Khoảng nửa tiếng sau có một tiếng gõ cửa khác, gấp gáp hơn vang lên và liền sau đó một cô y tá xộc vào. Những tưởng đã đến giờ ăn tối, bụng tôi ậm ạch quặn lên, nhưng rồi tôi nhận ra không có mùi đồ ăn bệnh viện phả vào qua cánh cửa.
“Có một anh bạn trẻ đến gặp em,” cô ta nói mà không cần mào trước. “Tên là Matt Ridout. Cậu ta muốn vào thăm nếu em cho phép.”
Tôi chớp mắt. Tôi chưa từng nghe thấy cái tên này. “Anh ta là cảnh sát ạ?”
“Chị không biết, cưng à. Cậu ta không mặc đồng phục.” Trong một thoáng, tôi đã định nhờ cô ta quay ra tìm hiểu thêm, nhưng cô ta đang giậm giậm chân, rõ ràng là rất sốt ruột và bận bịu, và tôi nhận ra cứ gặp anh ta cho xong chuyện thì đơn giản hơn nhiều.
“Chị cứ cho anh ta vào đi,” cuối cùng tôi nói.
“Cậu ta chỉ được phép ở lại nửa tiếng thôi,” cô ta dặn dò. “Đến bốn giờ là hết giờ thăm bệnh.”
“Được ạ.” Tốt. Tôi sẽ có lý do để đuổi anh ta về nếu cuộc nói chuyện trở nên gượng gạo.
Tôi ngồi thẳng dậy, kéo áo của Nina sát vào cơ thể và gạt tóc ra khỏi mặt. Trông tôi như một ca tai nạn ô tô - trên thực tế đúng là vậy - nên tôi chẳng hiểu mình còn bận tâm làm gì, nhưng lòng tự trọng yêu cầu tôi ít nhất cũng phải nỗ lực một chút chiếu lệ.
Một vài - chỉ một vài - phút sau, tôi đã nghe thấy tiếng bước chân ngoài hành lang, rồi tiếng gõ cửa vang lên, một tiếng gõ rụt rè, lưỡng lự, khác với tiếng gõ dứt khoát của Nina hay tiếng gõ hời hợt cho có của y tá.
“Mời vào,” tôi nói, và một người đàn ông bước vào phòng.
Anh ta tầm tuổi tôi - có thể già hơn vài tuổi - mặc quần jean và áo phông bạc màu. Áo khoác vắt trên tay và trông anh ta có vẻ nóng bức, không mấy thoải mái trong bầu không khí nhiệt đới trong bệnh viện. Anh ta để râu quai nón bơm xờm, tóc húi sát, không phải cạo cua, mà giống kiểu tóc của binh lính La Mã, với những lọn xoăn ngắn, ẹp xuống da đầu.
Nhưng điều thật sự khiến tôi chú ý là anh ta vừa mới khóc.
Suốt một phút tôi không nghĩ ra điều gì để nói, anh ta cũng vậy. Anh ta đứng ở ngưỡng cửa, tay đút túi, trông bàng hoàng khi nhìn thấy tôi.
“Anh không phải cảnh sát,” cuối cùng tôi nói. Anh ta đưa tay xoa tóc.
“Tôi... tôi tên là Matt. Tôi là... ít ra...” Anh ta dừng lại, môi cong lên nhăn nhó, và tôi biết anh ta đang phải kìm nén những cảm xúc dữ dội. Anh ta hít một hơi thở sâu, rồi bắt đầu lại. “Đáng ra tôi là phù rể của James.”
Tôi không nói gì. Chúng tôi chỉ bất động nhìn nhau, tôi ghì cái áo len của Nina sát vào cổ họng như thể một tấm áo giáp, anh ta cứng đơ và căng thẳng ở ngưỡng cửa. Và rồi, không báo trước, một giọt nước mắt lẻ loi lăn dài xuống cánh mũi anh ta và anh ta hung hăng lấy tay áo quệt nó đi, rồi cùng lúc đó, tôi nói, “Mời anh vào. Ngồi xuống đi. Anh muốn uống gì không?”
“Cô có whiskey chứ?” anh ta hỏi và buông ra một tiếng cười cụt lủn, run rẩy. Tôi cố hùa theo, nhưng âm thanh tôi phát ra lại nghe không giống tiếng cười, là tiếng nghẹn thì đúng hơn.
“Giá mà có. Anh chỉ có thể chọn giữa trà và cà phê từ máy bán hàng tự động của bệnh viện, hoặc nước lọc.” Tôi chỉ vào cốc nhựa đựng nước. “Nhìn chung thì tôi khuyên anh nên chọn nước.”
“Không cần đâu,” anh ta nói. Anh ta bước vào ngồi xuống cái ghế nhựa cạnh giường. Nhưng mông chưa chạm ghế thì anh ta đã lại đứng bật dậy. “Mẹ kiếp, tôi xin lỗi. Đáng ra tôi không nên đến đây.”
“Không,” tôi chộp lấy cổ tay anh ta, rồi nhìn lại bàn tay mình, đang nắm lấy cánh tay anh ta, ngạc nhiên vì chính mình. Tôi đang làm cái quái gì thế? Tôi thả tay anh ta ra ngay lập tức, như thể phải bỏng. “Tôi... tôi xin lỗi. Tôi chỉ định...”
Tôi ngậm miệng. Tôi định làm gì? Tôi chịu. Chỉ biết rằng tôi không muốn anh ta rời đi. Anh ta là một sợi dây liên kết tới James.
“Xin anh cứ ở lại,” cuối cùng tôi nói. Anh ta đứng nguyên đó, nhìn tôi, rồi gật đầu cụt lủn và ngồi xuống.
“Tôi xin lỗi,” anh ta nhắc lại. “Tôi không nghĩ là... Trông cô...”
Tôi hiểu ý anh ta. Trông tôi như thể vừa bị quật cho thừa sống thiếu chết rồi được vá víu lại. Một cách ẩu tả.
“Thực ra không tệ như vẻ bề ngoài đâu,” tôi nói và thấy ngạc nhiên vì mình vừa rặn ra được một nụ cười. “Hầu hết là xước xát bầm tím thôi.”
“Là do mặt cô,” anh ta nói, “mắt cô. Tôi đã thấy đủ kiểu bạo hành gia đình khi làm nghề rồi, nhưng những vết bầm quanh mắt kia...”
“Tôi biết mà. Tôi cũng chỉ vừa mới được thấy chúng sáng nay. Trông oách ra phết, nhỉ? Nhưng không đau đâu.”
Chúng tôi cùng im lặng mất một giây, rồi anh ta nói, “Nghĩ lại thì, cô biết không, tôi sẽ đi lấy một cốc cà phê. Cô uống không?”
“Không, cảm ơn anh.” Tôi vẫn chưa tiêu hết phần tàn dư của chỗ cà phê Lamarr mang tới. Và chưa đủ thèm khát để uống đồ từ máy bán hàng tự động.
Matt cứng nhắc đứng lên rời khỏi phòng và tôi có thể trông thấy vai anh ta căng ra khi anh ta biến mất ở cuối hành lang. Tôi suýt nữa đã thầm hỏi không biết anh ta có định quay lại hay không, nhưng anh ta đã quay lại.
“Chúng ta bắt đầu lại được không?” anh ta nói trong lúc ngồi xuống. “Xin lỗi, tôi nghĩ mình đã làm hỏng ấn tượng ban đầu mất rồi. Hẳn cô là Leo nhỉ?”
Tôi suýt giật thót. Thật choáng khi nghe thấy nó - cái tên James gọi tôi - từ miệng Matt.
“Ừ, là tôi đây. Vậy là James... anh ấy đã kể cho anh về tôi à?”
“Một ít, đúng thế. Tôi biết hai người đã... Tôi không rõ nữa. Cô gọi đó là gì? Mối tình thời học trò à?”
Chẳng hiểu sao, những lời vừa rồi làm cơn nức nở dâng lên tận cuống họng tôi, và tôi cảm giác lưỡi mình run lên khi cố trả lời. Nên thay vì thế tôi chỉ im lặng gật đầu.
“Mẹ kiếp.” Anh ta vùi đầu vào tay. “Tôi xin lỗi... Tôi chỉ... Tôi không thể tin dược. Tôi vừa mới nói chuyện với cậu ấy mấy hôm trước. Tôi biết có vấn đề... chuyện không ổn... nhưng thế này...”
Chuyện không ổn ư?
Tôi muốn hỏi kỹ hơn, muốn thăm dò, những từ ngữ không sao thoát ra được, còn Matt thì vẫn nói tiếp.
“Vô cùng xin lỗi cô vì đã xông vào như thế này. Nếu biết tình trạng của cô thì tôi đã không... Y tá không báo trước. Khi tôi hỏi là có được phép vào thăm cô không thì cô ấy chỉ bảo để cô ấy hỏi xem. Nhưng tôi nghe nói... từ mẹ của James, là cô ở cạnh cậu ấy khi...” Anh ta ngừng lời, nuốt nước bọt, rồi ép bản thân nói nốt. “Khi cậu ấy qua đời. Và tôi biết cô có ý nghĩa như thế nào với cậu ấy, và tôi muốn...”
Matt lại im lặng, lần này không nói tiếp được nữa. Anh ta cúi xuống cốc cà phê và tôi biết anh ta đang khóc, và đang cố che giấu điều đó.
“Tôi xin lỗi,” cuối cùng anh ta nói, giọng khàn khàn, rồi hắng giọng. “Tôi vừa mới biết tin tối qua. Thật là... Tôi vẫn chưa sao làm quen được. Tôi vẫn nghĩ là có nhầm lẫn gì đó nhưng trông thấy cô như thế này... Kiểu như, nó làm cho mọi thứ trở thành sự thật.”
“Anh... anh quen James như thế nào?”
“Bọn tôi cùng học ở Cambridge. Cả hai đều yêu thích kịch nghệ - diễn xuất, cô biết đấy, kịch và này nọ.” Anh ta lấy ống tay áo lau mặt, rồi ngước lên, mỉm cười đầy quyết tâm. “Không cần phải nói, tôi diễn dở ẹc, nhưng may là đã nhận ra điều đó từ sớm. Việc phải diễn cạnh James cũng không giúp ích được gì. Thử lửa thì biết ngay đâu là vàng thật vàng giả đúng không?”
“Sau đó hai người vẫn chơi với nhau à?”
“Ừ. Thỉnh thoảng tôi vẫn đi xem cậu ấy diễn. Bạn đồng khóa của chúng tôi hầu hết đều chuyển sang làm ngân hàng hay công tác xã hội hoặc gì đó. Cảm giác như chỉ có James là theo được đến cùng. Tôi cảm thấy tự hào thay cậu ấy vì điều đó, cô biết đấy. Cậu ấy chưa bao giờ bỏ cuộc.”
Tôi chậm rãi gật đầu. Đúng, đó chính là James mà tôi biết. Người đàn ông Matt đang miêu tả nghe thân thuộc đến đau đớn. James mà tôi biết. James của tôi. Khác hẳn con người giả tạo, thực dụng mà tôi đã được nghe kể suốt cuối tuần vừa rồi. Tôi những tưởng anh đã thay đổi. Nhưng có lẽ là không. Hoặc không hoàn toàn.
“Vậy đã có chuyện gì?” cuối cùng Matt hỏi. “Ở... ở ngôi nhà ấy? Họ nói khẩu súng săn bị cướp cò nhưng nghe có vẻ... Thậm chí cậu ấy có mặt ở đó làm gì cơ chứ?”
“Tôi không biết.” Tôi nhắm mắt, lần tay lên chỗ băng dán nóng hổi, mướt mồ hôi trước trán. “Tôi không có cơ hội hỏi anh ấy. Khi nghe thấy tiếng chân James, chúng tôi cứ tưởng là có kẻ đột nhập.” Tôi không đi sâu vào chi tiết - cánh cửa gió lùa, cơn hoảng loạn ngu ngốc của bọn tôi. Nghe như thể các chi tiết trong một bộ phim kinh dị, rập khuôn, ngớ ngẩn. “Tôi nghĩ anh ấy định chơi khăm, chú rể tương lai đột ngột xuất hiện để làm cô dâu ngạc nhiên trên giường trước ngày cưới.”
“Không,” Matt lắc đầu. “Tôi thật sự không nghĩ vậy... cậu ấy sẽ không đến đó nếu không được mời.”
“Tại sao không?”
“Chà, đầu tiên, không ai làm vậy cả, đúng không? Ta không đi phá phách tiệc chia tay đời độc thân của vợ sắp cưới. Thế thì... thô lỗ quá. Đó là cơ hội cuối cùng để cô ấy tận hưởng cuộc sống độc thân, phải là đồ hủ bại thì mới nghĩ đến chuyện cướp đi cơ hội đó.”
Cũng đúng. Nhưng tôi không nói gì, chờ đợi lý do thứ hai. Matt hít một hơi.
“Còn thứ hai... ừm... họ đang không hòa thuận cho lắm.”
“Hả?” Tôi biết, ngay khi vừa thốt ra từ đó, rằng giọng mình quá to, quá mạnh mẽ, quá ngạc nhiên. Matt giật mình ngước lên.
“Nghe này, tôi không có ý nói quá đâu nhưng... đúng thế. Clare không kể gì hả?”
“Không... ít nhất thì... tôi không nghĩ vậy.” Tôi nhớ lại, cố nghĩ xem bọn tôi đã nói những chuyện gì. Nhưng tôi hiểu Clare. Không đời nào có chuyện cô thừa nhận rắc rối. Bề ngoài của cô phải luôn hoàn hảo, chiếc mặt nạ không xô lệch lấy một li. “Vấn đề kiểu gì thế?”
“Tôi cũng không biết.” Anh ta có vẻ không được thoải mái. “Tôi không... bọn tôi không thực sự nói về chuyện đó. Tôi đoán chỉ là kiểu rén trước khi cưới thường thấy thôi. Tôi đã thấy đủ bạn bè lập gia đình để nắm được chuyện đó rồi - cô bạn gái hoàn toàn bình thường đột nhiên biến thành cô dâu yêu sách, ai cũng căng thẳng, gia đình vào cuộc, bạn bè khuyên can, chuyện bé tự dưng xé ra to và cuối cùng là màn chia bè kéo cánh.”
“Vậy thì tại sao anh ấy lại đến đó?” cuối cùng tôi hỏi.
“Tôi không biết. Chỉ có thể đoán được là... Ai đó đã yêu cầu cậu ấy đến.”
“Ai đó đã yêu cầu ư? Nhưng... nhưng...”
Nhưng là ai?
Clare? Không. Không đời nào. Hơn ai hết, cô ấy hiểu việc James có mặt ở căn nhà đó nghĩa là gì - không đời nào có chuyện cô cho phép tôi và James ở dưới cùng một mái nhà đến hai tiếng, nói chi tới hai mươi giờ. Hoặc là tôi sẽ đùng đùng bỏ đi, hoặc bọn tôi sẽ cãi nhau ỏm tỏi, và Clare biết điều đó. Đó là lý do cô không mời tôi tới dự đám cưới. Một trong số những người còn lại có thể gọi anh đến, vì vô tâm hoặc ác ý. Nhưng không đời nào có chuyện Clare tự hủy hoại cuối tuần chia tay đời độc thân của mình. Tại sao cô phải làm vậy cơ chứ?
Flo? Liệu cô ta có thể bày trò kiểu ấy được không? Cô ta không biết gì về quá khứ của tôi và James. Có lẽ cô ta làm thế như một màn đùa cợt để tô điểm cho kế hoạch cuối tuần “hoàn hảo” của mình. Và, dù sao thì, Melanie đã bỏ về. Có một phòng đôi còn trống. Và giả thuyết này cũng giải thích vụ suy sụp bất thình lình của cô ta: không chỉ day dứt vì đã vung vẩy một khẩu súng có đạn, mà còn day dứt vì đã lên kế hoạch cho toàn bộ màn chơi-khăm-sai-quá-sai này. Nhưng mà... thế thì hẳn cô ta phải biết James là người đang đi lên thang chứ. Tại sao cô ta lại nổ súng - kể cả khi cho rằng nó nạp đạn không có chì? Tôi đã trông thấy bộ mặt cô ta khi hình dáng lờ mờ đó vòng qua góc cầu thang. Trông cô ta thực sự hoảng hồn. Hoặc cô ta bị điên, hoặc cô ta là diễn viên kiệt xuất nhất thời đại.
Có thể nào là Tom không? Có phải điều gì đó trong mối bất hòa giữa James và Bruce đã khiến anh ta muốn gài bẫy hại James? Hay Nina, với khiếu hài hước bệnh hoạn của cô, bày trò chỉ để cho vui? Nhưng tại sao? Tại sao bất cứ ai trong số họ lại làm một điều như thế?
Tôi lắc đầu. Vụ này đang làm tôi phát điên. Không ai trong căn nhà đó gọi James đến cả. Nếu một trong số họ làm vậy thì vụ nổ súng đã không đời nào xảy ra.
“Anh nhầm rồi,” tôi phá vỡ bầu không khí im lặng. “Hẳn là anh nhầm rồi. Chắc chắn James đã tự quyết định đến đó. Nếu anh ấy và Clare cãi nhau... Có thể anh ấy muốn làm lành, anh có nghĩ thế không? Anh ấy vẫn luôn...”
“Hơi ngốc hả?” Matt nói. Anh ta buông ra một tiếng cười run rẩy. “Có lẽ cô nói đúng. James đâu có nổi tiếng là biết nhìn xa trông rộng. Ý tôi là...” Anh ta ngừng lời và tôi thấy nắm tay anh đặt trên đầu gối đang siết lại. “Ý tôi là... trước đây.” Một khoảng lặng nối tiếp, chúng tôi hình dung về hình ảnh của James trong đầu mình, trong suy nghĩ của mỗi người. “Tôi nhớ,” cuối cùng Matt nói, “tôi nhớ hồi chúng tôi còn học đại học... có lần cậu ấy trèo lên tường trường và đội mũ ông già Noel cho đám tượng quái thú bằng đá. Thằng ngốc. Dễ chết như chơi ấy.”
Khi những từ cuối cùng thoát ra khỏi miệng Matt, tôi có thể thấy anh ta nhận ra mình vừa nói gì và giật thót, rồi trước khi kịp ngăn bản thân lại, tôi đưa tay ra.
“Tôi nên về thôi,” anh ta nói. “Tôi... Chúc cô sớm bình phục.”
“Tôi sẽ ổn mà,” tôi đáp. Rồi, cố ép bản thân nói nốt, vì tôi biết nếu không làm thế mình sẽ phải hối hận, “Liệu anh... anh có thể quay lại thăm tôi được không?”
“Đến sáng tôi sẽ quay về London,” anh ta nói. “Nhưng tôi rất vui nếu chúng ta giữ liên lạc.”
Có một cái bút gài trên bảng phiếu khám và anh ta tháo nó ra rồi nguệch ngoạc số điện thoại của mình lên bề mặt duy nhất viết lên được trong phòng - chiếc cốc giấy đựng cà phê anh ta vừa uống.
“Cô nói đúng,” anh ta nói khi cẩn thận đặt cốc xuống bàn cạnh giường. “Đáng ra tôi nên uống nước lọc. Tạm biệt Leo.”
“Tạm biệt.”
Cánh cửa khép lại sau lưng anh ta và qua ô cửa kính gắn lưới hẹp tôi dõi theo bóng anh ta biến mất ở cuối hành lang. Nói ra điều này nghe thật lạ lùng với một người sống một mình và vô cùng tự lập, nhưng bỗng nhiên tôi cảm thấy rất đỗi cô đơn.