Sói Biển

Lượt đọc: 59 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 26

❊ ❊ ❊

Wolf Larsen thay tôi phân phát chỗ rượu whisky, và những chai rượu bắt đầu xuất hiện trong lúc tôi đang băng bó cho đám người bị thương mới ở khoang trước. Tôi từng thấy người ta uống whisky—chẳng hạn như món whisky pha soda của các quý ông ở câu lạc bộ—nhưng chưa bao giờ thấy ai uống như thế này: uống bằng ca, bằng vại, và nốc thẳng từ chai—những ngụm rượu đầy tràn miệng ly, mà bản thân mỗi ngụm đã là một cuộc truy hoan trác táng. Nhưng bọn họ không dừng lại ở một hay hai ly. Họ uống hết chai này đến chai khác, cứ thế chuyền tay nhau và nốc thêm mãi.

Tất cả mọi người đều uống; đám bị thương uống; Oofty-Oofty, kẻ phụ giúp tôi, cũng uống. Chỉ có Louis là kiềm chế, anh ta cẩn trọng chỉ chấm môi vào chất men, dù vẫn hòa mình vào cuộc vui với sự buông thả chẳng kém gì hầu hết bọn họ. Đó là một bữa tiệc cuồng loạn thần tiên. Bằng giọng lè nhè ầm ĩ, họ bàn tán về trận chiến ban ngày, cãi vã về những chi tiết vụn vặt, hoặc trở nên ngọt xớt, làm hòa với những kẻ vừa đánh nhau với mình. Tù binh và kẻ bắt giữ tựa vai nhau nấc cụt, thề thốt những lời gắn kết và tôn trọng đầy hùng hồn. Họ khóc lóc cho những khốn cùng trong quá khứ và cho cả những cay đắng sắp sửa phải gánh chịu dưới ái kìm kẹp sắt đá của Wolf Larsen. Và tất cả đều nguyền rủa hắn, kể lại những giai thoại rùng rợn về sự tàn bạo của hắn.

Đó là một cảnh tượng kỳ lạ và đáng sợ—cái không gian chật hẹp san sát giường tầng, sàn nhà và vách tàu chao đảo giật cục, ánh sáng lờ mờ, những chiếc bóng ngả nghiêng kéo dài rồi ngắn lại một cách quái dị, bầu không khí đặc quánh mùi khói thuốc, mùi cơ thể lẫn mùi i-ốt, cùng những gương mặt đỏ bừng của lũ đàn ông—mà tôi phải gọi là nửa người nửa thú mới đúng. Tôi để ý thấy Oofty-Oofty, tay cầm đầu cuộn băng gạc và đứng nhìn khung cảnh ấy, đôi mắt nhung lấp lánh dưới ánh sáng trông như mắt nai, vậy mà tôi thừa biết thứ ác quỷ man dã đang ẩn giấu trong lồng ngực hắn, hoàn toàn trái ngược với vẻ bề ngoài mềm mại, dịu dàng gần như nữ tính ở khuôn mặt và vóc dáng kia. Tôi cũng chú ý đến gương mặt non choẹt của Harrison—từng là một khuôn mặt hiền lành, nhưng giờ trông chẳng khác gì ác ma—co giật vì phẫn nộ khi hắn ta kể cho những kẻ mới đến nghe về con tàu địa ngục mà họ đang mắc kẹt, đồng thời gào thét những lời nguyền rủa nhắm vào đầu Wolf Larsen.

Chính là Wolf Larsen, lúc nào cũng là Wolf Larsen, kẻ nô dịch và tra tấn con người, một tên Circe mang thân hình nam nhân biến đàn bấy thành bầy heo tiện súc, những con thú nhẫn nhục quỳ lạy hắn và chỉ dám nổi loạn trong cơn say cùng sự lén lút. Còn tôi, liệu tôi có phải là một con heo của hắn không? Tôi thầm nghĩ. Thế còn Maud Brewster? Không! Tôi nghiến chặt răng trong cơn giận dữ và quyết tâm đến nỗi người bệnh tôi đang chăm sóc phải rên lên dưới tay tôi, còn Oofty-Oofty thì nhìn tôi đầy tò mò. Tôi cảm thấy bản thân bỗng dưng tràn trề sức mạnh. Nhờ tình yêu mới chớm nở, tôi thấy mình vĩ đại như người khổng lồ. Tôi chẳng sợ gì sứa. Tôi sẽ thực hiện bằng được ý chí của mình qua mọi gian truân, bất chấp Wolf Larsen và bất chấp cả ba mươi lăm năm chỉ biết đọc sách vở của tôi. Mọi chuyện rồi sẽ ổn thỏa thôi. Tôi sẽ làm cho nó ổn. Và thế là, tràn ngập hưng phấn, được nâng bốc bởi một cảm giác quyền năng, tôi quay lưng lại với cái địa ngục đang tru tréo ấy để leo lên boong tàu, nơi làn sương mù lảng vảng như hồn ma trong màn đêm và không khí thì trong lành, thanh khiết và yên bình.

Khoang lái, nơi có hai tay săn bắn bị thương, cũng lặp lại khung cảnh y hệt khoang trước, chỉ có điều Wolf Larsen không bị ai nguyền rủa; và tôi vô cùng nhẹ nhõm khi lại được trồi lên boong tàu rồi đi về phía sau buồng lái. Bữa tối đã dọn sẵn, Wolf Larsen và Maud đang đợi tôi.

Trong khi toàn bộ thủy thủ đoàn trên tàu đang cố gắng say xỉn nhanh nhất có thể, hắn vẫn giữ cái đầu tỉnh táo. Không một giọt rượu nào lọt qua môi hắn. Trong hoàn cảnh này, hắn không dám mạo hiểm, bởi hắn chỉ có thể trông cậy vào Louis và tôi, mà Louis lúc này vẫn đang đứng ở bánh lái. Chúng tôi cứ thế rẽ sương mù tiến về phía trước mà không có người cảnh giới cũng như chẳng thắp đèn. Việc Wolf Larsen thả lỏng cho phép đám thuộc hạ uống rượu khiến tôi ngạc nhiên, nhưng rõ ràng hắn hiểu rõ tâm lý của bọn chúng và biết cách tốt nhất để hàn gắn sự thân thiện từ những gì bắt đầu bằng máu đổ.

Chiến thắng của hắn trước Death Larsen dường như đã tạo ra một ảnh hưởng đáng kinh ngạc lên tâm trạng hắn. Buổi tối hôm trước, hắn tự suy diễn rồi rơi vào trạng thái chán đời u uất, và tôi đã chuẩn bị tinh thần để chờ đợi một trong những cơn bộc phát quen thuộc của hắn. Thế nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra cả, và giờ đây hắn đang ở phong độ đỉnh cao. Có lẽ thành công trong việc bắt sống quá nhiều thợ săn và xuồng ghe đã trung hòa được tâm lý chán nản thông thường ấy. Dù sao đi nữa, sự u uất đã bay biến, và những con quỷ buồn rầu cũng chẳng thèm bén mảng. Lúc bấy giờ tôi đã nghĩ như vậy; nhưng chà, khốn thay, tôi nào hiểu gì về hắn hay biết rằng ngay cả lúc ấy, có lẽ hắn đang âm mưu một cuộc bùng nổ còn khủng khiếp hơn bất cứ thứ gì tôi từng chứng kiến.

Như tôi đã nói, hắn tỏ ra vô cùng phấn chấn khi tôi bước vào buồng lái. Đã nhiều tuần nay hắn không bị đau đầu, đôi mắt xanh trong vắt như bầu trời, làn da rám nắng đẹp đẽ toát lên sức sống hoàn hảo; nhựa sống căng tràn trong huyết quản hắn một cách mạnh mẽ và tuyệt vời. Trong lúc chờ đợi tôi, hắn đã lôi cuốn Maud vào một cuộc tranh luận sôi nổi. Cám dỗ là đề tài họ đang bàn tới, và qua vài câu rời rạc nghe được, tôi láng máng hiểu rằng hắn đang biện minh rằng sự cám dỗ chỉ thực sự là cám dỗ khi một kẻ bị nó quyến rũ và sa ngã.

“Vì các người xem này,” hắn đang nói, “theo tôi thấy, con người làm mọi việc đều vì ham muốn. Hắn có vô vàn ham muốn. Hắn có thể muốn tránh né nỗi đau, hoặc muốn tận hưởng khoái lạc. Nhưng dù làm bất cứ điều gì, hắn làm là vì hắn muốn làm điều đó.”

“Nhưng giả sử hắn muốn làm hai việc trái ngược nhau, mà không việc nào cho phép hắn làm việc kia thì sao?” Maud cắt ngang.

“Đó chính là điều tôi định nói tới,” hắn đáp.

“Và chính nằm giữa hai ham muốn ấy là nơi linh hồn con người thể hiện rõ nhất,” cô nói tiếp. “Nếu đó là một linh hồn lương thiện, nó sẽ khao khát và hành động theo điều thiện, và ngược lại nếu đó là một linh hồn xấu xa. Chính linh hồn mới là kẻ quyết định.”

“Toàn là chuyện nhảm nhí vớ vẩn!” hắn thiếu kiên nhẫn thốt lên. “Ham muốn mới là kẻ quyết định. Lấy ví dụ có một kẻ muốn uống say đi. Đồng thời, hắn lại không muốn uống say. Hắn sẽ làm gì? Hắn làm thế nào? Hắn chỉ là một con rối. Hắn là tạo vật của những ham muốn, và trước hai ham muốn, hắn tuân theo cái mạnh nhất, thế thôi. Linh hồn hắn chẳng dính líu gì đến chuyện này cả. Làm sao hắn có thể vừa bị cám dỗ đi uống say lại vừa từ chối uống say cho được? Nếu ham muốn giữ mình tỉnh táo chiếm ưu thế, đó là vì đó là ham muốn mạnh nhất. Sự cám dỗ chẳng đóng vai trò gì sất, trừ khi—” hắn dừng lại để ngẫm nghĩ về ý tưởng mới vừa nảy ra trong đầu—“trừ khi hắn bị cám dỗ để giữ mình tỉnh táo.”

“Hà! Hà!” hắn cười lớn. “Anh nghĩ sao về điều đó, thưa ông Van Weyden?”

“Rằng cả hai người đang bắt bẻ từng chữ,” tôi nói. “Linh hồn của một con người chính là những ham muốn của kẻ đó. Hoặc nếu anh thích, tổng hòa các ham muốn chính là linh hồn hắn. Về điểm này cả hai người đều sai. Anh thì nhấn mạnh vào ham muốn tách rời khỏi linh hồn, còn cô Brewster lại nhấn mạnh vào linh hồn tách rời khỏi ham muốn, trong khi thực tế thì linh hồn và ham muốn vốn là một.”

“Tuy nhiên,” tôi tiếp lời, “cô Brewster đúng khi cho rằng cám dỗ vẫn cứ là cám dỗ bất kể con người ta khuất phục hay vượt qua nó. Ngọn lửa được gió thổi bùng lên cho đến khi nó chồm chộp dữ dội. Ham muốn cũng giống như ngọn lửa vậy. Nó được thổi bùng lên, tựa như có ngọn gió thổi qua, bởi cảnh tượng của thứ mình khao khát, hoặc bởi một sự mô tả hay lĩnh hội mới mẻ và đầy sức hút về thứ đó. Sự cám dỗ nằm ở chính chỗ đó. Nó là cơn gió thổi bùng ngọn lửa ham muốn cho đến khi nó vươn lên chiếm quyền thống trị. Đó chính là sự cám dỗ. Nó có thể không thổi đủ mạnh để khiến ham muốn trở nên áp đảo, nhưng chừng nào nó còn thổi, thì chừng đó vẫn là cám dỗ. Và như anh nói đấy, nó có thể cám dỗ làm điều tốt cũng như điều ác.”

Tôi cảm thấy tự hào về bản thân khi chúng tôi ngồi xuống bàn ăn. Những lời tôi nói mang tính quyết định. Ít nhất chúng cũng đã đặt dấu chấm hết cho cuộc tranh luận.

Nhưng Wolf Larsen có vẻ rất huyên thao, thích nói năng hơn bao giờ hết. Cứ như thể trong người hắn đang dồn nén một nguồn năng lượng bừng bừng bằng cách nào đó phải tìm đường thoát ra. Gần như ngay lập tức, hắn lao vào bàn luận về tình yêu. Cũng như mọi khi, quan điểm của hắn mang góc nhìn thuần túy vật chất, còn của Maud là duy tâm. Về phần mình, ngoại trừ một vài lời gợi ý hay đính chính thỉnh thoảng đan xen, tôi hoàn toàn đứng ngoài cuộc.

Hắn vô cùng sắc sảo, nhưng Maud cũng chẳng kém cạnh, và một lúc lâu tôi bị lạc mất mạch trò chuyện vì cứ mải ngắm nhìn khuôn mặt cô lúc đang tranh luận. Đó là một gương mặt hiếm khi phô bày sắc hồng, nhưng tối nay nó lại ửng đỏ và vô cùng sống động. Sự sắc sảo của cô tung hoành bén ngót, và cô cũng thích thú màn đối đầu này chẳng kém gì Wolf Larsen, còn hắn thì đang tận hưởng nó một cách cực kỳ sảng khoái. Vì lý do nào đó, dẫu tôi chẳng hiểu tại sao trong cuộc tranh luận ấy, vì tôi đã hoàn toàn đánh mất nó khi mải ngắm nghẹt một lọn tóc nâu vương trên trán Maud, hắn bỗng trích dẫn một câu thơ từ tác phẩm Iseult ở Tintagel, nơi nàng thốt lên:

“Phước phần tôi hơn hẳn mọi người nữ ở điểm này,

Rằng tội lỗi của tôi vượt trên mọi người nữ sinh ra,

Và sự lầm lạc của tôi là hoàn mỹ.”

Cũng như cách hắn từng áp dụng góc nhìn bi quan vào thơ Omar, giờ đây hắn lại gán vẻ đắc thắng, một sự đắc thắng nhức nhối cùng niềm hân hoan tột độ vào những vần thơ của Swinburne. Và hắn đã cảm thụ đúng, hắn đọc rất hay. Hắn vừa dứt tiếng đọc thì Louis ngó đầu vào cửa buồng lái và thì thầm vọng xuống:

“Xin ngài hãy giữ trật tự cho! Sương mù đã tan rồi, và có ánh đèn mạn trái của một chiếc tàu hơi nước đang cắt ngang mũi tàu chúng ta ngay giờ phút phúc đức này đây.”

Wolf Larsen lao vút lên boong, nhanh đến mức khi chúng tôi đuổi theo kịp thì hắn đã kéo tấm che khoang lái phủ lên trên tiếng ốc xèo xèo say xỉn và đang rảo bước về phía trước để đóng cửa khoang trước lại. Lớp sương mù, dẫu vẫn còn đó, đã dâng lên cao tít, che khuất cả những vì sao và biến màn đêm trở nên tối như mực. Ngay trước mũi tàu, tôi có thể nhìn thấy một ánh đèn đỏ rực và một ánh đèn trắng, đồng thời nghe thấy tiếng động cơ tàu hơi nước đang đập thình thịch. Chắc chắn đó là chiếc Macedonia không trật đi đâu được.

Wolf Larsen đã quay trở lại mạn sau, và chúng tôi đứng thành một nhóm lặng im, ngắm nhìn những luồng ánh sáng đang nhanh chóng cắt ngang mũi tàu.

“Thật may cho tôi là hắn không mang theo đèn pha,” Wolf Larsen lên tiếng.

“Lỡ tôi cất tiếng gọi thật to thì sao?” tôi gặng hỏi bằng giọng thì thầm.

“Mọi chuyện coi như tiêu đời,” hắn đáp. “Nhưng anh đã nghĩ đến chuyện gì sẽ xảy ra ngay lập tức chưa?”

Chưa kịp để tôi bày tỏ mong muốn được biết, hắn đã tóm lấy cổ họng tôi bằng cái kẹp sắt của loài khỉ đột, và chỉ bằng một cái nhích cơ bắp nhẹ nhàng—như một lời cảnh báo—hắn gợi ý cho tôi động tác bẻ gãy cổ tôi một cách chắc chắn. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, hắn buông tôi ra và chúng tôi lại dán mắt vào ánh đèn của chiếc Macedonia.

“Lỡ tôi cất tiếng kêu cứu thì sao?” Maud hỏi.

“Tôi quý cô quá nên sẽ không nỡ làm tổn thương đâu,” hắn đáp dịu dàng—không, trong giọng nói của hắn còn có cả sự êm ái và ve vãn khiến tôi phải giật mình nhăn mặt.

“Nhưng dẫu vậy thì xin cô đừng làm thế, bởi vì tôi sẽ bẻ cổ ông Van Weyden ngay lập tức đấy.”

“Vậy thì cô ấy có toàn quyền cất tiếng,” tôi thách thức đáp lại.

“Tôi e là anh sẽ chẳng nỡ hy sinh vị Bậc thầy Văn chương Mỹ Đệ nhị đâu,” hắn mỉa mai.

Chúng tôi không nói thêm gì nữa, dẫu cả bọn đã quá quen thuộc với nhau để sự im lặng trở nên ngượng ngùng; và khi ánh đèn đỏ cùng đèn trắng đã khuất hẳn, chúng tôi quay trở lại buồng lái để ăn nốt bữa tối bị dang dở.

Họ lại tiếp tục ngâm thơ, và Maud ngâm bài “Impenitentia Ultima” của Dowson. Cô thể hiện nó một cách vô cùng tuyệt vời, nhưng tôi không ngắm cô mà lại dán mắt vào Wolf Larsen. Tôi bị thôi miên bởi ánh nhìn say đắm mà hắn đang đổ dồn vào Maud. Hắn hoàn toàn xuất thần, và tôi nhận thấy đôi môi hắn vô thức mấp máy đọc theo từng từ một nhanh hệt như lúc cô cất giọng. Hắn ngắt lời cô khi cô đọc đến những câu:

“Và mắt nàng sẽ là ánh dương khi mặt trời lịm tắt sau lưng tôi,

Và tiếng đàn vi-ô-lông trong giọng nàng sẽ là âm thanh cuối cùng bên tai tôi.”

“Có tiếng đàn vi-ô-lông trong giọng nói của cô đấy,” hắn nói thẳng thừng, và đôi mắt hắn lóe lên ánh sáng vàng rực.

Lẽ ra tôi đã có thể hò reo vì sung sướng trước sự tự chủ của cô. Cô hoàn thành khổ thơ kết thúc mà không hề vấp váp một nhịp nào, rồi chầm chậm lái câu chuyện sang những vùng nước ít hiểm trở hơn. Và suốt thời gian đó, tôi ngồi trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh, tiếng cuồng hoan say xỉn từ khoang lái vọng qua vách ngăn, người đàn ông tôi sợ hãi và người phụ nữ tôi yêu cứ thế trò chuyện không dứt. Bàn ăn vẫn chưa được dọn dẹp. Kẻ thay thế vị trí của Mugridge rõ ràng đã nhập bọn với đồng bọn ở khoang trước rồi.

Nếu có lúc nào Wolf Larsen đạt đến đỉnh cao của sự sống, thì đó chính là lúc này. Thỉnh thoảng tôi gạt bỏ những suy nghĩ của riêng mình để dõi theo hắn, và tôi theo dõi trong sự kinh ngạc, hoàn toàn bị khuất phục trong chốc lát bởi trí tuệ phi thường của hắn, chịu đựng thứ bùa phép từ niềm đam mê của hắn, bởi hắn đang ra sức truyền bá thứ đam mê của sự nổi loạn. Tất nhiên là Lucifer của Milton không thể không được nhắc đến, và sự sắc sảo khi Wolf Larsen phân tích, miêu tả nhân vật ấy chính là sự bộc lộ đầy bất ngờ về thứ thiên tài bị kìm nén bấy lâu của hắn. Nó làm tôi nhớ đến Taine, dù tôi biết chắc gã đàn ông này chưa từng nghe nói về nhà tư tưởng uyên bác nhưng nguy hiểm ấy bao giờ.

“Hắn dẫn đầu một cuộc chiến bại trận, và hắn chẳng sợ hãi gì những tia chớp của Chúa,” Wolf Larsen đang nói. “Bị hất xuống địa ngục, hắn vẫn không hề khuất phục. Một phần ba số thiên thần của Chúa đã đi theo hắn, và ngay lập tức hắn xúi giục con người nổi loạn chống lại Chúa, giành giật về phần mình và địa ngục đại đa số các thế hệ nhân loại. Tại sao hắn bị đánh bại khỏi thiên đường? Vì hắn kém dũng cảm hơn Chúa ư? Kém kiêu hãnh hơn ư? Kém khát vọng hơn ư? Không! Hàng ngàn lần không! Chúa hùng mạnh hơn, đúng như hắn từng nói, Người mà sấm sét đã tôn lên vĩ đại hơn. Nhưng Lucifer là một kẻ mang tinh thần tự do. Phục tùng đồng nghĩa với nghẹt thở. Hắn thà chịu đựng trong tự do còn hơn tận hưởng mọi hạnh phúc của một kiếp nô lệ ấm êm. Hắn chẳng màng phục vụ Chúa. Hắn chẳng màng phục vụ bất cứ ai. Hắn không phải là bù nhìn. Hắn đứng trên chính đôi chân của mình. Hắn là một cá thể.”

“Kẻ vô chính phủ đầu tiên,” Maud bật cười, đứng dậy và chuẩn bị lui về phòng riêng.

“Vậy thì làm kẻ vô chính phủ thật tuyệt!” hắn thét lên. Hắn cũng đã đứng dậy, đứng đối diện với cô nơi cô vừa khựng lại ở cửa phòng, rồi nói tiếp:

“‘Nơi đây ít nhất

Chúng ta sẽ được tự do; Đấng Toàn Năng chẳng xây dựng

Nơi này để dòm ngó; sẽ chẳng đuổi chúng ta đi;

Nơi đây ta có thể trị vì an toàn; và theo lựa chọn của ta

Trị vì là điều đáng khát vọng, dẫu ở địa ngục:

Thà trị vì ở địa ngục còn hơn làm tôi tớ trên thiên đường.’”

Đó là tiếng thét đầy thách thức của một tâm hồn vĩ đại. Căn buồng lái vẫn còn vang vọng giọng nói của hắn, khi hắn đứng đó, chao đảo, khuôn mặt rám nắng bừng sáng, ngẩng cao đầu đầy kiêu hãnh và đôi mắt ánh vàng nam tính, vô cùng nam tính và đầy vẻ dịu dàng nài nỉ, đang đăm đăm nhìn vào Maud ở khung cửa.

Lại một lần nữa, sự kinh hoàng không tên và rõ mồn một hiện lên trong mắt cô, và cô thốt lên, gần như thì thầm: “Anh chính là Lucifer.”

Cánh cửa khép lại và cô đã đi mất. Hắn đứng thẫn thờ nhìn theo hướng cô đi trong một phút, rồi mới bừng tỉnh quay về thực tại và đối mặt với tôi.

“Tôi sẽ thay Louis canh bánh lái,” hắn cộc lốc nói, “và sẽ gọi anh lên thay ca vào lúc nửa đêm. Tốt hơn là đi ngủ lấy sức ngay bây giờ đi.”

Hắn tròng đôi găng tay vào, đội mũ lên, rồi bước lên cầu thang buồng lái, trong khi tôi làm theo gợi ý của hắn là đi ngủ. Vì một lý do kỳ lạ nào đó, bị thúc giục bởi một linh cảm bí ẩn nào đó, tôi không cởi quần áo mà cứ thế nằm nguyên bộ đồ trên người. Một lúc lâu tôi nằm lắng nghe những tiếng ồn ào vọng lại từ khoang lái và trầm trồ về tình yêu vừa đến với mình; thế nhưng giấc ngủ của tôi trên con tàu Ghost giờ đây đã trở nên lành mạnh và tự nhiên nhất, chẳng mấy chốc những lời ca tiếng hét thưa dần rồi tắt hẳn, đôi mắt tôi khép lại, và ý thức chìm dần vào giấc ngủ nửa mê nửa tỉnh.

Tôi chẳng biết thứ gì đã đánh thức mình dậy, chỉ thấy bản thân đã bật khỏi giường, đứng vững vàng trên đôi chân, hoàn toàn tỉnh táo, tâm hồn rung lên trước lời cảnh báo nguy hiểm hệt như vừa nghe tiếng kèn trận thúc giục. Tôi vung tay đẩy mạnh cánh cửa. Ánh đèn buồng lái đang cháy lù mù. Tôi nhìn thấy Maud, nàng Maud của tôi, đang oằn mình giãy giụa và bị siết chặt trong vòng tay ôm ghì của Wolf Larsen. Tôi có thể thấy những nỗ lực vùng vẫy vô ích của cô khi cố gắng né tránh, ép chặt mặt vào ngực hắn để thoát thân. Tất cả những điều đó đập vào mắt tôi ngay khoảnh khắc nhìn thấy và khi tôi lao người về phía trước.

Tôi giáng một cú đấm vào mặt hắn khi hắn ngẩng đầu lên, nhưng đó chỉ là một cú đấm yếu ớt. Hắn gầm lên một tiếng hung tợn như loài thú, rồi dùng tay đẩy tôi ra. Chỉ là một cái đẩy, một cú phẩy cổ tay, vậy mà sức mạnh của hắn khủng khiếp đến mức tôi bị hất văng ngược lại như thể vừa bị bắn ra từ máy bắn đá. Tôi đập người vào cánh cửa phòng từng là của Mugridge, làm nát vụn và vỡ tan các tấm gỗ bởi sức nặng của thân thể lao vào. Tôi chật vật gượng dậy, khó nhọc lết thân thoát ra khỏi đống cửa nát bét, chẳng màng bận tâm bản thân có bị thương hay không. Tôi chỉ nhận thức được một cơn giận dữ đang lấn át tất cả. Tôi nghĩ hình như tôi cũng cất tiếng gào lên trong lúc rút con dao giắt bên hông và lao về phía trước lần thứ hai.

Nhưng có chuyện gì đó đã xảy ra. Bọn họ đang lảo đảo tách ra xa nhau. Tôi đã áp sát hắn, con dao lăm lăm trên tay, nhưng tôi khựng lại không chém xuống. Tôi ngẩn ngơ vì sự kỳ lạ ấy. Maud đang tựa lưng vào tường, một tay vươn ra níu lấy điểm tựa; còn hắn thì đang loạng choạng, tay trái áp lên trán che khuất đôi mắt, tay phải khua khoãng quờ quạng xung quanh một cách ngơ ngác. Bàn tay hắn đập trúng vách tường, và cơ thể hắn dường như trút được một gánh nặng cơ bắp và thể chất khi chạm vào đó, như thể hắn đã tìm được phương hướng, xác định được vị trí của mình trong không gian cũng như tìm được một chỗ để tựa vào.

Rồi mắt tôi lại đỏ ngầu. Tất cả những bất công và nhục nhã tôi từng gánh chịu bỗng ùa về sáng lòa trong tâm trí, tất cả những gì tôi và những người khác từng phải chịu đựng dưới đôi tay hắn, toàn bộ sự ngang trái trong sự tồn tại của gã đàn ông này. Tôi lao vào hắn, một cách mù quáng, điên cuồng, và đâm thẳng con dao vào vai hắn. Lúc đó tôi biết rằng đó chỉ là một vết thương phần thịt—tôi cảm nhận được lưỡi thép cọ xát vào xương bả vai hắn—và tôi giơ cao dao định đâm vào chỗ hiểm hơn.

Nhưng Maud đã nhìn thấy cú đâm đầu tiên của tôi, và cô thét lên: “Đừng! Xin đừng mà!”

Tôi hạ tay xuống trong chốc lát, chỉ một chốc lát mà thôi. Con dao lại được giơ lên và Wolf Larsen chắc chắn đã mất mạng nếu cô không bước ra chắn giữa. Vòng tay cô ôm lấy tôi, mái tóc cô cọ quẹt vào mặt tôi. Nhịp tim tôi đập thình thịch bất thường, thế nhưng ngọn lửa giận dữ trong tôi cũng bùng lên theo. Cô dũng cảm nhìn thẳng vào mắt tôi.

“Vì em đi mà,” cô nài nỉ.

“Anh sẽ giết hắn vì em!” tôi thét lên, cố giằng tay ra mà không làm cô đau.

“Suỵt!” cô nói, nhẹ nhàng đặt những ngón tay lên môi tôi. Lẽ ra tôi đã có thể hôn chúng, nếu tôi dám làm thế, ngay cả lúc đó, giữa cơn thịnh nộ tột cùng, cái chạm từ đôi tay ấy thật ngọt ngào, vô cùng ngọt ngào. “Xin anh, xin anh đấy,” cô van nôi, và câu nói ấy đã tước vũ khí của tôi, đúng như tôi sẽ sớm nhận ra rằng chúng sẽ luôn tước đi vũ khí của tôi mãi mãi.

Tôi bước lùi lại, tách khỏi cô, rồi đút con dao trở lại vỏ. Tôi nhìn Wolf Larsen. Hắn vẫn áp tay trái lên trán. Nó che khuất đôi mắt hắn. Đầu hắn cúi gằm xuống. Hắn có vẻ mềm nhũn hẳn đi. Hông hắn khuỵu xuống, đôi vai vạm vỡ rũ rượi và tóp lại đằng trước.

“Van Weyden!” hắn cất tiếng khàn đặc, với một nét hoảng sợ trong giọng nói. “Ôi, Van Weyden! Anh đang ở đâu?”

Tôi nhìn Maud. Cô không nói gì, chỉ khẽ gật đầu.

“Tôi đây,” tôi đáp, bước đến sát bên hắn. “Có chuyện gì thế?”

“Đỡ tôi ngồi xuống ghế với,” hắn nói, vẫn bằng giọng khàn đặc và sợ hãi ấy.

“Tôi là một kẻ ốm yếu; một kẻ rất ốm yếu, Hump,” hắn nói, khi rời khỏi bàn tay đang dìu dỡ của tôi và khuỵu người xuống ghế.

Đầu hắn gục xuống bàn, vùi vào hai bàn tay. Thỉnh thoảng nó lại lắc lư qua lại như đang chịu đựng cơn đau đớn cùng cực. Có lúc, khi hắn ngẩng đầu lên một nửa, tôi thấy những giọt mồ hôi to tướng đọng đầy trên trán, len lỏi giữa chân tóc.

“Tôi là một kẻ ốm yếu, một kẻ rất ốm yếu,” hắn lặp lại lần nữa, rồi lại lần nữa.

“Có chuyện gì thế?” tôi hỏi, đặt tay lên vai hắn. “Tôi có thể giúp gì cho anh?”

Nhưng hắn hất tay tôi ra bằng một cử động cáu kỉnh, và một lúc lâu tôi cứ đứng lặng im bên cạnh hắn. Maud đứng nhìn, nét mặt đầy vẻ kính sợ và hoảng hốt. Chúng tôi hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi điều gì đã xảy ra với hắn.

“Hump,” cuối cùng hắn cất tiếng, “tôi phải vào giường nằm thôi. Đỡ tôi một tay nào. Lát nữa tôi sẽ ổn thôi. Chắc là do mấy cơn đau chết tiệt ấy gây ra rồi. Tôi đã sợ chúng từ lâu. Tôi có cảm giác—không, tôi chẳng biết mình đang nói gì nữa. Đỡ tôi vào giường đi.”

Nhưng khi tôi dìu được hắn lên giường, hắn lại vùi mặt vào hai bàn tay, che khuất đôi mắt, và khi tôi quay người bước đi, tôi vẫn nghe thấy hắn lẩm bẩm: “Tôi là một kẻ ốm yếu, một kẻ rất ốm yếu.”

Maud nhìn tôi đầy dò hỏi khi tôi bước ra. Tôi lắc đầu, nói:

“Có chuyện gì đó đã xảy ra với hắn. Chuyện gì thì tôi không rõ. Hắn hoàn toàn bất lực, và tôi đoán là hắn đang hoảng sợ, lần đầu tiên trong đời. Chắc hẳn nó đã xảy ra trước khi hắn dính nhát dao của tôi, vốn chỉ là một vết thương ngoài da. Chắc em đã chứng kiến chuyện gì xảy ra chứ.”

Cô lắc đầu. “Em chẳng thấy gì cả. Mọi thứ cũng thật bí ẩn đối với em. Đột nhiên hắn buông em ra rồi loạng choạng bỏ đi. Nhưng chúng ta phải làm gì đây? Em phải làm gì đây?”

“Nếu em chịu khó chờ, xin hãy chờ đến lúc anh quay lại,” tôi đáp.

Tôi bước lên boong tàu. Louis đang đứng cầm lái.

“Anh có thể xuống khoang trước đi ngủ đi,” tôi nói, thay anh ta nhận lấy bánh lái.

Anh ta tuân lệnh rất nhanh, và tôi thấy mình đơn độc trên boong tàu Ghost. Nhẹ nhàng nhất có thể, tôi thu gọn các cánh buồm chính ở trên, hạ buồm mũi nhọn và buồm cánh gà xuống, kéo ngược buồm mũi ra sau, rồi dằn phẳng buồm lớn. Sau đó tôi quay xuống dưới chỗ Maud. Tôi đưa ngón tay lên miệng ra hiệu giữ im lặng, rồi bước vào phòng của Wolf Larsen. Hắn vẫn ở đúng tư thế lúc tôi vừa rời đi, đầu lắc lư—gần như oằn quại—từ bên này sang bên kia.

“Có việc gì tôi giúp được anh không?” tôi hỏi.

Ban đầu hắn không đáp, nhưng khi tôi lặp lại câu hỏi, hắn trả lời: “Không, không; tôi ổn mà. Cứ mặc kệ tôi đến sáng đi.”

Nhưng khi tôi quay người định bước đi, tôi nhận ra đầu hắn lại tiếp tục chuyển động lắc lư. Maud đang kiên nhẫn đợi tôi, và với một nỗi xúc động ngập tràn niềm vui, tôi để ý thấy dáng đứng vương giả của cô cùng đôi mắt bình thản, rạng rỡ. Chúng điềm tĩnh và chắc chắn hệt như tâm hồn cô vậy.

“Em có dám tin tưởng giao phó bản thân cho anh trong một chuyến hải trình khoảng sáu trăm dặm hay không?” tôi hỏi.

“Ý anh là—?” cô hỏi, và tôi biết cô đã đoán đúng.

“Đúng vậy, ý anh chính là thế,” tôi đáp. “Chẳng còn con đường nào khác cho chúng ta ngoài việc xuống chiếc xuồng nhỏ trên biển mở đâu.”

“Ý anh là cho em ấy chứ?” cô nói. “Anh chắc chắn sẽ an toàn ở đây hệt như trước giờ thôi.”

“Không, chẳng còn lối thoát nào khác cho cả hai chúng ta ngoài chiếc xuồng nhỏ này,” tôi kiên quyết khẳng định. “Xin em hãy mặc quần áo thật ấm ngay lập tức, rồi gói ghém bất cứ thứ gì em muốn mang theo vào một bọc.”

“Và hãy làm thật nhanh lên nhé,” tôi nói thêm khi cô quay người hướng về phía phòng riêng.

Hầm chứa thực phẩm nằm ngay bên dưới buồng lái, và khi mở cánh cửa sập trên sàn, tay cầm theo một ngọn nến, tôi tụt xuống bắt đầu kiểm kê kho dự trữ của tàu. Tôi chọn chủ yếu là đồ hộp, và khi tôi đã sẵn sàng, những đôi tay sẵn lòng từ phía trên đã chìa xuống để nhận những thứ tôi chuyền lên.

Chúng tôi làm việc trong im lặng. Tôi cũng tự tiện lấy thêm chăn, găng tay, áo tơi chống nước, mũ, và những thứ tương tự từ kho quần áo thủy thủ. Đây không phải là một cuộc phiêu lưu nhẹ nhàng gì, việc phó mặc bản thân trên một chiếc xuồng nhỏ giữa vùng biển động bão bùng thế này, và việc phòng thủ chống lại cái lạnh cùng sự ẩm ướt là điều tối quan trọng.

Chúng tôi làm việc một cách cuồng nhiệt để chuyển chiến lợi phẩm lên boong và chất đống ở khu vực giữa tàu, cuồng nhiệt đến mức Maud, người vốn chẳng có mấy thể lực, đã kiệt sức và phải buông xuôi, ngồi phịch xuống bậc thang ở đoạn gờ mạn sau. Cách đó chẳng giúp cô hồi sức là mấy, và cô nằm ngửa ra trên mặt boong cứng nhắc, hai tay dang rộng, toàn thân buông thõng. Đó là một mẹo nhỏ tôi từng nhớ ở chị mình, và tôi biết cô sẽ sớm lấy lại sức thôi. Tôi cũng biết rằng vũ khí là thứ không thể thiếu, và tôi quay lại phòng của Wolf Larsen để lấy khẩu súng trường cùng súng săn của hắn. Tôi cất tiếng gọi, nhưng hắn chẳng thèm đáp lại, dẫu đầu hắn vẫn lắc lư từ bên này sang bên kia và hắn thì chưa hề ngủ.

“Tạm biệt nhé, Lucifer,” tôi thầm thì với chính mình khi khép nhẹ cánh cửa lại.

Thứ tiếp theo phải lấy chính là đạn dược—một việc khá dễ dàng, dù tôi phải bước vào lối đi khoang lái để làm điều đó. Nơi đây bọn thợ săn cất giữ những hộp đạn họ mang theo trên các xuồng, và ngay tại đây, chỉ cách chỗ họ đang hoan ca ồn ào vài bước chân, tôi đã gom lấy hai hộp đạn.

Tiếp theo là hạ một chiếc xuồng xuống biển. Không phải là một nhiệm vụ đơn giản đối với một người. Sau khi tháo các sợi dây chằng, tôi kéo ròng rọc phía trước trước, rồi đến phía sau, cho đến khi xuồng nhấc bổng khỏi mạn tàu, rồi tôi hạ dần từng ròng rọc một, mỗi bên xuống tầm vài phút cho đến khi nó treo lơ lửng sát mặt nước, áp sát vào mạn tàu schooner. Tôi kiểm tra kỹ để đảm bảo nó được trang bị đầy đủ mái chèo, chốt dầm và buồm. Nước ngọt là một vấn đề lớn, và tôi đã lấy cắp thùng nước của mọi chiếc xuồng trên tàu. Vì tổng cộng có đến chín chiếc xuồng, điều đó có nghĩa là chúng tôi sẽ có thừa nước uống, lại vừa có thêm chấn lưu nặng, dẫu vẫn có rủi ro chiếc xuồng sẽ bị quá tải bởi số lượng lớn các món đồ khác tôi đang mang theo.

Trong lúc Maud đang chuyền thực phẩm cho tôi cất vào xuồng, một tên thủy thủ từ khoang trước bước lên boong. Hắn đứng bên mạn đón gió một lúc (chúng tôi đang hạ xuồng ở mạn khuất gió), rồi thong thả đi dạo ra giữa tàu, nơi hắn lại khựng lại đối mặt với gió, quay lưng về phía chúng tôi. Tôi có thể nghe rõ tiếng tim mình đập thình thịch khi khom người ẩn nấp trong xuồng. Maud đã sụp xuống mặt boong tàu và tôi biết cô đang nằm im bất động, thân hình ẩn khuất trong bóng râm của lan can mạn tàu. Thế nhưng gã đàn ông đó chẳng thèm quay đầu lại, và sau khi vươn vai ngẩng cao đầu ngáp dài thành tiếng, hắn quay gót bước trở lại lối ra vào khoang trước rồi biến mất.

Chỉ mất vài phút để hoàn tất việc chất đồ, và tôi hạ chiếc xuồng xuống nước. Khi đỡ Maud bước qua mạn tàu và cảm nhận cơ thể cô áp sát vào mình, tôi suýt không kìm được mà thét lên: “Anh yêu em! Anh yêu em!” Quả thực Humphrey Van Weyden cuối cùng cũng đã biết yêu, tôi thầm nghĩ, khi những ngón tay cô bám chặt lấy tay tôi lúc tôi dìu cô xuống xuồng. Tôi một tay níu lấy lan can, tay kia đỡ lấy trọng lượng của cô, và lúc đó tôi thực sự tự hào về sức mạnh của mình. Đó là thứ thể lực mà tôi từng không hề có được vào vài tháng trước, vào ngày tôi nói lời chia tay Charley Furuseth và khởi hành đi San Francisco trên con tàu bất hạnh Martinez.

Khi chiếc xuồng chồm lên theo con sóng, chân cô chạm đáy và tôi buông tay cô ra. Tôi tháo các dây ròng rọc và nhảy theo xuống. Tôi chưa từng chèo thuyền trong đời, nhưng tôi vớ lấy mái chèo và tốn biết bao sức lực mới đẩy được chiếc xuồng ra khỏi con tàu Ghost. Sau đó tôi bắt đầu thử nghiệm với cánh buồm. Tôi từng thấy đám lái xuồng và thợ săn dựng buồm tam giác vô số lần, nhưng đây là lần đầu tiên tôi tự tay làm. Những việc người ta làm mất chừng hai phút thì tôi mất tận hai mươi phút, nhưng cuối cùng tôi cũng thành công trong việc dựng và chỉnh buồm, rồi với chiếc dầm lái trong tay, tôi cho xuồng hướng gió rẽ sóng.

“Nước Nhật nằm ở đằng kia,” tôi lên tiếng, “ngay trước mặt chúng ta đấy.”

“Humphrey Van Weyden,” cô nói, “anh là một người đàn ông dũng cảm.”

“Không,” tôi đáp, “em mới chính là người phụ nữ dũng cảm.”

Chúng tôi quay đầu lại, bị cuốn theo một xung lực chung là muốn nhìn chiếc Ghost lần cuối. Thân tàu thấp lè tè của nó nhô lên rồi tròng trành theo chiều gió trên ngọn sóng; tấm buồm thẫm lại trong màn đêm; bánh lái bị chằng dây kêu kẽ kẹt khi bị bánh đá ngược lại; rồi cả hình dáng lẫn âm thanh của nó phai mờ dần vào hư vô, và chúng tôi chỉ còn lại một mình giữa đại dương tối tăm.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.