái tay lái xe của ông ấy. Cậu ta xem chừng rất hăng hái, theo như những gì tôi thấy."
Ông Trupp nhả một ngụm khói xì gà.