Đêm hôm đó tôi ngủ say như chết - mặc cho tiếng ồn và tiếng máy móc ngoài hành lang bíp bíp cùng ánh đèn chướng mắt. Các y tá dã ngừng vào kiểm tra tôi mỗi hai tiếng một lần, và tôi ngủ... và ngủ... và ngủ.
Khi tỉnh dậy, tôi bị mất phương hướng - tôi đang ở đâu? Hôm nay là thứ mấy? Tôi nhìn quanh tìm điện thoại theo phản xạ.
Nó không có ở đây. Chỉ thấy một cốc nhựa đựng nước.
Và rồi sức nặng của hiện thực giáng một đòn nặng nề vào gáy tôi.
Hôm nay là thứ Hai.
Tôi đang ở trong bệnh viện, đâu đó ở Northumberland.
James đã chết.
“Dậy thôi, dậy thôi nào,” một cô y tá mới nói khi nhanh nhẹn bước vào và dùng con mắt lành nghề đọc lướt qua phiếu khám của tôi. “Vài phút nữa chị sẽ mang bữa sáng vào cho em.”
Tôi vẫn đang mặc áo choàng bệnh nhân, và khi cô ta toan bước ra, tôi nhận thấy mình gọi với theo, “Chờ đã!”
Cô ta xoay người, nhướn một bên lông mày, rõ ràng đang bận kiểm tra các bệnh nhân khác nên chẳng có tâm trạng dừng lại.
“Em x-xin lỗi,” tôi lắp bắp. “Em chỉ đang thắc mắc là, 1-liệu em có được phép mặc quần áo không? Em muốn mặc quần áo của mình. Và điện thoại của em nữa, nếu được ạ.”
“Em phải nhờ người thân mang vào giúp thôi,” cô ta nhanh nhảu đáp. “Bọn chị có phải dịch vụ đưa tin đâu em.” Thế rồi cô ta bỏ đi, cánh cửa đung đưa phía sau.
Vậy là cô ấy không biết. Về tôi. Về chuyện đã xảy ra. Và tôi chợt nhận ra, chắc hẳn bây giờ ngôi nhà đã bị coi là hiện trường án mạng. Không thể nào có chuyện Nina, Clare và những người khác vẫn còn đang ở đó, nhón chân đi vòng quanh vũng máu đang đông lại của James. Chắc hẳn họ đã về nhà - hoặc được chuyển sang một chỗ nghỉ khác. Tôi sẽ phải hỏi Lamarr khi chị ta quay lại vậy. Nếu chị ta quay lại.
Lần đầu tiên tôi nhận ra mình đang lệ thuộc vào cảnh sát đến mức nào. Họ là mối liên hệ duy nhất của tôi với thế giới bên ngoài.
Tầm mười một giờ sáng, có tiếng gõ cửa. Tôi đang đọc cuốn sách một y tá lấy cho từ tủ đồ quyên góp. Tôi đã bảo rằng mình đọc gì cũng được, trừ truyện hình sự. Một phần là tôi không muốn mượn phải một trong những tác phẩm của mình - tôi không bao giờ đọc lại sau khi chúng đã được phát hành, đừng nói là ngay thời điểm này - và một phần là bây giờ tôi không nuốt nổi mấy tình tiết súng ống hay chết chóc hoặc đau buồn. Cô ta quay lại với cuốn Flowers in the Attic mà tôi đã từng đọc hồi còn thiếu niên và ngay từ hồi đó đã thấy nó chả ra cái gì.
Khi tiếng gõ cửa vang lên, tôi nhẹ cả lòng vì đã được kéo ra khỏi thế giới Gothic miền Nam Hoa Kỳ, nhưng phải mất cả phút tôi mới nhận ra khuôn mặt của Lamarr hiện ra ở ô cửa sổ gắn lưới.
Chị ta cầm cốc giấy bước vào.
“Cà phê chứ?”
“Ôi, cảm ơn chị,” tôi cố không tỏ ra thèm thuồng, gắng không giật cái cốc từ tay chị ta, nhưng những thứ nhỏ nhặt thế này mới thật tuyệt vời làm sao ở trong môi trường công cộng của bệnh viện. Cầm cốc lên, tôi biết nó còn quá nóng chưa uống được, vậy nên tôi ủ nó trong tay trong khi sắp xếp các câu từ trong đầu, còn Lamarr chuyện trò về tiết trời mùa đông đẹp lạ thường và tuyết rơi dày suốt cuối tuần trên các con đường đã được dọn đi. Cuối cùng chị ta tạm ngừng lời và tôi nắm lấy cơ hội.
“Hạ sĩ...”
“Sĩ quan thôi.”
“Tôi xin lỗi.” Tôi phát bực với bản thân vì đã nhầm lẫn và cố không đỏ mặt. “Nghe này, tôi đang thắc mắc không biết Clare sao rồi?”
“Clare ư?” Chị ta rướn người về phía trước. “Cô nhớ được gì à?”
“Hả?”
“Cô đã bắt đầu nhớ được chuyện đã xảy ra sau khi cô rời khỏi nhà à?”
“Hả?”
Chúng tôi chằm chằm nhìn nhau một lúc, rồi cô ấy buồn bã lắc đầu.
“Tôi xin lỗi. Tôi cứ tưởng cô hỏi thế nghĩa là...”
“Ý chị là sao? Clare đã gặp chuyện gì à?”
“Nói tôi nghe cô nhớ được gì nào,” chị ta nói, nhưng cả phút trôi qua tôi vẫn chẳng nói gì, chỉ cố đọc bộ mặt xinh đẹp, kín bưng của chị ta. Mắt chị ta nhìn thẳng vào mắt tôi, nhưng tôi không luận ra được gì hết. Chị ta vẫn còn giấu tôi điều gì đó.
“Tôi nhớ là...” tôi nói chậm rãi. “Tôi nhớ mình chạy xuyên qua rừng... có ánh đèn pha và kính vỡ... rồi sau vụ tai nạn, tôi nhớ mình loạng choạng, rơi mất một chiếc giày, nhiều mảnh kính vỡ trên đường.” Ký ức đang quay lại ngay trong lúc tôi nói, một đường hầm sà thấp được tạo nên từ những cành cây trụi lá, bợt bạt trong ánh đèn pha, những bước chạy như lết của tôi khi cố giơ tay ra hiệu cho ai đó dừng lại - ai cũng được - ai đó dừng lại để giúp. Có một chiếc xe van, di chuyển uốn lượn theo con đường, ánh đèn pha xé toạc màn đêm. Tôi đứng đó, điên cuồng vẫy tay, nước mắt đầm đìa trên mặt, và tôi đã nghĩ rằng anh ta sẽ không dừng lại, tôi đã nghĩ rằng anh ta sẽ cán qua mình. Nhưng anh ta không làm thế... anh ta phanh gấp, mặt tái xanh khi hạ cửa kính xe xuống. Cái quái gì vậy? anh ta nói, Cô vừa mới... ? câu hỏi bỏ lửng ở đó.
“Nhưng chỉ có thế thôi. Còn khúc giữa, lộn xộn quá... như kiểu các hình ảnh cứ rung lắc và có một khoảng trắng ở giữa. Nghe này, Clare đã gặp chuyện gì sao? Cô ấy không...”
Ôi Chúa ơi.
Ôi Chúa ơi. Không thể nào.
Tôi cảm thấy ngón tay mình đang co quắp lại trên lớp ga giường, các móng tay bị cắn lởm chởm bấm sâu tới mức khiến ngón tay đau điếng.
Cô ấy chết rồi chăng?
“Cô ấy ổn,” Lamarr nói chậm rãi, cẩn trọng. “Nhưng cô ấy cũng gặp tai nạn, cùng với cô.”
“Cô ấy có ổn không? Tôi gặp cô ấy được chứ?”
“Không. Tôi rất tiếc. Chúng tôi chưa kịp thẩm vấn cô ấy. Chúng tôi cần được nghe phiên bản của cô ấy trước khi...”
Lamarr bỏ lửng câu nói. Tôi biết ý chị ta là gì. Chị ta muốn sự thật từ tôi, và cả sự thật từ phía Clare - riêng biệt, để họ có thể so sánh các câu chuyện của chúng tôi.
Tôi lại cảm thấy cảm giác ruột gan quặn thắt tới rùng mình. Tôi có phải nghi phạm không? Làm sao để biết được mà không tỏ ra đáng nghi?
“Cô ấy vẫn chưa sẵn sàng để được thẩm vấn,” cuối cùng Lamarr nói.
“Cô ấy đã biết tin về James chưa?”
“Tôi tin là chưa.” Giọng Lamarr có vẻ cảm thông. “Cô ấy chưa đủ khỏe để tiếp nhận tin này.”
Không biết tại sao nhưng chính câu nói này lại khiến tôi lo ngại hơn tất thảy những gì Lamarr nói ngày hôm nay. Tôi không kham nổi ý nghĩ rằng Clare đang nằm đâu đó ở trong chính bệnh viện này mà không hề hay biết rằng James đã qua đời.
Có phải cô đang tự hỏi tại sao anh còn chưa đến? Hay cô yếu đến mức không đủ sức làm điều đó?
“Cô ấy sẽ ổn chứ?” Giọng tôi run rẩy vỡ òa ở hai từ cuối cùng và tôi phải tu một ngụm cà phê nóng rẫy hòng giấu đi vẻ đau buồn.
“Bác sĩ bảo cô ấy sẽ hồi phục, nhưng chúng tôi vẫn đang đợi gia đình cô ấy đến, rồi họ sẽ xem xét tình hình và quyết định xem liệu Clare đã đủ ổn định để đón nhận tin xấu hay chưa. Tôi xin lỗi... Tôi ước gì mình có thể tiết lộ cho cô nhiều hơn, nhưng tôi không đủ thẩm quyền để bàn luận về tình trạng sức khỏe của cô ấy.”
“Vâng, tôi hiểu,” tôi đáp lúng túng. Cơn nức nở đang bị tôi chặn lại ở họng, khiến đầu tôi đau điếng và mắt tôi rưng rưng trong khi tôi bực bội cố chớp mắt để xua những giọt lệ. “Nina thì sao,” cuối cùng tôi cũng nói được. “Tôi có thể gặp cô ấy không?”
“Chúng tôi vẫn đang lấy lời khai từ những thành viên khác trong ngôi nhà. Nhưng ngay khi quá trình đó kết thúc, tôi cho rằng cô ấy sẽ được phép ghé thăm.”
“Hôm nay sao?”
“Phải, hy vọng là hôm nay. Nhưng việc cô nhớ lại những gì xảy ra sau khi rời khỏi ngôi nhà sẽ cực kỳ, cực kỳ hữu ích. Chúng tôi muốn nghe phiên bản của chính cô chứ không phải của ai khác, và chúng tôi lo rằng việc cô nói chuyện với những người còn lại có thể sẽ... khiến mọi thứ trở nên rối rắm.”
Tôi không đoán được chị ta nói vậy là có ý gì. Chị ta lo rằng tôi đang chờ đợi, giả vờ mất trí nhớ để có thể thống nhất câu chuyện với người nào khác hay sao? Hay chỉ đơn giản là chị ta nghi ngại tôi sẽ vô thức cấy lời tường thuật của một ai đó vào khoảng hổng trong ký ức mình?
Tôi biết việc ấy diễn ra dễ dàng như thế nào - hàng năm trời tôi đã “nhớ” về cái lần mình được cưỡi lừa trong một kỳ nghỉ thời thơ ấu. Bức ảnh chụp tôi trong tư thế ấy đặt trên bệ lò sưởi, trong ảnh tôi mới chỉ ba hay bốn tuổi, bóng đen của tôi và con lừa đứng trước cảnh hoàng hôn, chỉ là hai cái bóng mờ với vầng hào quang của mặt trời sắp lặn quanh mái tóc. Nhưng tôi có thể nhớ được làn gió đượm hương muối phả lên mặt, ánh sáng mặt trời lung linh trên những con sóng, và cảm giác được tấm chăn thô ráp giữa hai bên đùi. Phải đến lúc tôi lên mười lăm thì mẹ mới tiết lộ rằng đó không phải tôi, mà là người chị họ Rachel. Thậm chí tôi còn không tham gia chuyến đi đó.
Vậy họ muốn gì? Nôn ký ức ra đây rồi bọn tôi sẽ cho cô nói chuyện với bạn bè?
“Tôi đang cố nhớ,” tôi chua chát nói. “Tin tôi đi, tôi còn muốn nhớ lại hơn chị chứ. Chị không cần dứ dứ Nina trước mặt tôi như dùng cà rốt nhử thỏ thế đâu.”
“Không phải vậy,” Lamarr nói. “Chúng tôi chỉ muốn nghe lời tường thuật từ phía cô. Tôi xin hứa rằng đây không phải một kiểu hình phạt hay gì đâu.”
“Nếu không được gặp Nina, thì ít nhất liệu tôi có thể nhận lại quần áo của mình được không? Cả điện thoại của tôi nữa?” Nếu đã bắt đầu lo đến điện thoại thì chắc hẳn tôi đã khá hơn rồi. Cứ nghĩ đến hàng đống tin nhắn và thư điện tử dồn ứ đó xem... mà không có cách nào để trả lời chúng. Hôm nay là thứ Hai. Ngày làm việc. Biên tập viên của tôi hẳn đã liên lạc để hỏi về bản thảo mới. Còn mẹ nữa - mẹ đã cố gọi cho tôi phải không? “Tôi thật sự cần lấy lại điện thoại,” tôi nói. “Tôi hứa sẽ không liên lạc với bất cứ ai trong ngôi nhà đó, nếu đó là điều làm chị lo lắng.”
“À,” chị ta đáp, và có vẻ gì đó trên mặt chị ta, một vẻ dè chừng. “Ừm, thật ra đó là một trong những điều chúng tôi muốn hỏi cô. Chúng tôi muốn xem qua điện thoại của cô, nếu cô không phiền.”
“Tôi không phiền. Nhưng liệu tôi có thể nhận lại nó sau đó không?”
“Được, nhưng chúng tôi không xác định được nó đang ở đâu.”
Câu trả lời làm tôi chột dạ. Nếu họ không giữ điện thoại của tôi, thì nó đang ở đâu?
“Cô có cầm theo nó khi rời khỏi nhà không?” Lamarr hỏi.
Tôi cố nhớ lại. Chắc chắn là không. Thật tình thì tôi nhớ cả ngày hôm đó mình không hề nhìn thấy điện thoại.
“Tôi tưởng nó ở trong xe Clare,” cuối cùng tôi nói. “Tôi nghĩ mình đã bỏ quên nó khi cả hội đi bắn bồ câu đất nung.”
Lamarr lắc đầu.
“Chúng tôi đã khám xe từ trong ra ngoài. Chắc chắn điện thoại của cô không có ở trong. Chúng tôi cũng đã lục soát gần như toàn bộ căn nhà.”
“Ở trường bắn thì sao?”
“Chúng tôi sẽ thử kiểm tra xem” - chị ta viết ghi chú vào sổ - “nhưng chúng tôi đã thử gọi mà không thấy ai nhấc máy. Nếu cô bỏ quên điện thoại ở trường bắn thì tôi đoán phải có người nghe thấy tiếng chuông chứ?”
“Nó vẫn đổ chuông hả?” Tôi thấy ngạc nhiên là điện thoại vẫn còn pin. Tôi không nhớ nổi lần gần nhất mình cắm sạc là bao giờ. “Khoan đã, ý chị là chị đã thử gọi vào số điện thoại của tôi ư? Làm sao chị biết số mà gọi?”
“Bọn tôi lấy số cô từ bác sĩ da Souza,” chị ta đáp gọn. Phải mất một lúc tôi mới vỡ lẽ ra chị ta đang nói về Nina.
“Chị chắc chắn là nó đã đổ chuông chứ?” tôi nói chậm rãi. “Không chuyển thẳng sang hộp thư thoại sao?”
“Tôi...” chị ta ngừng lời, và tôi có thể thấy rằng chị ta đang cố nhớ. “Tôi phải kiểm tra lại đã, nhưng đúng vậy, tôi khá chắc rằng nó đã đổ chuông.”
“Chà, nếu điện thoại đổ chuông thì chị sẽ không tìm thấy nó trong nhà đâu. Ở đó không có sóng.”
Lamarr chau mày mất một lúc, một vệt hằn hiện lên giữa hai đường chân mày thanh nhã hoàn hảo của chị. Rồi chị ta lắc đầu.
“Hừm, bọn tôi đã giao cho bên kỹ thuật lo vụ đó rồi nên chắc chắn họ sẽ xác định được vị trí ước tính thôi. Tôi sẽ báo cho cô ngay khi chúng tôi tìm thấy nó.”
“Cảm ơn chị,” tôi nói, nhưng không thốt ra câu hỏi đang ong ong trong đầu: tại sao họ lại muốn có điện thoại của tôi?
Đây là lý do tại sao tôi biết mình đang hồi phục dần.
Các y tá không còn vào kiểm tra tôi mỗi hai tiếng một lần.
Tôi đói ngấu - suy nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu khi tôi nhìn chỗ đồ ăn trưa được mang vào vài tiếng trước là có thế thôi hả? Giống như khi bạn nhận được phần ăn size trẻ em trên máy bay và nhủ thầm, ai lại đi gọi một muỗng khoai nghiền và cái xúc xích cỡ ngón tay út là bữa ăn cơ chứ? Chỉ đáng sánh ngang với đồ ăn vặt trong một quán bar hạng sang giả hiệu.
Tôi thấy chán. Chúa ơi, tôi chán. Giờ đây khi không còn ngủ nhiều như trước nữa, tôi chẳng có gì để làm. Không điện thoại. Không laptop. Tôi có thể viết, nhưng không được dùng laptop để mở bản thảo đang thực hiện dở thì chịu. Tôi chỉ ngồi đó, lắng nghe giọng của người dẫn chương trình Săn món hời vẳng sang từ phòng bên, nơi bệnh nhân hàng xóm của tôi đã bị một kiểu chấn thương đầu nào đó khiến cô ta miễn nhiễm với mức âm lượng quá 20 trên điều khiển vô tuyến. Giờ thì tôi biết nhiều quá mức cần thiết về đồ nội thất phỏng theo phong cách của Nữ hoàng Anne.
Tôi đang bắt đầu thấy khó ở (vì lý do như trên).
Và trên hết, tôi sợ.
Khi ốm yếu, bạn sẽ trải qua một kiểu hiệu ứng tập trung. Tôi đã nhìn thấy điều đó ở ông mình, khi ông sắp qua đời. Bạn đừng để ý đến những thứ lớn lao. Thế giới của bạn thu rút lại còn những mối bận tâm vô cùng nhỏ nhặt: dây áo ngủ cọ vào xương sườn khiến bạn khó chịu, cơn đau âm ỉ trong cột sống; cảm giác tay trong tay.
Chính sự thu hẹp đó cho phép bạn tiếp tục chống chọi, tôi nghĩ vậy. Thế giới rộng lớn không còn quan trọng nữa. Bạn càng ốm, thế giới đối với bạn càng thu nhỏ, thu nhỏ đến khi điều duy nhất có ý nghĩa với bạn là làm sao để tiếp tục thở.
Nhưng tôi đang trải qua quá trình ngược lại. Khi được đưa vào đây, tất cả những gì tôi quan tâm là làm sao để không chết. Rồi hôm qua tôi chỉ muốn được yên thân để ngủ và liếm láp vết thương.
Bây giờ, hôm nay, tôi bắt đầu lo lắng.
Tôi không phải nghi phạm chính thức; kiến thức thu thập được từ sự nghiệp viết truyện trinh thám đủ cho tôi hiểu rằng Lamarr phải thẩm vấn tôi một cách cẩn trọng hơn nếu điều ngược lại là sự thật, đề nghị tôi gọi luật sư, đọc tôi nghe các quyền của mình.
Nhưng họ chỉ đang vờn quanh, lùng tìm điều gì đó. Họ không cho rằng cái chết của James là một tai nạn.
Tôi nhớ lại những lời len lỏi được qua lớp kính cửa dày vào đêm hôm qua, Mẹ kiếp, vậy là giờ chúng ta phải giải quyết một vụ án mạng à?
Lúc ấy câu nói có vẻ gây sốc nhưng phi thực - chỉ là một phần của tình trạng mê man vì morphin mà tôi đương trải qua. Giờ thì nó dường như thật đến không tưởng.