Viện phó giám mục và người giúp lễ cùng nhau đi bộ từ nhà ga về Phố Cổ.
Ông Trupp và ông Pigott đi theo sau.
– Viện phó giám mục có vẻ bước chậm lại nhỉ, – người đi trước nhận xét.
– Vâng, – người kia đáp. – Và tôi chẳng lấy làm lạ. Cuộc chiến này rồi sẽ kết thúc sinh mạng ông ấy cho mà xem. Anh có nghe chuyện tối qua không?
Vào lúc nửa đêm, vị cựu chiến binh đã xách đèn pin cùng Mục sư Spink đi lùng bọn gián điệp phát tín hiệu từ trên đỉnh đồi Downs.
Trớ trêu thay, kẻ đi săn lại bị một người ái quốc khác cũng có chung mục đích rình rập. Hai cụ già đã bắt giữ lẫn nhau cạnh ao sương trên đồi Warren; và theo lời đồn, giữa họ đã có những lời qua tiếng lại chẳng mấy hay ho gì. Đến tận canh ba, khi nghe tiếng người, Anne Caspar đã thức dậy và nhìn từ cửa sổ thấy Viện phó giám mục đang lầm lũi bước về nhà, người đầy bụi bặm và nhếch nhác, vị phó tế thì lủi thủi sủa gâu gâu sau gót chân sếp. Viện phó giám mục chẳng bắt được tên tù nhân nào, bù lại ông bị chứng đau lưng, dăm vết xước, cùng một nỗi bực bội sục sôi vì nhận ra gã phó tế vừa bất trung lại vừa vô tích sự. Cả hai đã chia tay nhau tại cổng nhà xứ trong cơn thịnh nộ, khi Mục sư Spink dứt khoát đòi từ chức.
Ngay đối diện nhà để xe của mình ở khu Golfs, Alf lúc này mới chào tạm biệt vị mục sư, rồi băng qua đường với vẻ phơi phới đến mức có phần ngạo mạn. Ông Trupp để ý thấy điều đó.
– Thế còn hắn và cái Công đoàn Du lịch của hắn thì sao? – ông hỏi.
– Hắn ta ổn cả thôi, – ông Pigott đáp. – Cứ tin hắn đi. Mưu mẹo thì Alf là số một. Khi chiến tranh bùng nổ, hắn triệu tập các tài xế lại và làm một bài diễn văn. Hắn nói hắn thừa biết họ muốn ở đâu — cũng là nơi hắn muốn: ngoài chiến tuyến. Hắn sẽ là kẻ cuối cùng đứng giữa họ và bổn phận của họ. Hắn sẽ không giữ họ lại theo hợp đồng nữa. Vận tải Cơ giới đang cần họ lắm — năm si-ling một ngày và vinh quang ngập tràn. Tất cả những gì hắn có thể làm là chúc họ thượng lộ bình an và ước gì chính mình cũng được đi — ngặt vì trách nhiệm của hắn còn đó...
Ông Trupp cười nhếch mép.
– Bọn họ nuốt trôi bài đó chứ? – ông hỏi.
– Ngọt xớt như bơ thượng hạng, – ông Pigott đáp. – Hắn có cái lưỡi dẻo quẹo. Hắn uốn nắn họ theo ý muốn. Quốc hội mới là nơi xứng đáng cho một kẻ như Alf.
– À! – người kia cảm thán. – Chúng ta mới chỉ bắt đầu thôi. Cuộc chiến này rồi sẽ lôi tẩy tất cả chúng ta trước khi hồi kết hạ màn...
Alf rẽ vào sân nhà.
Một nhóm mấy ông già tàn tạ đang đứng chờ hắn ở đó.
– Các người là ai? – hắn gắt gỏng hỏi. – Muốn gì đây?
– Chúng tôi đến đại diện cho nhóm thợ vệ sinh, thưa ngài, – vị đại diện cất giọng run rẩy của kẻ thiếu ăn. – Còn tụi tôi thì sao ạ? — Quân đội không cần chúng tôi.
Cả nhóm cười phá lên một tiếng cười yếu ớt đầy vẻ cầu cạnh.
– Thời buổi này ai lo thân người nấy nhé! – Alf cộc lốc và sắc bén đáp gọn lỏn. – Tôi không phải là Hội Từ thiện Xã hội đâu nhé.
Lão già, run rẩy cả giọng lẫn thân hình, lom khom bước tới, tay chạm vành mũ. Thấp bé và còi cọc do thiếu đói từ thưở thơ ấu, cùng những trận đòn roi tàn nhẫn suốt những năm tháng trưởng thành, lão chính là minh chứng sống cho nguyên tắc vĩ đại mà chúng ta — những người theo đạo Thiên Chúa — đã áp dụng và duy trì suốt bao thế kỷ: những công việc nặng nhọc nhất trần đời phải do những kẻ yếu đuối nhất gánh vác. Lão Tip, tên mọi người vẫn gọi lão, từng là một phu khuân vác than cho đến năm năm mươi lăm tuổi thì trật khớp vai khi đang bầy biện những khối hàng quá sức. Kể từ đó, lão thành kẻ tàn phế một phần, một nạn nhân của cuộc Chiến tranh Công nghiệp, và phải đối xử như vậy.
– Ngài có thể ứng trước tiền lương một tuần hoặc cho chúng tôi thôi việc báo trước một tuần được không, thưa ngài? – lão cất giọng run lẩy bẩy lên tiếng.
– Tao thuê tụi mày theo tuần à? – Alf hung dữ hỏi.
– Không thưa ngài; tính theo ngày ạ.
– Thế thì mày còn lải nhải cái gì? — Tao đã thanh toán sòng phẳng tiền công cho tụi mày chưa hả?
– Ngài trả đủ rồi ạ. Chỉ là chúng tôi còn phải sống chứ.
– Vậy thì tốt quá. Đã có Trại tế bần ở trên đỉnh đồi dành cho những kẻ như tụi mày đấy. Thế vẫn chưa đủ tốt chắc? Đây là một đất nước Thiên Chúa giáo cơ mà.
Alf đã đi được nửa đoạn bậc thềm dẫn lên văn phòng, hắn vừa nói vừa hất hàm chỉ hướng về phía Trại tế bần.
Một thứ ánh sáng vàng vọt kỳ lạ lóe lên trong đôi mắt lão già. Đôi môi lão mím chặt lại trùm lên cả lợi.
– Quân Bastille khốn kiếp, – lão lầm bầm.
Alf nghe thấy và sầm sập lao xuống bậc thềm. Hắn mang sự tĩnh lặng đầy đe dọa của một kẻ chuyên bắt nạt bẩm sinh.
– Cấm cái thói đấy nhé! – hắn điềm tĩnh nói. – Không có cái thứ ngôn từ bẩn thỉu nào trong sân nhà tao hết! Và cũng đừng có la cà lảng vảng ở đây! — Biến mau, không thì tao gọi cảnh sát đấy. Tao nghĩ đất nước lúc này có khối việc quan trọng hơn là đi lo cho tụi mày và mấy kẻ giống như tụi mày.
Hắn đứng ngay cổng sân với cái vẻ mặt lạnh lùng trịch thượng của một tên cai ngục đang quản lý đám tù nhân.
Lũ thợ vệ sinh lủi thủi lê bước đi như một bầy lừa ghẻ lở đã hết sức lao động, bị đuổi ra bãi đất hoang để tự chết theo ý chúng.
Tất cả đều là những con người đã tàn phế, già nua và ốm yếu, được vớt lên từ cặn bã của cái Quỹ Dự trữ Lao động mà hệ thống tư bản đã dựng lên trên đó. Chúng chẳng thuộc nghiệp đoàn nào; chúng không có khả năng tổ chức và do đó chẳng thể tự vệ trước tầng lớp bóc lột...
– Tụi mình làm gì có tổ quốc mẹ gì đâu, những kẻ như tụi mình ấy mà.
– Cả Chúa chúa khốn khiếp nào cũng chẳng có nốt.
– Bọn nhà giàu vơ vét hết cả rồi còn gì.
– Giống hệt như mọi thứ khác chúng đang nắm trong tay...
Khi kẻ cuối cùng đã khuất dạng, Alf lon ton bước lên bậc thềm vào phòng làm việc. Hắn chẳng hề sợ hãi chúng, thậm chí còn chẳng buồn phiền vì sự tự ái viển vông không đâu của bọn chúng.
Trái lại, hắn cảm thấy vô cùng phấn khích.
Đúng là kế hoạch lớn của hắn đã sụp đổ — chẳng phải do lỗi lầm gì từ phía hắn; nhưng hắn đã kịp thoát thân trong gang tấc sau một cơn hoảng loạn kinh hoàng, và giờ đây đang nếm trải cảm giác thăng hoa lâng lâng của một kẻ vừa thoát chết trong gang tấc nhờ chính nỗ lực của bản thân.
Hắn đã tống khứ đám tài xế sang cho quân đội; và bán sạch xe buýt cho chính phủ. Chủ nợ lớn duy nhất còn lại là Đại úy Royal, và Alf hoàn toàn có thể nhếch mép cười trừ. Vả lại, Đại úy Royal rồi cũng sẽ ra trận — và chưa chắc đã có đường về. Hơn thế nữa, nếu hắn không đoán nhầm, chiến tranh mở ra muôn vàn cơ hội mà một kẻ biết chớp thời cơ sẽ tận dụng triệt để — những biến động trên thế giới từ trước đến nay vẫn luôn là thế.
Trong lúc này, hắn vẫn còn trong tay những nhà xe để từ đó có thể gầy dựng lại cơ ngơi ban đầu bất cứ lúc nào, mở rộng nó, hay thay đổi tùy theo thời cơ đưa tới. Chiến tranh sẽ không kéo dài mãi mãi; nhưng nó sẽ phá hủy các doanh nghiệp và nuốt chửng con người — trong đó có cả những đối thủ của hắn. Khi họ bận rộn ở ngoài chiến tuyến, hắn sẽ âm thầm, không ngừng nghỉ củng cố vị thế của mình ngay tại quê nhà. Và khi hòa bình lập lại, ngày đó thế nào cũng đến, hắn sẽ sẵn sàng gieo gì gặt nấy nhờ vào sự tháo vát và siêng năng của mình.
Trên đường lên Phố Cổ chiều hôm đó, hắn gặp Mục sư Spink và hỏi ngài rằng cuộc chiến tranh Pháp-Phổ đã kéo đổi bao lâu.
Vị phó tế vẫn giữ nguyên vẻ xù lông bực bội của một con gà chọi đang có điều ấm ức với trọng tài. Quả thực, phu nhân Augusta đã phải bận rộn cả buổi sáng để vuốt ve bộ lông cho ông và thuyết phục ông rút lại đơn từ chức. Cuộc gặp gỡ với Alf càng làm dịu thêm tâm hồn đang tổn thương của ông; bởi hơn hết thảy mọi thứ, Mục sư Spink thích nhất là được người ta thỉnh giáo với tư cách là một học giả.
Bấy giờ ông đáp lại Alf với một cái cau mày đầy vẻ uyên bác:
– Sáu tháng. Nó bắt đầu vào đúng khoảng thời gian này. Họ đã tiến vào Paris trước tháng Giêng.
– Lâu thế cơ à! – Alf ngạc nhiên nói. – Xem ra lần này họ sẽ đánh nhanh hơn đấy!
Một ý nghĩ lóe lên trong đầu hắn. Hắn rẽ xuống phố Borough Lane, và đến tìm Ruth.
Cô có nhà, đang thui thủi một mình trong gian bếp, mấy đứa nhỏ đã lên giường đi ngủ. Hắn không bước vào ngay mà đứng ở ngưỡng cửa một lát trước khi cô kịp nhận ra sự hiện diện của hắn, nhìn cô với nụ cười ngọt ngào đầy tính toán.
Rồi hắn cất tiếng chào lanh lảnh.
Cô ngẩng lên, nhìn thấy hắn; và ánh sáng trên khuôn mặt cô vụt tắt.
– Thế là anh Ern đã đi chiến trận rồi nhé, – hắn nói. – Chắc cô sẽ thấy cô quạnh lắm vào ban đêm đây, khi chiều dần buông xuống và bao thứ khác nữa. Này, tôi có thể ghé qua chơi lúc nào rảnh rỗi nhé. Dạo này tôi đỡ bận hơn trước rồi. Có khi tôi lại quay lại lái xe cho ông Trupp thôi.
Cô đứng phắt dậy, uy nghi dữ dội như một con sư tử cái đang cố thủ ở cửa hang.
– Cút ngay! – cô quát lệnh, rồi hất mạnh bàn tay đầy uy quyền về phía cửa.
Alf cuống cuồng chuồn thẳng.
Một tên thợ đào đất nãy giờ vẫn đứng quan sát hắn từ cánh cửa đối diện, nặng nề nhấc vai băng qua đường để chặn đầu hắn. Đó là một gã đàn ông to lớn với cái đầu vô cùng nhỏ, mặc bộ đồ nhung kẻ; đúng cái kiểu người mà bạn vẫn có thể bắt gặp trên những trang tạp chí Punch nhưng hiếm khi thấy ngoài đời thực. Gã đút sâu hai tay vào túi quần, và điềm tĩnh lên tiếng mà chẳng thèm bỏ cái tẩu thuốc ra khỏi miệng.
– Thôi cái giọng điệu khốn kiếp ấy đi mậy!
Alf khựng lại, vô cùng kinh ngạc. Rồi hắn nghĩ chắc tên này đã nhận nhầm người trong ánh chiều chạng vạng.
– Này! Mày có biết mày đang nói chuyện với ai không đấy? – hắn hỏi.
Gã thợ đào đất tỏ ra chẳng mảy may bận tâm.
– Phải biết chứ, – gã đáp, – tính ra tao với mày từng lết mông chung một mái trường hồi nhỏ xíu dưới sự kèm cặp của ông Pigott đằng kia kìa. Mày là Alf Caspar, còn tao là Reuben Deadman. Ở vùng này có câu ngạn ngữ chắc mày từng nghe qua — Khi nào ở nhà tù Lewes mà không có lấy một bóng dáng họ Deadman nào, thì lúc đó mày cứ hiểu là ngày tận thế đã cận kề. Tao thì chưa phải vào tù bao giờ, chí ít là chưa. Nhưng có ngày tao mà vào đó, tao sẽ chấp nhận chịu treo cổ — vì mày — coi như tình nghĩa xưa cũ; chưa kể đến cái trò bẩn thỉu mày đã đối xử với lão Tip và mọi người chiều nay đấy.
Alf lầm lũi leo dốc, thở hồng hộc với khuôn mặt biến sắc loang lổ.
Bong bóng kiêu ngạo của hắn đã vỡ tan tành. Hắn cảm thấy một cảm giác trống rỗng kỳ lạ trào dâng trong lồng ngực, tựa như thể hắn đang bước đi trên những đám mây ẩm ướt lạnh lẽo sắp tụt chân rơi xuống vực sâu.
Chiến tranh đang làm thay đổi mọi thứ rồi, và điều đó chẳng hề hợp ý hắn chút nào.
Ba tuần trước, thử hỏi có ai dám ăn nói với Tổng Giám đốc của Công ty Hợp danh Caspar như thế không?
Vừa chìm đắm trong những ruốc rối của mình, hắn vừa đụng phải Joe Burt đang rảo bước hối hả quẹo qua góc phố Borough Lane, mặt mày cũng đầy vẻ ưu tư.
Alf lẹ làng lùi lại né tránh. Joe đứng cúi gằm đầu, trừng trừng nhìn kẻ thù của mình. Rồi nghĩ lại, hắn chẳng thèm chấp và tiếp tục rảo bước đi tiếp.
Alf đứng giữa đường, ánh mắt đầy vẻ giễu cợt, lén lút gọi với theo sau lưng hắn.
– Muốn độc chiếm ả ta cho riêng mình chứ gì, hả?
Joe cứ thế cắm cổ bước đi không thèm đếm xỉa đến căn nhà nhỏ mà Alf vừa rời khỏi.
Chắc chắn Ruth đang ngóng đợi hắn: bởi anh vừa bước thẳng vào nhà ngay mà chẳng cần gõ cửa.