Một Người Phụ Nữ: Phần Hai Của Một Chuyện Tình Sussex

Lượt đọc: 109 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 40
Chiến Thắng Và Báo Thù

❊ ❊ ❊

Trong cơn cuồng nộ và phấn khích tột độ, Alf thò đầu và vai hẳn vào trong phòng.

– Phen này thì mày chết với tao! – hắn thét lên với Joe, mặt méo mó vì căm hận. – Ông Spink! – hắn gọi giật một người có lẽ đang đứng gần đó.

Người thợ máy chồm tới tóm ngay lấy đầu hắn.

– "Chết với mày" thì có, ý mày là thế phải không! – anh gầm lên, xách thốc cả người gã kia vào trong phòng. – À, cái đồ chó má chuyên đi rình mò này!—Để tao cho mày một bài học!

Anh kéo thốc kẻ thù từ tư thế quỳ đứng bật dậy rồi lao vào giáp lá cà. Cuộc vật lộn chẳng khác nào một con vẹt đang nằm gọn trong móng vuốt của loài hổ dữ.

Joe lôi cổ kẻ thù ra tới cửa rồi vứt tống vứt tháo ra ngoài đầu cắm xuống trước. Alf lao sầm một cú đau điếng vào chiếc xe hơi lớn vừa đỗ lại ở bên ngoài.

Một phu nhân ngồi trong xe.

– Anh làm ơn tránh ra cho tôi đi được chứ? – bà cất giọng lạnh lùng bảo gã đàn ông đang bò lồm cồm trên tay và đầu gối giữa lớp bụi dưới chân mình, trong lúc đang thong thả bước xuống xe.

Gã đàn ông ngã sõng soài ngẩng đầu lên chớp chớp mắt. Nữ quý tộc lướt qua hắn thản nhiên như thể vừa bước qua xác một con chó con chết vứt bên lề đường.

Joe bước qua lối đi, với vẻ tò mò bàng quan, anh ngắm nghía cánh cửa chiếc xe hơi mà đầu Alf vừa đâm sầm vào.

– Chà, anh làm lún hẳn một mảng chiếc xe đẹp thế này rồi còn gì, – anh nói. – Tiếc thật đấy. – Rồi anh thong thả bỏ đi dọc con đường, đuổi theo ông Spink lúc này đang lặng lẽ lui bước ra đằng sau góc phố.

Bà Lewknor bước vào ngôi nhà tranh.

Ruth đang ngồi thừ người trong nhà bếp, hai tay đặt trên đùi, tinh thần hoảng loạn.

Nữ quý tộc bước lại gần cô.

– Không sao đâu, Ruth, – bà nhẹ nhàng thì thầm vào tai cô.

Ruth từ từ định thần lại và kể hết mọi chuyện xảy ra trong suốt hai mươi bốn giờ qua cho người bạn nghe. Điều làm cô đau khổ hơn cả chính là sự tàn nhẫn của người mẹ chồng: bởi đối với cô, điều đó tượng trưng cho thái độ của cả thế giới ngoài kia đối với mẹ con cô.

– Bà ta đấy! – cô nói. – Và bọn họ đấy!—mọi chuyện là thế đấy!

Bà Lewknor an ủi cô, nhưng Ruth nhất quyết không chịu nguôi ngoai.

– Ồ, chị không hiểu họ đâu, – cô nói. – Nhưng em đã phải nếm trải đủ đường rồi, mẹ con em đây này, cả bé Alice nữa. Nhìn xem, bây giờ Ernie đi rồi, em lại thui thủi một mình. Thế là họ tóm được em. Họ thừa biết điều đó nên cứ thế lấn tới—lại thêm bà Caspar vừa thâm độc vừa xảo quyệt nữa, chính bà ta là kẻ xúi giục họ.

– Tôi nghĩ có lẽ bà ấy không đến nỗi tệ như vẻ bề ngoài mà bà ta cố tỏ ra đâu, – bà Lewknor đáp.

Bà mở túi xách, lấy ra một bức thư rồi đặt vào tay Ruth. Thư là của Anne Caspar, câu chữ lẫn nét chữ đều cứng nhắc hệt như tính cách của người viết, mang đậm giọng điệu kinh doanh nửa mùa của cô con gái nhà chủ tiệm bán thuốc lá ở Ealing.

Thưa Bà,—Nếu Ủy ban của bà có thể giúp đỡ bà Caspar ở vùng Moot chỗ ăn ở cho mẹ con cô ấy và bốn đứa trẻ, tôi sẽ chịu trách nhiệm trả tiền thuê nhà.

Kính thư,

Anne Caspar.

Lát sau, khi màn đêm vừa sập xuống, Ruth đi lên lối đi Rectory Walk. Anne đang đứng trên khoảng cỏ trước ngôi nhà nhỏ giữa những luống cây thuốc lá tỏa hương ngào ngạt trong sẩm tối, một chiếc khăn choàng thắt chặt quanh đôi vai gầy guộc.

Ruth khựng lại ở lối đi bên ngoài.

– Cháu thực sự rất cảm ơn cô, cô Caspar ạ, – cô nói, giọng trầm xuống và run run.

Người phụ nữ lớn tuổi không thèm nhìn cô, cũng chẳng mời cô vào nhà. Bà giật giật hai đầu khăn choàng rồi hếch mũi hít hà không khí buổi tối với cái điệu bộ nhếch mép quen thuộc.

– Dù sao thì cũng phải có một mái nhà để che chở cho bọn trẻ chứ, – bà nói. – Kể cả trong thời chiến đi nữa.

Chuyến đi gặp viên Hộ tịch ở Lewes của bà Trupp và bà Lewknor đã thu được kết quả hoàn toàn mỹ mãn. Sổ sách ghi chép cho thấy chẳng có đám cưới nào diễn ra vào ngày hôm đó cả. Tối hôm đó, vừa về đến nhà, bà Lewknor liền báo cáo lại toàn bộ sự việc cho chồng nghe.

Viên Đại tá nhếch miệng cười toe toét hệt như loài yêu tinh sắp sửa thưởng thức bữa tối với món thịt trẻ con nấu nhừ.

– Chúng ta phải tóm đuôi cậu Alf này một phen thôi, – ông nói; – và đừng quên là chúng ta vẫn còn một món nợ phải tính với cậu ta đấy.

Trong buổi họp Ủy ban tiếp theo có sự tham gia của Đại tá, một cuộc chiến nảy lửa đã nổ ra giữa phe Quân đội và phe Giáo hội; và ngay sau đó là một vụ cãi vã còn căng thẳng hơn nữa giữa Alf và vị linh mục phó tế Spink.

– Không chỉ danh dự của tôi bị tổn hại đâu, – viên phó tế phẫn nộ kêu lên. – Mà uy tín của Giáo hội cũng bị anh làm cho lung lay rồi đấy.

– Tôi chỉ biết sự thật thế nào thì nói thế thôi—nếu mấy lời đó có ích gì cho ông, – Alf bướng bỉnh cãi lại. – Chính tay tôi chở họ đến đó đấy—ngày 14 tháng 9 năm 1906, lúc bốn giờ chiều thứ Bảy và trời hơi sương mù. Ông cứ tự mở sổ ghi chép ra mà xem. Lúc vào phòng Hộ tịch thì họ đi đơn, còn nửa tiếng sau bước ra thì thành đôi. Chính mắt tôi nhìn thấy chứ bộ, sự thật rành rành trước mắt, đố ai chối cãi được, kể cả thầy tu cũng đừng hòng chối.

Alf càng thêm bực bội vì cậu cảm thấy viên phó tế đã nhẫn tâm bỏ mặc cậu trong vụ rắc rối ở Moot. Về phần vị linh mục Spink—trong thâm tâm vẫn cảm thấy chột dạ về vai trò mờ ám của mình trong vụ việc hôm đó—thì cho rằng việc đứng ra bày tỏ lập thái độ cứng rắn và chính nghĩa lúc này sẽ giúp ông rửa sạch tiếng tăm, ít nhất là trong mắt chính mình, để bù đắp cho những yếu đuối trước kia.

– Tôi sẽ báo cáo toàn bộ vụ việc này lên Đại phó tế, – ông nói. – Thật là một nỗi ô nhục. Ngài sẽ phải trừng trị anh.

– Thế thì cứ báo cáo đi! – Alf hằn học đáp. – Giáo hội mà không cần tôi, thì tôi đây cũng chẳng cần Giáo hội.

Cuộc chiến tranh đang vắt kiệt sinh lực của vị Đại phó tế, đúng như những gì ông Trupp từng tiên đoán.

Ngọn lửa của tinh thần bất khuất đang thiêu đốt cụ già tội nghiệp trước sự chứng kiến của tất cả mọi người. Cụ đang tiến về cõi chết theo đúng như mong ước của mình, giữa tiếng trống rền vang và tiếng đại bác gầm rú.

Thế nên, khi vị linh mục Spink đến nhà xứ để báo cáo về những hành vi sai trái của tay chấp sự, ông tìm thấy vị bề trên của mình đang nằm trên giường và trông rõ là đã kiệt sức.

Cụ già trông thật thảm hại khi cố gắng duy trì sự uy nghiêm trong chiếc áo ngủ quá khổ, thứ chỉ càng làm nổi rõ hơn thân tàn ma dại của cụ.

Khuôn mặt cụ tái mét, ngoại trừ một vết bầm mờ quanh một bên mắt; nhưng cụ vẫn đang diễn tròn vai của mình một cách đầy kiêu hãnh. Ngay cả kẻ thù cay đắng nhất cũng phải khâm phục lòng dũng cảm của cụ; còn nhà phê bình khắt khe nhất chắc cũng phải rơi nước mắt trước sự giả vờ đáng thương ấy của cụ già.

Trên chiếc bàn cạnh giường là tất cả những món đồ vật nhỏ bé đầy tính biểu tượng gắn liền với cuộc đời cụ. Nào là hộp đựng thuốc hít; nào là sợi dây chuyền filigree; một lọ nước hoa; một chuỗi hạt mân côi; một cuốn sách cầu nguyện. Trên giường là chiếc gậy gỗ mun có nắp bạc; và dưới gối, được giấu một cách khéo léo để ai cũng thấy được, là báng của một khẩu súng lục.

Ngay trên đầu giường là bức chân mà vị phó tế nhận ra ngay lập tức chính là Ngài Edward Carson; và bên dưới bức chân dung là một tấm văn bia được trang trí lộng lẫy mà khi nhìn kỹ hóa ra lại là Bản Giao ước Long trọng (Solemn League and Covenant).

Đối diện với nhà lãnh đạo Liên minh vĩ đại trên bức tường bên kia là Hoàng đế nước Pháp. Sự giống nhau giữa hai vị Hoàng đế nổi tiếng thật kỳ lạ và rõ rệt; và họ dường như ý thức được điều đó, đang nhìn trân trân qua căn phòng về phía nhau qua thân xác của người ái mộ đang nằm liệt giường của họ với vẻ thân thiết, thấu hiểu và ngưỡng mộ lẫn nhau. Tưởng chừng như bạn có thể mong đợi họ nháy mắt với nhau một cái—cái nháy mắt đầy ý vị.

Lúc này, ông Spink kể lại toàn bộ câu chuyện liên quan đến Alf cho vị bề trên nghe. Phần lớn trong số đó thì Đại phó tế đã được nghe vợ mình kể lại từ trước rồi.

– Tốt hơn là tôi nên gặp cậu ta, – bây giờ cụ mới lạnh lùng lên tiếng.

Và Đại phó tế không phải là người duy nhất muốn gặp Alf vào lúc đó. Chiều hôm đó, ngay khi vừa chuẩn bị lái xe đi ra ngoài, hắn nhận được một cuộc điện thoại.

Giám đốc Tuyển quân muốn gặp hắn tại Tòa thị chính—vào ngày mai—đúng 11 giờ trưa. Giọng nói trong điện thoại vô cùng quả quyết và nghe quen quen. Alf đâm ra hoang mang. Lại có chuyện gì nữa đây?

– Ai là Giám đốc Tuyển quân ở đây thế ạ? – vài phút sau, hắn cất tiếng hỏi ông Trupp.

– Đại tá Lewknor, – vị bác sĩ già đáp. – Mới được bổ nhiệm. Tất cả bọn thanh niên trong độ tuổi nhập ngũ các cậu giờ đều thuộc quyền quản lý của ông ấy đấy.

Alf rùng mình.

Văn phòng của Đại tá đặt tại Tòa thị chính, và một trong những người đầu tiên đến đăng ký ghi danh ở đó chính là Joe Burt.

Vừa nhìn thấy người thợ máy bước vào, Đại tá nhận ra ngay rằng cơn bão đang tàn phá thế giới này cũng đã trút toàn bộ sức mạnh lên con người này. Con người Joe Burt mà ông từng biết bốn năm về trước nay lại đang đứng trước mặt ông, vẫn dáng vẻ cộc cằn, rụt rè và ánh mắt láo liên ấy.

– Chúc cậu gặp nhiều may mắn, – Đại tá nói khi hai người bắt tay nhau. – Và hãy cố gắng làm một người lương thiện nhé. Dù sao thì bản chất cậu cũng vốn là người như thế mà.

– Tôi cũng chẳng thua kém ai và còn lương thiện hơn khối kẻ khác ấy chứ, thưa ngài, – người thợ máy đáp lại với vẻ bướng bỉnh hệt như một cậu học trò bị thầy cô la mắng.

Đại tá cố ra vẻ nghiêm khắc.

– Cậu biến đi trước khi lại vướng vào rắc rối lớn hơn đấy, – ông nói.

Joe bước ra ngoài, miệng cười toe toét.

– Hừ, mình tôi thế này đâu phải là duy nhất, – hắn lầm bầm.

Ra đến hành lang, hắn chạm mặt Alf và khựng lại vì kinh ngạc.

– Mày mà cũng đòi tòng quân á! – hắn gí sát mặt thét lên. – Không đời nào! – rồi nghênh ngang bước đi, tiếng cười vang dội dọc hành lang hệt như một cơn cuồng phong.

Alf dè dặt bước vào văn phòng Đại tá: hắn có những lý do riêng để phải sợ bất cứ thứ gì mang sắc phục kaki.

Đại tá ngồi sau bàn làm việc trông hệt như một chiếc đầu lâu, vắt ngang bộ ngực khoác áo kaki là dải huân chương đã phai màu.

Ông gầy gò, trông ảo não và gần như chỉ còn da bọc xương. Nhưng giọng nói của ông vẫn dịu dàng như mọi khi; tác phong của ông cũng vô cùng lịch thiệp. Chẳng có lấy một chút dáng vẻ hách dịch truyền thống của quân đội nào ở con người ông.

Ông lúc này chẳng khác nào con nhện đang trò chuyện với con ruồi.

– Tôi e rằng đây là một vấn đề rất nghiêm trọng, cậu Caspar ạ, – ông mở đầu; và đây vốn là câu mở đầu ưa thích của ông. – Có vẻ như bây giờ cậu lại đang đi bôi nhọ danh dự của vợ một quân nhân thuộc lực lượng của Hoàng gia hiện đang chiến đấu ở Pháp...

Cuộc nói chuyện kéo dài một lúc lâu, và chính Đại tá là người chủ trì toàn bộ câu chuyện.

– Và bây giờ tôi không giữ cậu lại nữa đâu, cậu Caspar, – cuối cùng ông nói. – Viên thư ký của tôi ở căn phòng bên cạnh sẽ ghi lại tất cả các thông tin chi tiết của cậu để đưa vào hệ thống thẻ ghi danh, nhờ vậy mà chúng ta sẽ không phải phiền đến cậu nữa khi lệnh tổng động viên được ban hành.

– Tổng động viên! – Alf kêu lên, mặt biến sắc.

– Đúng vậy, – Đại tá đáp. – Vẫn chưa có thông báo chính thức nào được đưa ra cả. Nhưng cậu hoàn toàn có thể biết trước rằng chuyện đó sắp xảy ra. Chắc chắn nó phải xảy ra thôi.

Alf lầm lũi bước đi hệt như một kẻ chuẩn bị bước lên đoạn đầu đài. Hắn quay trở lại gara ô tô lúc này đã vắng tanh vắng ngắt của mình và tìm thấy một bức thư từ Đại phó tế gửi đến, nhờ hắn phiền ghé qua nhà xứ vào chiều hôm đó.

Alf đứng bên cửa sổ, đôi mắt thẫn thờ nhìn ra ngoài. Giờ đây, khi mặt đất vốn từng vững chắc dưới chân hắn ba tuần trước nay đang sụp đổ tan hoang, hắn càng cần đến sự hậu thuẫn của Giáo hội hơn bao giờ hết; và bất chấp những lời khoác lác với ông Spink, hắn quyết tâm không từ bỏ địa vị của mình trong Giáo hội nếu không qua một trận chiến.

Chiều hôm đó, hắn chậm rãi bước lên ngọn đồi dẫn về phía nhà xứ.

Đứng bên ngoài chiếc cổng trắng trên con đường dưới hàng cây sung dâu, hắn cố thu gom chút dũng khí để bước vào cuộc đối mặt.

Lúc đó là năm giờ.

Một người bước xuống từ chuyến xe buýt ở ngã tư Billing's Corner và đi dọc con đường tiến về phía hắn. Alf nhận ra có người đang tới gần nhưng lúc đầu chưa nhận ra đó là ai.

– Vẫn chưa cuốn xéo đi cơ à? – người đó cất tiếng hỏi.

– Chưa, – Alf đáp. – Đi được đến chỗ của anh là cùng—mà ngần ấy thì thấm tháp vào đâu.

– Tôi đang trên đường đây, – Joe đáp. – Giờ tôi đang lên trại lính ở Summerdown; tối nay sẽ chính thức tòng quân.

– Hừ, – Alf nói. – Chừng nào thấy tận mắt thì tôi mới tin.

Vác hành lý trên lưng, Joe sải bước vững chãi hướng về phía đồi Downs.

Alf đứng lặng nhìn theo. Ngay lúc đó, tiếng cổng sắt kêu lách cách; và Edward Caspar lững thững bước ra đường. Sự cô độc khiến Alf muốn bấu víu vào một người thân.

– Chào bố, – hắn cất tiếng.

Cụ già ngẩn ngơ chớp mắt qua cặp kính cận, rồi đáp lại một cách vô cùng lịch thiệp:

– Chào cậu... ừm... à! – rồi lầm lũi bước tiếp dọc con đường.

Thậm chí bố đẻ còn chẳng thèm nhận ra hắn!

Ngay trên đầu, một chiếc máy bay lượn vút qua. Từ thung lũng vọng lại tiếng búa nện vang dội không dứt khi doanh trại lớn ở đó đang dần thành hình. Dọc theo con đường Summerdown Road ở cuối lối đi Rectory Walk, một đoàn xe vận tải dài chở đầy la của Hậu cần Quân đội đang lục đục kéo đi ngang qua. Một chiếc xe hơi lớn phóng vụt qua mặt hắn. Ngồi trong xe là Stanley Bessemere cùng ba sĩ quan tham mưu với dải băng đỏ quấn quanh mũ. Trông họ vô cùng mãn nguyện với điếu xì gà trên tay và vẻ tự đắc của mình. Nghị sĩ khu vực Beachbourne West chẳng thèm liếc mắt nhìn người ủng hộ mình lấy một cái. Ngay sau đó vang lên tiếng giày đinh nện rầm rập của hành quân. Hôm nay là chiều thứ Bảy. Đại đội Tự vệ Thị trấn Cổ, hầu hết là những người trung niên mà Alf đã quen mặt từ thuở nhỏ, đang đều chân bước qua để đến bãi tập trên đồi Downs. Dẫn đầu là một gã lùn cáu kỉnh. Ba vạch cấp bậc thô ráp đã được khâu lên tay áo để đánh dấu chức vụ trung sĩ của hắn; và hắn thắt một chiếc điều rằn ri thắt chặt quanh cái bụng phệ của mình. Tất cả đều mang súng giả.

– Một-hai, một-hai, – viên trung sĩ hô vang với chất giọng của một huấn luyện viên điều lệnh Cận vệ. – Giậm chân tại chỗ! Đằng trước—bước! Đóng hàng theo hướng bên trái!

Đó chính là ông Pigott.

Ánh mắt Alf đăm đăm dõi theo nhóm người nhỏ bé đang tiến lên con đường. Rồi ánh mắt hắn rơi vào chính ngôi nhà của mình được phủ kín bởi những dây thường xuân đang chuyển màu đỏ úa. Mẹ hắn đang đứng bên cửa sổ nhìn xuống hắn. Không biết là do lớp kính làm biến dạng khuôn mặt bà hay do thị lực của hắn đang mờ đi, Alf có cảm giác như mẹ đang chế nhạo mình. Rồi bà kéo rèm cửa xuống như thể muốn xua đuổi hắn ra ngoài—chính người mẹ đẻ của hắn.

Alf rùng mình rợn tóc gáy.

Một người phụ nữ trẻ đi từ ngã tư Billing's Corner băng qua đường tiến về phía hắn.

– Này Alf, – cô ta vui vẻ cất tiếng, – anh đang khiến tất cả mọi người quay lưng lại với mình đấy nhé!

Alf ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt cô ta, ánh mắt của một con thỏ trong hang khi bị con chồn túc trực ngay sát sau gót chân.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.