Tôi ngủ dậy trong ánh sáng rực rỡ, trong trẻo và bầu không khí yên tĩnh, chỉ có tiếng ngáy khe khẽ của Nina ở giường bên.
Nhưng khi nằm đó và duỗi người, thầm ước gì hôm qua trước khi đi ngủ mình đã đổ đầy cốc nước, tôi bắt đầu lắng tai nghe kỹ từng mảnh tiếng ồn của khu rừng: tiếng chim hót, một nhành cây gãy, tiếng thịch mà tôi không luận ra được nguồn cơn, tiếp đó là ào ạt những thanh âm nhẹ bẫng như tiếng giấy rơi xuống mặt sàn.
Tôi liếc nhìn điện thoại - 6:48 - vẫn không có sóng - chộp lấy cái áo cardigan rồi đến đứng bên cửa sổ. Khi vén rèm ra, xém chút nữa tôi phải bật cười - đêm qua trời đã đổ tuyết, tuy không nhiều, nhưng cũng đủ để biến đổi cảnh quan bên ngoài thành hình vẽ in trên một tấm bưu thiếp thời Victoria. Đó là âm thanh kỳ lạ mà tôi đã nghe thấy suốt đêm qua. Chỉ cần rời khỏi giường và nhòm qua cửa sổ là tôi đã thấy rồi.
Bầu trời rực rỡ những sắc hồng và lam, từng tầng mây ửng lên màu đào chín nhờ ánh sáng hắt lên từ khoảng trời phía dưới, còn mặt đất là một tấm thảm lốm đốm trắng mịn màng, lấm tấm vết chân chim và lá thông rụng.
Quang cảnh này khiến hai gan bàn chân tôi ngứa ngáy; ngay lập tức và đầy nhức nhối, tôi hiểu rằng mình phải đi chạy.
Đôi giày chạy trên lò sưởi két đầy bùn từ hôm qua, nhưng chúng đã khô, cả chiếc quần bó cũng vậy. Tôi mặc áo giữ nhiệt vào và đội thêm mũ, nhưng tôi nghĩ mình không cần đến áo khoác. Ngay cả khi phải chạy vào một ngày sương giá, cơ thể tôi cũng có thể sản sinh đủ nhiệt để tự giữ ấm, miễn là trời không nổi gió. Khung cảnh ban mai bên ngoài dường như đang ngưng đọng. Không một nhành cây đung đưa, tuyết rơi thuần túy nhờ trọng lực chứ không bị thổi bạt đi vì gió; cành lá trĩu xuống trước sức nặng của tầng tầng lớp lớp tinh thể băng.
Tôi nghe thấy những tiếng ngáy đều đều vang lên từ mỗi phòng ngủ khi nhẹ nhàng bước xuống cầu thang với hai bàn chân đi tất, tới thảm chùi chân ở cửa mới xỏ giày vào, cốt để tránh làm lấm bẩn sàn nhà bà cô của Flo. Thế nhưng ở cửa chính lại có một hàng khóa và chốt trông hết sức ái ngại, vậy nên tôi đành nhón chân đi về phía cửa bếp chỉ có tay cầm và chìa khóa. Chìa xoay trong ổ hết sức trơn tru. Tôi vặn tay cầm.
Tôi chợt nhăn mặt khi kéo cánh cửa mở ra, tự hỏi không biết liệu mình có vừa kích hoạt chuông báo động gì không - nhưng không thấy tiếng còi hụ nào vang lên, thế nên tôi trót lọt bước ra khung cảnh ban mai lạnh giá và bắt đầu khởi động.
Dễ phải đến bốn mươi phút sau tôi mới chầm chậm chạy được về đến đoạn đường rừng gần nhà, hai má ửng lên vì lạnh và gắng sức, hơi thở phả ra như một đám mây trắng trên nền trời biếc xanh. Có tiếng ầm ầm vọng tới từ ngôi nhà, và khi nhìn lên, tôi thấy nồi hơi cấp nhiệt trung tầm đang nhả khói như đầu máy hỏa xa. Ai đó đã tỉnh giấc và đang sử dụng nước nóng.
Khi chạy lại gần, tôi mới nhận ra không những có người đã thức dậy, mà người đó còn vừa mới đi ra ngoài. Có những dấu chân hằn trên tuyết dẫn từ cửa phụ đến gara và ngược lại. Lạ nhỉ. Toàn bộ ô tô đều đỗ ở ngoài trời, ngay mặt trước nhà. Vậy thì làm gì có lý do quỷ quái nào để ai đó đi vào gara?
Nhưng chiếc áo bó ngấm mồ hôi đã bắt đầu khiến tôi cảm thấy lạnh, vì bây giờ tôi không phải gắng sức leo lên đồi nữa, và tôi còn thèm cà phê. Tôi quay người trở về nhà. Dù là ai thì người đó cũng có lý do thôi.
“Xin chào?” tôi cất tiếng khi mở cửa, không muốn nói to để tránh đánh thức những người khác. “Mình đây.”
Ai đó đang ngồi ở bếp, cắm mặt vào màn hình điện thoại. Người ấy ngẩng đầu lên và tôi nhận ra là Melanie.
“Chào em!” chị ta mỉm cười, hai lúm đồng tiền thoắt ẩn thoắt hiện trên má. “Chị cứ tưởng chưa có ai dậy. Ngoài trời toàn tuyết vậy mà em vẫn đi chạy ấy hả? Khùng thật đấy!”
“Cảnh đẹp lắm ạ.” Tôi giậm chân để giũ tuyết khỏi giày chạy ở thảm phía ngoài nhà rồi cởi giày ra, cầm dây buộc nhấc chúng lên. “Mấy giờ rồi chị?”
“Bảy rưỡi. Chị mới dậy được khoảng hai mươi phút. Mỉa mai thiệt chứ - cơ hội duy nhất để ngủ nướng mà không bị Ben quấy rầy, vậy mà chị lại ở đây, chẳng tài nào ngủ được.”
“Nó đã thành nhịp sinh học rồi chị ạ,” tôi đáp và chị ta thở dài.
“Chuẩn không cần chỉnh. Uống trà không em?”
“Em thích cà phê hơn, nếu chị đã pha sẵn.” Tôi muộn màng nhớ ra lời xin lỗi của Flo. “Chết tiệt, ở đây không có cà phê nhỉ?”
“Đúng vậy. Chị đang vật muốn chết dây. Ở nhà chị cũng là con nghiện cà phê. Từng mê mẩn trà hồi đại học, nhưng đã bị Bill cải đạo. Nãy giờ chị cố uống nhiều trà nhất có thể để bù đắp lượng caffein còn thiếu, nhưng chị đồ rằng bàng quang của mình không chịu nổi.”
Thôi thì, ít ra trà cũng nóng và nhiều nước.
“Vậy trà cũng được ạ. Chị có phiền không nếu em phi lên nhà tắm ù một cái và thay quần áo? Hôm qua em cũng mặc bộ này đi chạy nên giờ chắc nó bốc mùi lắm rồi.”
“Không hề gì. Chị cũng đang làm bánh mì nướng. Đồ ăn thức uống sẽ sẵn sàng khi em quay lại.”
•••
Mười phút sau, khi tôi xuống nhà, cả không gian ngào ngạt mùi bánh mì nướng, còn Melanie đang ngân nga giai điệu “the wheels on the bus”.
“Này,” chị ta lên tiếng khi thấy tôi đang vừa lấy khăn tắm lau tóc vừa đi vào bếp. “Ở đây có xốt Marmite, mứt cam hoặc mứt dâu.”
“Cho em xốt Marmite ạ.”
Melanie phết xốt lên mặt bánh, đẩy chiếc đĩa về phía tôi rồi lại lén liếc qua màn hình điện thoại của chị ta đang đặt trên mặt quầy. Tôi cắn một miếng bánh và hỏi, “Vẫn không có sóng ạ?”
“Không có.” Nụ cười giữ kẽ của Melanie tan biến. “Chị bắt đầu thật sự sốt ruột rồi. Thằng bé mới được sáu tháng, và từ hồi bọn chị cho nó ăn dặm thì nó hơi quấy. Chỉ là... chị biết bọn em nghe hoài cũng chán, nhưng chị ghét việc phải rời xa thằng bé.”
“Em hiểu mà,” tôi bày tỏ sự đồng cảm, dù trong thực tế tôi làm sao mà hiểu được. Nhưng cảm giác nhớ nhà thì tôi có thể thông cảm được, và cảm giác ấy hẳn sẽ mãnh liệt gấp nhiều lần nếu có một sinh linh bé bỏng đang đợi ta trở về. “Chị kể em nghe về thằng bé được không?” tôi hỏi hòng động viên Melanie.
“Ôi, nó đáng yêu lắm!” Nụ cười của chị ta đã trở lại, lần này có sức thuyết phục hơn chút đỉnh và chị ta cầm điện thoại lên, bắt đầu lướt qua thư mục ảnh. “Nhìn này, đây là ảnh chụp nó hồi mới mọc răng.”
Tôi trông thấy một tấm ảnh mờ nhòe chụp khuôn mặt tròn như trăng rằm của một đứa bé với chiếc răng gần như không tồn tại, nhưng Melanie đã lướt ngón tay để tìm ảnh khác. Tay chị ta lướt qua một tấm trông có vẻ lột tả chính xác một vụ nổ trong nhà máy mù tạt Colman’s và chị ta nhăn mặt.
“Chúa ơi, xin lỗi vì đã để em nhìn thấy cảnh đó.”
“Chuyện gì vậy ạ?”
“Chả hiểu Ben rặn ị thế nào mà bắn tung tóe hết cả lên tóc. Chị chụp ảnh để gửi cho Bill xem lúc anh ấy ở cơ quan.”
“Bill và Ben[1] ư?”
“Chị biết,” chị ta bật cười vẻ ngái ngủ. “Bọn chị bắt đầu gọi đùa nó là Ben từ khi thằng bé còn ở trong bụng mẹ, rồi chẳng hiểu sao cái tên ấy dính chặt lấy nó sau khi ra đời luôn. Chị cũng thấy hơi áy náy, nhưng rồi lại nghĩ rằng cuộc đời thằng bé cũng chẳng có mấy khi bị đặt cạnh tên bố mình đâu. Ôi, nhìn tấm này này - lần đầu Ben đi bơi đấy!”
Bức này thì rõ nét hơn - chụp một khuôn mặt bé con đang hoảng hốt dưới làn nước bể bơi xanh biếc, cái miệng màu đỏ giận dữ như thể đang thốt ra một tiếng “Ôi!” đầy phẫn nộ.
“Trông thằng bé đáng yêu thật,” tôi nhận xét, cố giấu vẻ thòm thèm. Có trời cao chứng giám, tôi không hề muốn có con, nhưng việc nhìn thấy một gia đình hạnh phúc của ai đó khác không khỏi dấy lên trong ta cảm giác thiếu vắng, ngay cả khi ta không cố tình.
“Chứ còn gì nữa,” Melanie đáp, vẻ mặt đã thư giãn hơn. “Chị thấy mình rất may mắn.” Chị ta chạm vào cây thánh giá đeo trên cổ, gần như trong vô thức, rồi thở dài. “Chị chỉ ước rằng ở đây có sóng điện thoại. Chị đã thật sự tưởng mình đã sẵn sàng rời xa thằng bé, nhưng giờ đây mới thấy, hai đêm liền là quá sức chịu đựng, chị cứ nghĩ quẩn rằng lỡ có chuyện gì không hay xảy ra mà Bill không liên lạc được với chị thì sao?”
“Anh ấy có số điện thoại bàn ở đây rồi đúng không?” Tôi cắn một miếng bánh mì nướng phết xốt Marmite. Melanie gật đầu.
“Ừ. Thực ra thì,” chị ta lại kiểm tra giờ trên màn hình điện thoại, “chị đã hứa sáng nay sẽ gọi điện cho anh ấy. Anh ấy lo rằng nếu gọi sớm thì sẽ đánh thức mọi người dậy. Em có phiền không nếu...”
“Hoàn toàn không ạ,” tôi đáp. Chị ta đứng dậy, tráng cốc rồi úp nó lên quầy.
“À, nhân tiện,” tôi chợt nhớ ra khi chị ta đang dợm bước về phía cửa. “Em đã định hỏi từ nãy, có phải chị vừa đi ra chỗ gara không?”
“Không?” Trông chị ta rất đỗi ngạc nhiên, ngữ điệu ngụ ý đây là câu hỏi thay vì câu trả lời. “Sao thế? Cửa gara mở à?”
“Em không biết, em chưa thử mở cửa. Nhưng có dấu chân dẫn ra đó.”
“Quái nhỉ. Không phải chị.”
“Kỳ lạ hết sức.” Tôi cắn thêm một miếng bánh và trầm ngâm nhai. Những dấu chân đều rõ nét, vậy nên chúng phải xuất hiện sau khi tuyết ngừng rơi. “Chị có nghĩ là...” tôi nói, nhưng lại đột ngột dừng lời.
“Gì cơ?”
Tôi chưa kịp nghĩ cho thông suốt trước khi nói, và giờ đây, khi đã tận tai nghe thấy những từ mình vừa thốt ra, tôi cảm thấy một sự ái ngại kỳ quái khi phải nói nốt.
“Thì... em đã đoán rằng có ai đó đi từ trong nhà ra chỗ gara rồi quay lại. Nhưng cũng có thể là ngược lại lắm chứ.”
“Hả... ý em là có ai rình mò quanh đây á? Các dấu chân có dẫn đến tận cửa gara không?”
“Em không thấy có. Nhưng gara ở gần rừng, mà em nghĩ mặt đất chỗ đó không dễ lưu lại dấu chân - tuyết ở đó không rơi đều.”
Ngoài ra, mặc dù không nói thành lời, nhưng dẫu có dấu chân trên đường rừng đi chăng nữa, cuốc chạy buổi sáng của tôi hẳn cũng đã xóa sạch hoàn toàn vết tích.
“Thôi bỏ đi,” tôi nói, cả quyết cầm cốc trà lên. “Cứ lo lắng thì ngớ ngẩn quá. Chắc là Flo ra ngoài lấy đồ thôi.”
“Ừ, em nói đúng đó.” Melanie đáp.
Chị ta nhún vai rồi rời khỏi phòng và một phút sau tôi nghe thấy tiếng “keng” của ống nghe rời khỏi giá đỡ. Nhưng tiếp đó, thay vì tiếng quay số lại là một loạt những tiếng “keng, keng, keng” lặp đi lặp lại và cuối cùng là cú dộng ống nghe xuống thật lực.
“Tôi đến phát điên lên mất, đường dây điện thoại bàn đi đứt rồi! Thật sự đấy, đây là giọt nước tràn ly. Lỡ Ben mà gặp chuyện gì thì sao?”
“Khoan đã.” Tôi đặt đĩa vào bồn rửa và đi theo chị ta trở ra phòng khách. “Để em thử xem. Lỡ đâu là do số của anh ấy.”
“Không phải.” Chị ta đưa ống nghe cho tôi. “Đường dây hư rồi. Nghe mà xem.”
Chị ta nói đúng. Không còn tín hiệu, đường dây chết ngắc, chỉ còn vọng tiếng lách cách loáng thoáng xa xăm.
“Hẳn là do tuyết.” Tôi nhớ lại những cành cây trong rừng trĩu xuống vì sức nặng của tuyết. “Chắc nó làm gãy cành cây và làm đứt đường dây điện thoại. Thợ sẽ sửa lại thôi, em nghĩ thế, nhưng...”
“Nhưng khi nào?” Melanie cắt lời. Mặt chị ta đỏ gay và buồn bực, hai mắt ngân ngấn nước. “Chị không muốn làm to chuyện hay khiến Clare khó xử, nhưng đây là lần đầu tiên chị xa con và phải nói thật, chị thấy cuối tuần này như hạch. Chị biết đáng ra chị phải ‘Ồ dê! Quẩy đi các chị em!’ nhưng chị không muốn tiếp tục nữa - không nhậu nhẹt, không phí thời giờ chơi mấy trò ngớ ngẩn. Chị đếch quan tâm ai xoạc ai. Chị chỉ muốn về nhà ôm Ben thôi. Em muốn biết lý do thực sự khiến chị dậy sớm không? Là bởi ngực chị căng cứng toàn sữa, đau quá mới phải dậy mà sữa còn chảy tràn mẹ hết cả ra giường.” Bây giờ thì chị ta đang thực sự nước mắt ngắn nước mắt dài, lại còn sụt sịt nữa. “Chị phải d-dậy để vắt sữa ra bồn rửa mặt. Và giờ thì q-quá lắm rồi, chị kh-kh-không tài nào biết được hai bố con nó có ổn không. Chị không muốn ở lại đây nữa.”
Tôi bặm môi nhìn chị ta chằm chằm. Một phần trong tôi muốn ôm lấy Melanie, phần còn lại chỉ muốn tránh thật xa khỏi gương mặt lòng thòng nước mắt nước mũi kia.
“Chị này,” tôi gượng gạo lên tiếng. “Nào, nghe em nói này... nếu chị đang cảm thấy như hạch thì...”
Nhưng tôi ngừng lại. Chị ta đang không lắng nghe. Chị ta cũng đang không nhìn vào tôi, mà nhìn ra trảng rừng phủ tuyết phía bên ngoài cửa sổ, cần nhắc điều gì đó trong đầu, hơi thở chậm đi vì cơn nức nở đã dịu lại.
“Chị Melanie?” cuối cùng tôi đánh bạo gọi.
Chị ta quay sang nhìn tôi và lấy ống tay áo choàng ngủ lau mắt.
“Chị sẽ về,” chị ta nói.
Đột ngột đến mức tôi không thốt nên lời.
“Flo sẽ giết chị mất, nhưng chị không quan tâm. Clare chẳng để bụng đâu. Chị không nghĩ cô ấy thèm tổ chức tiệc chia tay đời độc thân nữa kìa, tất cả chỉ là nỗi ám ảnh kỳ quái của Flo về việc trở thành cô bạn tuyệt nhất quả đất. Em có nghĩ là xe chị chạy được trên lối xe vào không?”
“Được ạ,” tôi đáp, “lớp tuyết mỏng thôi, nhưng mà, còn Tom thì sao? Chẳng phải chị đã cho anh ta đi nhờ tới đây à?”
“Chỉ từ Newcastle thôi.” Chị ta lại lau mặt. Do đã quyết định nên trông chị ta bình tĩnh hẳn. “Chị đoán Clare hoặc Nina hoặc ai đó có thể đưa cậu ấy về. Chẳng phải chuyện gì to tát.”
“Em đoán vậy.” Tôi bặm môi, mường tượng ra phản ứng của Flo với tất cả chuyện này. “Nghe này, chị có chắc là không muốn ở lại thêm chút nào không? Họ sẽ sửa đường dây điện thoại sớm thôi, em đoan chắc đấy. Có lẽ thật tiếc nếu chị bỏ lỡ phần còn lại của dịp chia tay đời độc thân này.”
“Không. Chị đã quyết rồi, chị sẽ về ngay bây giờ. Ý chị là, chị sẽ đợi đến khi Flo thức dậy, nhưng bây giờ chị sẽ đi lên nhà xếp đồ. Ôi! Nhẹ nhõm làm sao.” Bỗng Melanie nhoẻn miệng cười, khuôn mặt mới đây còn sầm sì giờ đã rạng rỡ hẳn, hai lúm đồng tiền cũng xuất hiện trở lại. “Cảm ơn em vì đã lắng nghe. Chị xin lỗi vì vừa rồi có mất bình tĩnh tí chút, nhưng em đã làm chị tỉnh ra. Em nói đúng - nếu chị đang cảm thấy như hạch thì việc gì phải ở lại? Clare đâu có muốn thấy chị dẫu khổ sở mà vẫn phải nghiến răng chịu đựng.”
Tôi nhìn Melanie chậm rãi đi lên lầu, hẳn là để thu dọn đồ đạc, và cân nhắc những từ cuối cùng chị ta vừa nói.
Việc gì phải ở lại? Tôi chợt nhận ra mình không muốn chị ta bỏ về. Không phải vì tôi yêu mến gì Melanie. Chúng tôi chưa thân nhau đến mức ấy - dù cho chị ta có vẻ hoàn toàn tốt tính. Mà là bởi chính tôi cũng đã tơ tưởng đến việc tháo chạy. Và việc có một người ra về sẽ khiến điều đó khó trở thành hiện thực hơn rất nhiều - sẽ xuất hiện thêm những áp lực nhỏ cho mỗi người ở lại để bù đắp phần nào sự vắng mặt của Melanie.
Không có xe, cũng không có cái cớ là em bé đang đợi ở nhà, tôi biết lấy lý do gì ra để không bị quy kết là ghen ăn tức ở vì không có được James, bởi sự thật giản đơn rằng người phụ nữ tốt hơn đã chiến thắng và giành được bạn trai cũ của tôi?
Cứ tưởng lâu nay tôi đã dừng bận tâm xem Clare Cavendish nghĩ gì về mình.
Khi thong thả bước trở lại bếp, tôi mới chợt nhận ra rằng mình đã lầm.
❀ ❀ ❀
[1] Tên hai nhân vật chính trên chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi của Anh, Flower Pot Men (1952-1953).