Trí nhớ không đáng tin cậy. Nó sáng tác ra các câu chuyện. Nó điền vào chỗ trống, nuôi cấy những ảo tưởng và biến chúng thành ký ức.
Tôi cần gạn lọc ra sự thật...
Nhưng tôi không biết mình đang nhớ lại những gì đã xảy ra - hay những gì tôi muốn đã xảy ra. Tôi là một nhà văn. Tôi là kẻ dối trá chuyên nghiệp. Thật khó mà biết điểm dừng, đúng không? Thấy một lỗ hổng trong câu chuyện, ta liền muốn lấp đầy nó bằng lý lẽ, bằng động cơ, bằng một lời giải thích hợp lý.
Và tôi càng gắng sức, sự thật lại càng nhanh tan biến dưới những ngón tay...
Tôi biết mình đã giật mình tỉnh dậy. Tôi không biết lúc đó là mấy giờ, nhưng trời vẫn còn tối. Nina cũng đang ngồi trên giường, cặp mắt đen mở to lấp lánh.
“Cậu có nghe thấy không?” cô thì thào.
Tôi gật đầu. Tiếng bước chân ở đầu cầu thang. Một cánh cửa mở ra rất khẽ khàng.
Tôi lật chăn ra và túm lấy áo choàng ngủ, tim dộng thình thình trong lồng ngực. Tôi nhớ đến cánh cửa bếp mở toang, những dấu chân trên tuyết.
Đáng ra chúng tôi phải kiểm tra phần còn lại của căn nhà.
Tôi đứng cạnh cửa phòng lắng tai nghe ngóng, rồi vô cùng thận trọng mở nó ra. Clare và Flo đang đứng ngoài hành lang, mắt mở to, mặt sợ cắt không còn một hột máu. Flo đang cầm khẩu súng.
“Hai người có nghe thấy gì không?” tôi thì thào, khẽ nhất có thể. Clare gật đầu cụt lủn và chỉ về phía cầu thang, ngón tay hướng xuống dưới. Tôi nghe ngóng, căng tai ra hết mức, cố làm dịu đi hơi thở run rẩy và trái tim đập thình thình. Có âm thanh kẽo kẹt, rồi tiếng cạch rõ ràng, như thể một cánh cửa vừa khẽ đóng lại. Có ai đó dưới nhà.
“Tom?” tôi thì thào. Nhưng đúng lúc tôi nói thì cửa phòng anh ta hé mở và Tom ngó mặt ra ngoài.
“Các em có... tiếng động ấy?” anh ta nói thầm. Clare gật đầu cái rụp.
Lần này không có cửa nào mở. Không có gió. Lần này chúng tôi đều có thể nghe rõ: những bước chân rõ ràng khi ai đó đang băng qua căn bếp lát gạch, qua sàn lát gỗ của hành lang, và tiếng kẽo kẹt khe khẽ khi một bàn chân đặt lên bậc thang đầu tiên.
Không biết làm thế nào nhưng chúng tôi đã túm tụm lại với nhau, tôi cảm thấy bàn tay ai đó đang lần tìm tay mình. Flo đứng giữa, súng giương lên, dù nòng súng đang rung dữ dội. Tôi đưa bàn tay còn rảnh của mình ra để giữ chắc lấy nó.
Tiếng kẽo kẹt vang lên ở cầu thang và chúng tôi cùng hít vào, rồi một hình thù vòng qua trụ lan can, in bóng trên khung cửa sổ kính phẳng nhìn ra khu rừng.
Là một gã đàn ông - một gã đàn ông cao lớn. Gã mặc áo kiểu hoodie tối màu, tôi không thể nhìn ra mặt gã, gã đang cúi nhìn điện thoại, màn hình chiếu ánh sáng trắng ma quái trong bóng tối.
“Cút mẹ mày đi, để bọn tao yên!” Flo gào lên và súng khai hỏa.
Một tiếng nổ lớn kinh hoàng, inh tai, cả tiếng kính vỡ, và khẩu súng giật ngược mạnh không kém gì cú đá hậu của một con ngựa. Tôi nhớ điều đó - tôi nhớ mọi người đã ngã lăn ra.
Tôi nhớ mình đã ngẩng đầu lên nhìn - thật vô lý - ô kính cửa sổ khổng lồ ở đầu cầu thang, vỡ tan tành - kính vụn văng đầy thảm tuyết bên dưới, rơi rào rạo xuống các bậc cầu thang bằng gỗ.
Tôi nhớ gã đàn ông ở cầu thang bật lên một tiếng kêu tắc nghẹn - có vẻ vì sốc thì đúng hơn là vì đau, rồi gã ngã vật ra, chậm rãi lăn bình bịch xuống cầu thang như một diễn viên đóng thế trên màn ảnh.
Tôi không biết ai đã bật đèn. Nhưng ánh sáng bao trùm khắp hành lang có trần cao chói lòa đến mức làm tôi phải đưa tay lên che mắt - và tôi đã nhìn thấy.
Tôi nhìn thấy những bậc thang lát gỗ sồi nhạt màu, tung tóe máu, và ô cửa sổ vỡ, và vệt máu dài chậm chạp lan ra khi cơ thể gã đàn ông trượt dần xuống lầu.
“Chúa ơi,” Flo thút thít. “Khẩu súng... khẩu súng được nạp đạn thật!”
Khi cô y tá quay lại, tôi đang khóc.
“Đã có chuyện gì?” tôi cố nói. “Ai đó đã chết - hãy nói cho em, làm ơn hãy nói cho em ai đã chết?”
“Chị không tiết lộ cho em được, cưng à.” Cô có vẻ thực lòng áy náy. “Chị ước rằng mình có thể, nhưng chị không được phép. Nhưng chị đã mời bác sĩ Miller đến đây để kiểm tra xem em thế nào.”
“Chào buổi sáng Leonora,” anh ta nói, bước đến bên giường. Giọng anh ta nhẹ nhàng, thương cảm. Tôi muốn đấm anh ta và cái lòng trắc ẩn chết tiệt của anh ta. “Tôi rất tiếc vì hôm nay chúng ta hơi nhiều nước mắt.”
“Ai đó đã chết,” tôi nói rất rành mạch, cố điều hòa nhịp thở, ngăn mình không ấp úng và nức nở. “Ai đó đã chết, và không-một-ai chịu nói cho tôi biết người đó là ai. Cảnh sát thì đang ngồi bên ngoài. Tại sao?”
“Đừng vội lo đến chuyện đó vào lúc này...”
“Tôi đang lo đây!” tôi gào lên. Những cái đầu ngoài hành lang ngoái lại. Viên bác sĩ giơ một bàn tay ra để trấn an, vuốt vai tôi theo cái lối khiến tôi muốn run rẩy và rùng mình. Thân thể tôi bầm tím. Người tôi đau. Tôi đang mặc áo choàng bệnh nhân để hở phần sau và đã để mất toàn bộ thể diện của mình cùng mọi thứ khác. Đừng có mà đụng vào tôi, đồ kẻ cả chết bằm.
“Nghe này,” anh ta nói. “Tôi hiểu rằng cô đang bất an và hẳn là cảnh sát sẽ cho cô một số câu trả lời, nhưng tôi muốn kiểm tra cô trước, để chắc chắn rằng cô đủ khỏe để nói chuyện với họ, và tôi chỉ có thể làm vậy nếu cô bình tĩnh. Cô có hiểu không, Leonora?”
Tôi gật đầu, không nói gì, rồi quay mặt vào tường trong lúc anh ta xem xét chỗ băng dán trên đầu, kiểm tra mạch đập và đọc huyết áp trên màn hình hiển thị. Tôi nhắm mắt, cố nuốt cho trôi cục nhục nhã này. Tôi trả lời các câu hỏi của anh ta.
Tên tôi là Leonora Shaw.
Tôi hai mươi sáu tuổi.
Hôm nay là... câu này thì tôi cần được giúp đỡ, nhưng cô y tá đã gợi ý cho tôi. Là Chủ nhật. Tôi ở đây chưa được mười hai tiếng. Vậy thì hôm nay là mười sáu tháng Mười một. Tôi nghĩ đây được tính là mất định hướng chứ không phải mất trí nhớ.
Cameron là thủ tướng.
Không, tôi không buồn nôn. Tầm nhìn của tôi bình thường, cảm ơn.
Có, tôi gặp khó khăn khi gợi lại một số ký ức. Có một số điều mà đáng ra ta không nên nhớ.
“Chà, có vẻ cô khá ổn định rồi,” cuối cùng bác sĩ Miller nói. Anh ta quàng ống nghe qua cổ và nhét cái đèn pin cỡ nhỏ trở lại túi áo ngực. “Các thông số theo dõi qua đêm cũng ổn, và kết quả chụp chiếu không có vấn đề gì. Vụ trí nhớ khiến tôi lo lắng đôi chút - hiện tượng mất vài phút ký ức ngay trước khi tai nạn xảy ra là khá phổ biến, nhưng có vẻ cô không nhớ được cả những gì xảy ra khá xa trước đó nữa, phải không?”
Tôi miễn cưỡng gật đầu, nghĩ về những hình ảnh vụn vặt vá víu bất chợt hiện về suốt đêm. Rừng cây. Máu. Ánh đèn pha quét điên loạn.
“Hừm, có thể cô sẽ bắt đầu thấy ký ức quay lại. Không phải mọi nguyên do của chứng quên” - tôi để ý thấy anh ta tránh dùng từ “mất trí nhớ” - “đều là vì chấn thương thể chất. Một số lại liên quan hơn đến... căng thẳng tâm lý.”
Nghe đến đó tôi ngước lên, nhìn thẳng vào mắt anh ta.
“Ý anh là gì?”
“Đây không phải chuyên môn của tôi, mong cô hiểu cho... Tôi chỉ chữa trị chấn thương thể chất vùng đầu. Nhưng đôi khi, đôi khi bộ não lấp liếm những sự kiện mà ta chưa sẵn sàng đối mặt. Tôi cho rằng đó là một... cơ chế đối phó, cô có thể gọi như thế.”
“Sự kiện kiểu như thế nào?” Tôi gằn giọng. Anh ta mỉm cười. Bàn tay anh ta lại đặt lên vai tôi. Tôi cố chống chọi thôi thúc muốn rụt lại.
“Cô đã có một trải nghiệm khó khăn, Leonora. Giờ thì, cô có muốn gọi cho ai không? Bất cứ ai cô muốn gặp? Theo tôi hiểu thì mẹ cô đã được báo tin, nhưng bà đang ở tận bên Australia, phải không?”
“Đúng vậy.”
“Có người nào khác không? Bạn trai? Bạn đời?”
“Không. Xin anh,” tôi nuốt khan, nhưng chẳng có lý do gì để trì hoãn điều này thêm nữa. Nỗi thống khổ của việc không biết đang mỗi lúc một thêm đau đớn. “Xin anh, bây giờ tôi muốn gặp cảnh sát.”
“Hừm.” Anh ta đứng đó, nhìn vào phiếu khám. “Tôi không chắc rằng cô đã sẵn sàng, Leonora. Chúng tôi đã nói với họ rằng cô chưa đủ khỏe để trả lời câu hỏi.”
“Tôi muốn gặp cảnh sát.”
Chỉ có họ mới cho tôi các câu trả lời. Tôi phải gặp họ.
Tôi nhìn chằm chằm anh ta, trong lúc anh ta giả vờ nghiên cứu phiếu khám giơ trước mặt, cố gắng đưa ra quyết định.
Cuối cùng anh ta thở dài, một cái thở dài nửa vời bực dọc, và đút phiếu khám vào khay đựng ở chân giường.
“Được thôi. Y tá MacIntyre sẽ ở lại. Họ chỉ được phép nói chuyện không quá nửa tiếng, cô y tá nhé, và tôi không muốn đả động đến bất cứ điều gì quá căng thẳng, nếu cô Shaw bắt đầu gặp khó khăn với cuộc phỏng vấn...”
“Đã rõ ạ.” Cô y tá nhanh nhảu đáp.
Bác sĩ Miller chìa tay ra và tôi bắt tay anh ta, cố không nhìn vào những vết xước và vệt máu trên cánh tay mình.
Anh ta quay người rời đi.
“Ồ... Khoan đã, tôi xin lỗi,” tôi vội vàng nói khi anh ta ra đến cửa. “Tôi có thể tắm vòi sen trước không?”
Đúng là tôi muốn gặp cảnh sát, nhưng không phải trong bộ dạng như thế này.
“Tắm bồn,” bác sĩ Miller nói và khẽ gật đầu. “Tôi không muốn làm ảnh hưởng đến chỗ băng dán trên trán cô. Nếu giữ được đầu ở trên mặt nước thì cô có thể tắm bồn.” Và anh ta rời đi.
Phải mất một lúc mới tháo được tôi ra khỏi đống máy móc, nào là cảm biến, kim truyền và chiếc bỉm cỡ đại giữa hai chân làm tôi muốn độn thổ vì xấu hổ khi quăng chân xuống sàn nhà, cảm nhận rõ độ nặng của nó. Tôi có tè dầm trong lúc ngủ không? Không có mùi nước tiểu nhưng tôi không dám chắc.
Cô y tá đưa tay ra làm chỗ bám cho tôi và dù muốn đẩy cô ra, tôi vẫn thấy biết ơn một cách thảm hại khi phải tựa vào người cô nhiều hơn mức tôi muốn thừa nhận và nhăn nhó lết về phía phòng tắm.
Đèn bên trong tự động bật sáng và cô y tá giúp tôi gỡ băng dán của áo choàng bệnh nhân.
“Cứ để em tự làm nốt,” tôi nói, nhưng cô lắc đầu.
“Chị xin lỗi, chị không thể để em tự bước vào bồn tắm được. Nếu em trượt chân...” Cô không nói hết, nhưng tôi biết ý cô là gì: một cú đập nữa, thêm vào những gì đã xảy ra với cái đầu của tôi...
Tôi gật đầu, bước chân ra khỏi cái bỉm người lớn gớm guốc (cô y tá đã quăng nó đi trước khi tôi kịp lo lắng xem nó đã dính bẩn hay chưa) và thả áo choàng bệnh nhân xuống sàn, đứng trần truồng run rẩy, mặc cho nhiệt độ trong phòng đang nóng mướt mồ hôi.
Tôi bốc mùi, tôi xấu hổ nhận ra. Tôi bốc mùi sợ hãi, mồ hôi và máu.
Cô y tá cầm tay tôi khi tôi loạng choạng bước chân vào bồn, nắm lấy thanh đỡ để hạ mình xuống làn nước nóng bỏng.
“Nóng quá à?” cô vội nói khi thấy tôi bật ra tiếng xuýt xoa, nhưng tôi lắc đầu. Không quá nóng. Không gì có thể quá nóng được. Nếu có thể khử trùng toàn thân bằng nước sôi thì tôi đã làm rồi.
Cuối cùng tôi cũng ngả lưng ngâm mình trong dòng nước, run rẩy vì gắng sức.
“Liệu em... Em muốn ở một mình, đ-được không ạ?” tôi ấp úng. Cô y tá hít vào một hơi và tôi có thể thấy rằng cô sắp từ chối, và đột nhiên tôi không thể chịu nổi nữa - tôi không thể chịu nổi sự chăm chút, vẻ dịu dàng và cả sự giám sát không ngừng nghỉ của họ. “Xin chị,” tôi nói, giọng gắt gỏng hơn mong muốn. “Vì Chúa, em sẽ không chết đuối trong chưa đầy nửa mét nước đâu.”
“Được rồi,” cô đáp, dù có đôi chút lưỡng lự. “Nhưng đừng tự tiện bước ra đấy nhé... Em phải giật dây để gọi chị vào giúp.”
“Được ạ.” Tôi không muốn thừa nhận thất bại, nhưng trong lòng cũng tự hiểu rằng làm thế là không an toàn.
Cô y tá bước ra, để cửa khép hờ. Tôi nhắm mắt rồi hạ mình xuống làn nước bốc hơi nghi ngút, xua đi sự hiện diện đầy vẻ canh chừng của cô ở bên kia cánh cửa, xua đi mùi và âm thanh bệnh viện cùng tiếng rè rè của bóng đèn huỳnh quang.
Khi nằm trong bồn, tôi lướt tay qua những vết cắt và vệt xước và vết bầm, cảm thấy đất cát và vảy mềm ra, tan vào làn nước bên dưới bàn tay tôi. Tôi cố nhớ xem điều gì đã khiến mình chạy xuyên rừng với hai bàn tay vấy máu. Tôi cố nhớ lại. Nhưng tôi không chắc là mình có thể chịu nổi sự thật.
Sau khi cô y tá giúp tôi bước ra, tôi nhẹ nhàng dùng khăn lau khô mình, nhìn ngắm cơ thể quen thuộc với những vết cắt, vệt xước lạ lẫm. Có những vết rạch ở cẳng chân tôi. Sâu hoắm, lởm chởm vắt ngang xương ống quyển, như thể tôi đã chạy xuyên qua bụi mâm xôi hay dây thép gai vậy. Các vết cắt trên bàn tay và lòng bàn chân do chạy chân trần trên kính, do giơ tay che chắn các mảnh vỡ bay tứ tung.
Cuối cùng tôi bước đến trước gương, lau lớp hơi nước mờ ảo trên kính và nhìn toàn bộ bản thân lần đầu tiên kể từ sau vụ tai nạn.
Tôi chưa bao giờ là kiểu người khiến người khác phải ngoái nhìn - không như Clare, sắc đẹp của cô thật khó mà tảng lờ, hay Nina, không xinh theo kiểu thường thấy, nhưng lại hấp dẫn kiểu rắn chắc tựa nữ chiến binh Amazon.
Nhưng tôi chưa bao giờ là kẻ quái dị. Giờ đây, khi ngó lom lom bản thân trong mặt gương mờ nước, tôi nhận ra nếu gặp mình trên phố tôi sẽ quay đi, vì thương hại hoặc kinh hãi.
Chỗ băng dán cồ cộ trên đầu chẳng làm mọi việc khá khẩm hơn - trông như thể não tôi chỉ đang được vá víu tạm bợ vào hộp sọ - những vết cắt và vệt xước nhỏ hơn trên má và trán tôi cũng thế, nhưng chúng chưa phải tệ nhất. Tệ nhất là đôi mắt - hai vệt bầm màu đồng xỉn nở ra từ sống mũi, những quầng đen chảy tràn khỏi mí mắt dưới rồi nhạt dần thành sắc vàng ủng ở xương gò má. Mắt phải nhìn đến là đặc sắc, bên trái thì đỡ hơn một chút. Trông tôi như thể đã bị đấm vào mặt, liên tục. Nhưng tôi còn sống, trong khi ai đó thì không.
Suy nghĩ đó đã làm động lực cho tôi mặc lại áo choàng bệnh nhân, buộc dây và lê thân ra đối diện với thế giới.
“Đang ngắm đôi mắt bầm hả?” Cô y tá bật cười thoải mái. “Đừng lo, họ đã chụp chiếu hết cả rồi, em không bị vỡ nền sọ. Em chỉ bị đập mặt một lần vào đâu đó thôi. Hoặc đôi lần.”
“N-nền sọ?”
“Một loại chấn thương vùng sọ ấy mà. Ghê lắm. Nhưng họ đã loại trừ khả năng đó rồi, nên đừng lăn tăn. Mắt bầm không hề hiếm gặp khi người ta gặp tai nạn ô tô, nhưng chỉ vài ngày là chúng sẽ biến mất thôi.”
“Em sẵn sàng rồi,” tôi nói. “Để gặp cảnh sát.”
“Em có chắc không cưng? Em không cần phải làm thế đâu.”
“Em sẵn sàng rồi,” tôi nói chắc nịch.
Tôi đã trở lại giường, đang ngồi thẳng lưng, tay cầm cái cốc mà cô y tá bảo là đựng cà phê nhưng - trừ phi chấn thương đầu đã làm hỏng vị giác của tôi - chắc chắn là bịa, thì có tiếng gõ cửa.
Tôi ngước lên, quá nhanh, tim đập dồn. Ở phía ngoài, đang mỉm cười qua ô cửa sổ gắn lưới là một nữ cảnh sát. Chị ta trạc tứ tuần, có lẽ thế, và cực kỳ đẹp, với những đường nét mà ta thường thấy trên sàn catwalk. Tôi có cảm giác thật phi lý, nhưng không biết tại sao. Tại sao sĩ quan cảnh sát không được phép có khuôn mặt của vợ David Bowie?
“M-mời vào,” tôi nói. Đừng lắp bắp. Mẹ kiếp.
“Xin chào,” chị ta mở cửa và bước vào, vẫn mỉm cười. Chị ta có dáng người mảnh khảnh, khung xương như chó săn thỏ của vận động viên chạy đường dài. “Tôi là điều tra viên Lamarr.” Giọng cô ấm và các nguyên âm phát ra tròn vành, rõ nét. “Hôm nay cô cảm thấy thế nào?”
“Khá hơn rồi, cảm ơn chị.” Khá hơn? Khá hơn cái gì? Tôi đang ở trong viện, mặc áo choàng bệnh nhân hở mông và hai mắt thâm đen. Tôi không biết điều gì có thể tệ hơn nữa.
Rồi tôi tự an ủi mình: tôi đã được gỡ hết máy móc và họ không còn bắt tôi đeo bỉm nữa. Có vẻ như họ tin là tôi có thể tự đi tiểu được. Vụ này thì, đúng là khá hơn.
“Tôi đã nói chuyện với các bác sĩ của cô, họ bảo rằng cô có thể trả lời một vài câu hỏi, nhưng nếu cô thấy quá sức thì chúng ta có thể dừng, cô chỉ cần ra hiệu. Vậy ổn chứ?”
Tôi gật đầu và chị ta nói, “Đêm qua... cô có thể cho tôi biết mình nhớ được những gì không?”
“Không gì hết. Tôi không nhớ được gì hết.” Lời nói thốt ra có phần gay gắt và cộc lốc hơn tôi muốn. Tôi thất kinh cảm thấy cơn thổn thức dâng lên đến họng và vội vàng nuốt xuống. Tôi sẽ không khóc! Mẹ nó chứ, tôi là một phụ nữ trưởng thành, không phải đứa trẻ nít bị ngã trầy đầu gối ở sân chơi, đang chờ bố đến dỗ dành.
“Nào, điều đó đâu có đúng,” chị ta nói, nhưng không tỏ ý buộc tội. Tông giọng của chị ta là tông giọng khích lệ dịu dàng của một giáo viên, hoặc một người chị gái. “Bác sĩ Miller kể với tôi rằng cô nhớ khá rõ những sự kiện dẫn tới vụ tai nạn. Sao cô không kể lại từ đầu nhỉ?”
“Từ đầu sao? Chị muốn biết cả những ký ức ám ảnh thời thơ ấu của tôi hay đại loại thế à?”
“Có lẽ.” Chị ta ngồi xuống chân giường, hoàn toàn ngó lơ quy định của bệnh viện. “Nếu chúng có liên quan đến những gì đã xảy ra. Nghe này, tại sao chúng ta không bắt đầu với một vài câu hỏi đơn giản nhỉ, để khởi động? Như tên cô là gì chẳng hạn, được không?”
Tôi bật ra một tiếng cười gượng gạo, nhưng không phải vì lý do chị ta nghĩ. Tên tôi là gì ư? Tôi tưởng tôi biết mình là ai, mình đã trở thành con người như thế nào. Giờ đây, sau cuối tuần vừa rồi, tôi không còn dám chắc nữa.
“Leonora Shaw,” tôi nói. “Nhưng mọi người thường gọi tôi là Nora.”
“Nhất trí thôi, Nora. Cô bao nhiêu tuổi rồi?”
Tôi biết chắc chị ta đã nắm rõ tất cả những thông tin này. Có lẽ đây là một bài kiểm tra, để xem trí nhớ của tôi thật sự tệ đến mức nào.
“Hai sáu.”
“Giờ thì kể tôi nghe, tại sao cô lại có mặt ở đây?”
“Hả, trong bệnh viện sao?”
“Trong bệnh viện, ở Northumberland này, nói chung là thế.”
“Giọng chị không giống người miền Bắc,” tôi nhận xét, dù biết rằng điều đó không liên quan.
“Tôi sinh ra ở Surrey,” chị ta nói. Chị ta trao cho tôi một nụ cười mỉm vẻ đồng lõa, ngụ ý điều này nằm ngoài quy trình, rằng chị ta mới là người đặt câu hỏi, chứ không có nghĩa vụ trả lời. Nhưng đây là thứ để làm tin, làm tin cho cái gì thì tôi chưa rõ. Một cuộc trao đổi: một mẩu thông tin về tôi đổi lấy một mẩu thông tin về chị ta.
Chỉ có điều nó khiến tôi nghe có vẻ tuyệt vọng.
“Vậy thì,” chị ta tiếp tục. “Rốt cuộc tại sao cô lại có mặt ở đây?”
“Là vì...” Tôi đưa tay lên trán. Tôi muốn gãi trán, nhưng đống băng gạc đang chắn đường và tôi sự làm chúng xô lệch. Lớp da bên dưới nóng hổi và ngứa ngáy. “Bọn tôi tham gia kỳ nghỉ cuối tuần chia tay đời độc thân, và cô ấy đã học đại học ở đây. Ý tôi là Clare. Cô dâu tương lai. Nghe này, tôi có thể hỏi chị một câu được không - tôi có phải là nghi phạm không?”
“Nghi phạm?” Giọng nói du dương, ấm áp của chị ta làm từ đó vang lên nghe cứ như tiếng nhạc, biến danh từ lạnh gáy, gai góc đó thành một bài tập luyện thanh hạ tông sol-fa. Rồi chị ta lắc đầu. “Ở giai đoạn điều tra này thì không. Chúng tôi vẫn đang thu thập thông tin, nhưng không loại trừ khả năng nào.”
Dịch ra là: không phải nghi phạm - vẫn chưa.
“Giờ thì kể tôi nghe, cô nhớ được những gì về đêm qua?” Chị ta quay lại chủ đề chính như một cô mèo rất đỗi xinh đẹp, được nuôi nấng tử tế, đang vờn bên ngoài hang chuột.
Vảy đóng dưới lớp băng làm tôi ngứa ngáy. Không sao tập trung được.
“Tôi nhớ...” Tôi chớp mắt và kinh hoàng nhận ra chúng đã ngân ngấn nước. “Tôi nhớ...” Tôi nuốt đánh ực, bấm móng vào lòng bàn tay trầy xước rớm máu, để cơn đau xua đi ký ức về người đàn ông nằm trên sàn lát gỗ màu mật ong, chảy máu ra cánh tay tôi. “Làm ơn, làm ơn nói cho tôi... ai...” Tôi dừng lại. Tôi không thể nói điều đó ra. Tôi không thể.
Tôi thử lại.
“Có phải...”
Từ ngữ nghẹn lại ở họng. Tôi nhắm mắt, đếm đến mười, bấm móng sâu hơn vào những vết cắt ở lòng bàn tay cho đến khi cả cánh tay tôi run bần bật vì đau.
Tôi nghe tiếng thở dài của điều tra viên Lamarr, và khi mở mắt, lần đầu tiên tôi thấy chị ta có vẻ lo lắng.
“Chúng tôi muốn nghe câu chuyện dưới góc nhìn của cô trước khi mọi chuyện rắc rối hơn,” cuối cùng chị ta nói, nhưng gương mặt chị ta đầy vẻ ái ngại, và tôi biết, tôi biết điều chị ta không được phép nói ra là gì.
“Không sao,” tôi gắng gượng nói. Có thứ gì đó đang đứt lìa bên trong tôi, vụn vỡ. “Chị không cần nói với tôi. Ôi C-Chúa ơi...”
Rồi tôi không còn nói được nữa. Nước mắt cứ giàn giụa chảy ra. Đó là điều tôi đã lo sợ.
Đó là điều tôi đã biết.
“Nora...” Tôi nghe giọng Lamarr và tôi lắc đầu. Tuy mắt đã nhắm chặt nhưng tôi vẫn cảm nhận được những giọt lệ đang chảy xuống mũi và làm các vết cắt trên mặt đau nhức nhối. Chị ta khẽ buông ra một âm thanh cảm thông và đứng dậy.
“Tôi sẽ để cô được một mình,” chị ta nói. Tôi nghe tiếng cửa phòng mở ra rồi đóng lại, đung đưa quanh bản lề kép. Tôi chỉ còn một mình. Và tôi khóc, và khóc, và khóc cho đến khi không còn giọt nước mắt nào nữa.