Tôi có cảm giác như mình đang đung đưa theo một nhịp điệu hùng vĩ qua không gian bao la của các tầng quỹ đạo. Những điểm sáng lấp lánh xẹt qua người tôi như mưa đạn. Tôi thừa biết đó là những vì sao, là những quả sao chổi đang bốc cháy, tô điểm cho hành trình của tôi giữa các vì thái dương. Khi tôi chạm đến cực hạn của nhịp đu đưa và chuẩn bị lao ngược trở lại theo chiều ngược lại, một tiếng chiêng lớn vang lên như sấm động. Suốt một khoảng thời gian vô tận, được uốn êm đềm trong những gợn sóng của các thế kỷ phẳng lặng, tôi tận hưởng và ngẫm nghĩ về chuyến bay vĩ đại của mình.
Nhưng khung cảnh của giấc mơ bỗng thay đổi, bởi tôi tự bảo rằng chắc chắn đây phải là một giấc mơ. Nhịp điệu của tôi ngày càng dồn dập hơn. Tôi bị giật thốc từ bên này sang bên kia với một tốc độ đầy khó chịu. Tôi hầu như không thể thở nổi, bởi thân thể bị thúc ép quá dữ dội qua bầu trời. Tiếng chiêng vang lên ngày càng dồn dập và cuồng nộ hơn. Tôiâm ỉ chờ đợi nó với một nỗi kinh hoàng không tên. Rồi dường như tôi đang bị kéo lê trên những lớp cát sắc nhọn, trắng phau và nóng rẫy dưới ánh mặt trời. Cảm giác này nhường chỗ cho một nỗi thống khổ không thể chịu nổi. Làn da tôi đang bị thiêu đốt trong ngọn lửa cực hình. Tiếng chiêng khua vang và réo rắt như hồi chuông tang. Những đốm sáng lấp lánh vụt qua tôi thành một dòng chảy bất tận, tựa như toàn bộ hệ thống ngân hà đang rơi tõm vào cõi hư vô. Tôi há hốc mồm, thở dốc đầy đau đớn và mở mắt ra. Hai người đàn ông đang quỳ bên cạnh, đang sơ cứu cho tôi. Nhịp điệu hùng vĩ của tôi hóa ra chỉ là cú nhấp nhô và chúi tới trước của một con tàu trên biển. Tiếng chiêng kinh hoàng thực chất là một chiếc chảo rán treo trên vách, cứ mỗi nhịp chồm lên của con tàu lại va đập lách cách. Lớp cát sắc nhọn, thiêu đốt kia chính là đôi bàn tay chai sần của một người đang chà xát ngực trần của tôi. Tôi oằn mình vì đau đớn và ngẩng nửa đầu lên. Ngực tôi đỏ ửng và tứa máu, tôi có thể thấy những hạt máu li ti đang ứa ra qua lớp biểu bì bị rách và sưng tấy.
“Thế là đủ rồi đấy, Yonson,” một người trong số họ lên tiếng.
“Anh không thấy mình vừa cọ sát đến mức làm tróc hết cả da của người ta ra rồi à?”
Người được gọi là Yonson, một gã to xác theo kiểu người Xcandi-na-vi, dừng tay chà xát và lúng túng đứng dậy. Kẻ vừa nói rõ ràng là một người gốc Luân Đôn, với những đường nét thanh tú cùng gương mặt đẹp một cách yếu ớt, gần như ẻo lả của những kẻ đã hít thở âm thanh của chuông nhà thờ Bow ngay từ sữa mẹ. Chiếc mũ vải tuyn nhàu nhĩ trên đầu cùng chiếc bao tải gai bẩn thỉu quấn quanh vòng hông mảnh khảnh đã tố cáo hắn là đầu bếp của cái gian bếp tàu dơ dáy đến cùng cực mà tôi đang đặt chân vào.
“Thế ngài thấy trong người thế nào rồi ạ?” hắn cất lời, kèm theo cái nụ cười nịnh bợ vốn chỉ xuất hiện ở những kẻ có cả thế hệ tổ tiên chuyên đi chực chờ tiền típ.
Để đáp lại, tôi yếu ớt xoay người ngồi dậy, và được Yonson đỡ đứng lên. Tiếng chảo rán va đập leng keng đang cào xé thần kinh tôi một cách tồi tệ. Tôi không tài nào tập trung nổi suy nghĩ. Bấu víu vào mạn gỗ của gian bếp để lấy chỗ đứng — và tôi thú thực rằng lớp mỡ nhờn dính bám trên đó khiến tôi ê cả hàm răng —, tôi với tay qua chiếc lò nấu đang nóng rực để túm lấy cái dụng cụ đáng ghét kia, gỡ nó xuống và nhét thật chặt vào thùng than.
Tên đầu bếp cười gằn trước biểu hiện cáu bẳn của tôi, rồi nhét vào tay tôi một chiếc cốc đang bốc khói kèm theo câu: “Nào, uống cái này vào sẽ thấy khá hơn đấy.” Đó là một thứ nước sền sệt khó uống — cà phê hạng bét trên tàu —, nhưng hơi ấm của nó lại giúp tôi hồi sức. Giữa những ngụm húp chất lỏng nóng như dung nham ấy, tôi cúi nhìn vùng ngực đang tứa máu và quay sang gã người Xcandi-na-vi.
“Cảm ơn anh, ông Yonson,” tôi nói; “nhưng anh không nghĩ là phương pháp của anh hơi quá bạo lực hay sao?”
Chính vì hắn hiểu được lời quở trách qua hành động chứ không chỉ qua câu nói của tôi, hắn liền giơ lòng bàn tay lên để tôi kiểm tra. Nó chai sạn đến đáng kinh ngạc. Tôi lướt tay qua những vết chai cứng ngắc đó, và cái cảm giác cọ xát kinh hoàng một lần nữa lại làm tôi ê buốt cả răng.
“Tên tôi là Johnson, không phải Yonson,” hắn nói, bằng thứ tiếng Anh rất sõi dù hơi chậm chạp, và gần như chẳng vương chút âm điệu lạ nào.
Trong đôi mắt xanh nhạt của hắn ẩn chứa một sự phản đối nhẹ nhàng, đồng thời toát lên vẻ chân thành rụt rè cùng sự nam tính khiến tôi hoàn toàn có thiện cảm.
“Cảm ơn anh, ông Johnson,” tôi sửa lại, và chìa tay ra định bắt tay hắn.
Hắn chần chừ, lúng túng và ngượng ngùng, đổi trọng lượng từ chân này sang chân kia, rồi vụng về nắm lấy tay tôi siết chặt.
“Anh có bộ quần áo khô nào không cho tôi mặc ké với?” tôi hỏi tên đầu bếp.
“Có chứ ạ,” hắn nhanh nhảu đáp với vẻ mặt đầy phấn chấn. “Tôi sẽ chạy xuống xem qua đồ đạc của mình, nếu ngài không phiền khi mặc đồ của tôi.”
Hắn lách người qua cửa bếp, hay đúng hơn là lướt đi với một dáng đi nhanh nhẹn và uyển chuyển khiến tôi có cảm giác giống loài mèo nhưng lại mang vẻ nhẫy dầu nhiều hơn. Thực chất, vẻ nhẫy dầu hay nhớp nhúa này, như sau này tôi sẽ được rõ, có lẽ chính là nét nổi bật nhất trong tính cách của hắn.
“Thế tôi đang ở đâu thế này?” tôi hỏi Johnson, kẻ mà tôi đoán — và đoán hoàn toàn chính xác — là một thủy thủ trên tàu. “Đây là tàu gì và đang đi về đâu?”
“Ngoài khơi quần đảo Farallones, đang hướng về phía Tây-Nam,” hắn đáp, chậm rãi và rành mạch như thể đang phải cố lục tìm vốn tiếng Anh tốt nhất của mình và tuân thủ nghiêm ngặt thứ tự các câu hỏi của tôi. “Tàu buồm Ghost, đang đi săn hải cẩu ở Nhật Bản.”
“Và ai là thuyền trưởng? Tôi phải gặp ông ta ngay khi mặc xong quần áo.”
Johnson có vẻ bối rối và ngượng ngùng. Hắn chần chừ trong lúc lục lọi vốn từ vựng để cấu thành một câu trả lời hoàn chỉnh. “Thuyền trưởng là Wolf Larsen, mọi người vẫn gọi ông ấy thế. Tôi chưa từng nghe tên khác của ông ấy. Nhưng tốt hơn là ngài nên nói chuyện nhẹ nhàng với ông ấy. Sáng nay ngài ấy đang nổi giận. Viên phó tàu—”
Nhưng hắn chưa kịp nói hết câu thì tên đầu bếp đã lướt vào.
“Tốt nhất là anh biến khỏi đây đi, Yonson,” hắn nói. “Lão già đang cần anh trên boong đấy, và hôm nay không phải là ngày hay ho gì để mà dây dưa với lão đâu.”
Johnson vâng lời quay ra cửa, đồng thời qua vai tên đầu bếp, ném cho tôi một cái nháy mắt vô cùng nghiêm trang và đầy ngụ ý, như muốn nhấn mạnh lại lời nói dở dang của hắn vừa rồi và sự cần thiết phải ăn nói nhỏ nhẹ với vị thuyền trưởng.
Vắt trên tay tên đầu bếp là một đống quần áo nhàu nhĩ, trông kỳ dị và tỏa ra mùi hăng hắc.
“Chúng bị cất đi khi hãy còn ẩm, thưa ngài,” hắn giải thích. “Nhưng ngài đành phải mặc tạm cho đến khi tôi hong khô đồ của ngài bên lò sưởi vậy.”
Bám víu vào vách tàu, lảo đảo theo nhịp tròng trành của con tàu và được tên đầu bếp trợ giúp, tôi cũng xoay sở tròng được chiếc áon lót bằng len thô vào người. Ngay lập tức, da thịt tôi nổi gai ốc và có cảm giác như bị cào cấu bởi lớp vải thô ráp. Hắn nhận ra những cái giật mình và nhăn nhó vô thức của tôi, bèn cười nịnh nọt:
“Tôi chỉ mong là ngài không bao giờ phải quen với những thứ thế này trong đời, vì ngài sở hữu một làn da mềm mại quá thể, đúng vậy đấy, giống da của một tiểu thư hơn bất kỳ ai mà tôi từng biết. Tôi chắc như đinh đóng cột rằng ngài là một quý tộc ngay từ cái nhìn đầu tiên.”
Tôi vốn đã chẳng ưa gì hắn từ cái nhìn đầu tiên, và khi hắn giúp tôi mặc quần áo, sự ghét bỏ đó lại càng tăng lên. Có cái gì đó thật ghê tởm trong cái chạm của hắn. Tôi rụt mình lại trước bàn tay hắn; da thịt tôi phản ứng đầy ghê sợ. Cộng thêm những mùi hương bốc lên từ các nồi nước đang sôi sùng sục trên bếp, tôi chỉ chực mau chóng ra ngoài hít thở không khí trong lành. Hơn nữa, tôi cần phải gặp thuyền trưởng để thương lượng xem có thể sắp xếp cách nào đưa tôi vào bờ.
Một chiếc áo sơ mi bằng vải cotton rẻ tiền, với phần cổ sờn rách và ngực áo vấy bẩn bởi những thứ mà tôi đoán là vết máu cũ, được tròng vào người tôi giữa một tràng những lời bình luận luyên thuyên và đầy vẻ xin lỗi. Một đôi giày đinh của công nhân tròng vào chân tôi, còn quần thì hắn trang bị cho tôi một chiếc quần yếm xanh nhạt đã bạc màu, trong đó có một ống dài hơn ống kia phải đến mười inch. Cái ống ngắn cũn cỡn trông cứ như thể ác quỷ vừa vươn tay tóm lấy linh hồn gã người Luân Đôn nhưng lại vớ nhầm cái bóng thay vì thực thể.
“Và tôi phải cảm ơn ai cho sự tử tế này đây?” tôi hỏi, khi đã đứng chỉnh tề với chiếc mũ trẻ con bé xíu trên đầu cùng chiếc áo khoác cotton sọc bẩn thỉu dài vỏn vẹn đến thắt lưng và tay áo chỉ vừa qua khỏi khuỷu tay.
Tên đầu bếp ưỡn ngực theo một điệu bộ khép nép tự mãn, trên mặt nở nụ cười nhún nhường. Dựa theo kinh nghiệm của tôi với các tiếp viên trên những con tàu vượt đại tây dương vào cuối chuyến hải trình, tôi có thể thề là hắn đang chờ tiền típ. Nhưng từ sự hiểu biết cặn kẽ hơn về sinh vật này, giờ đây tôi biết rằng tư thế đó là hoàn toàn vô thức. Chắc chắn sự khom lưng uốn mình đã ăn sâu vào huyết thống là nguyên nhân gây ra điều đó.
“Mugridge, thưa ngài,” hắn nịnh nọt, những nét mặt ẻo lả dãn ra thành một nụ cười nhớp nhúa. “Thomas Mugridge, thưa ngài, và luôn sẵn sàng phục vụ ngài.”
“Được rồi, Thomas,” tôi nói. “Tôi sẽ không quên ơn anh — khi nào quần áo của tôi khô.”
Một thứ ánh sáng dịu dàng bao trùm lấy khuôn mặt hắn và đôi mắt anh ta sáng lên, như thể đâu đó trong sâu thẳm bản ngã, tổ tiên hắn đang cựa mình và xao động bởi những ký ức mờ ảo về những khoản tiền típ nhận được từ những tiền kiếp nào đó.
“Cảm ơn ngài,” hắn nói, với vẻ biết ơn và vô cùng nhún nhường.
Đúng y như cách cánh cửa lướt ra, hắn lướt người sang một bên, và tôi bước ra boong tàu. Tôi vẫn còn yếu sau quãng thời gian dài ngâm mình dưới nước. Một cơn gió thốc tới — khiến tôi lảo đảo trên mặt boong đang chuyển động và bám lấy một góc ca-bin để giữ thăng bằng. Con tàu buồm đang nghiêng hẳn sang một bên, cúi đầu chồm lúp xúp theo những con sóng dài của Thái Bình Dương. Nếu nó đang hướng về phía tây nam như Johnson đã nói, thì lúc này tôi tính toán, gió đang thổi gần như từ phía nam tới. Sương mù đã tan biến, thay vào đó là ánh nắng rực rỡ lấp lánh trên mặt nước. Tôi quay về hướng đông, nơi tôi biết chắc là California, nhưng chẳng nhìn thấy gì ngoài những dải sương mù thấp lè tè — chắc chắn cũng chính là làn sương mù đã gây ra thảm kịch cho chiếc Martinez và đẩy tôi vào hoàn cảnh hiện tại này. Về phía bắc, cách đó không xa, một cụm đá trọc nhô lên khỏi mặt biển, và trên một hòn đá tôi có thể nhận ra một ngọn hải đăng. Về phía tây nam, và gần như nằm trên đường đi của chúng tôi, tôi thấy bóng dáng hình chóp của những cánh buồm tàu nào đó.
Sau khi đã quan sát xong đường chân trời, tôi chuyển hướng chú ý sang những thứ gần mình hơn. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là một kẻ vừa thoát chết trong một vụ đâm va và suýt đối mặt với tử thần phải đáng được quan tâm hơn thế này. Ngoại trừ một tay thủy thủ đứng ôm vô-lăng đang tò mò nhìn qua nóc ca-bin, tôi hoàn toàn chẳng thu hút lấy một chút chú ý nào.
Dường như mọi người đều đang bận tâm đến những gì diễn ra ở giữa tàu. Ở đó, trên một nắp hầm hàng, một người đàn ông to lớn đang nằm ngửa. Hắn mặc đồ chỉnh tề, dù chiếc áo sơ mi đằng trước đã bị xé toạc. Tuy nhiên, chẳng thể thấy gì ngực hắn, bởi nó phủ kín một đám lông đen sì, trông giống như bộ lông xù của một con chó. Guơng mặt và cổ hắn bị che khuất dưới lớp râu đen pha lẫn những sợi bạc, thứ lẽ ra phải cứng và rậm rạp nếu như nó không rũ rượi, nhơ nhớp và nhỏ nước tong tong. Đôi mắt hắn nhắm nghiền và có vẻ như đang bất tỉnh; nhưng miệng hắn há hốc, lồng ngực phập phồng như thể đang bị ngạt thở khi hắn khó nhọc hóp từng ngụm không khí. Một tên thủy thủ, cứ cách một khoảng thời gian và theo một quy trình đều đặn như một thói quen, lại thả chiếc xô bạt xuống đại dương ở đầu một sợi dây, kéo nó lên bằng đôi tay thoăn thoắt rồi dội thẳng ngã ngán nước vào người đang bất tỉnh.
Đi qua đi lại suốt chiều dài các nắp hầm hàng và nhai ngấu nghiến mẩu xì-gà là kẻ mà cái nhìn bâng quơ vừa cứu mạng tôi khỏi biển khơi. Chiều cao của hắn có lẽ khoảng năm thước mười inch, hoặc mười rưỡi; nhưng ấn tượng đầu tiên của tôi, hoặc cảm nhận về con người này, không phải ở chiều cao đó, mà là ở sức mạnh của hắn. Thế nhưng, dẫu hắn sở hữu một vóc dáng đồ sộ với bờ vai rộng và lồng ngực sâu, tôi lại không thể gọi sức mạnh của hắn là đồ sộ. Đó là thứ sức mạnh có thể gọi là gân guốc, cuồn cuộn, thứ sức mạnh mà chúng ta thường gán cho những kẻ gầy gò và dẻo dai, nhưng ở hắn, nhờ vóc dáng vạm vỡ, nó lại mang nhiều nét của loài khỉ đột khổng lồ hơn. Không phải là vẻ bề ngoài của hắn trông có vẻ giống khỉ đột chút nào. Điều tôi đang cố diễn tả chính là bản thân sức mạnh đó, tách biệt khỏi ngoại hình thể xác của hắn. Đó là thứ sức mạnh mà chúng ta thường liên tưởng đến những điều nguyên thủy, với loài vật hoang dã, và những sinh vật mà chúng ta tưởng tượng tổ tiên sống trên cây của mình từng có — một sức mạnh hoang dã, dữ dội, tự thân mang sự sống, là bản chất của sự sống ở chỗ nó là tiềm năng của chuyển động, là chất liệu nguyên thủy cấu thành nên muôn hình vạn trạng của sự sống; nói ngắn gọn, đó là thứ đang quằn quại trong thân thể một con rắn khi cái đầu đã bị chặt đứt và bản thân con rắn với tư cách là một con rắn đã chết, hoặc thứ vẫn còn vương vấn trong một cục thịt rùa vô định hình mà vẫn co rúm và run rẩy trước cú chọc của một ngón tay.
Đó là ấn tượng về sức mạnh mà tôi thu nhận được từ gã đàn ông đang bước qua bước lại này. Hắn đứng vững vàng trên đôi chân; bàn chân nện xuống boong chắc nịch và đầy quả quyết; mọi chuyển động của cơ bắp, từ cái nhún vai cho đến cử chỉ mím chặt môi quanh điếu xì-gà, đều dứt khoát, và dường như phát ra từ một nguồn sức mạnh quá đỗi dư thừa và áp đảo. Thực tế, dù sức mạnh ấy thấm đẫm trong mọi hành động của hắn, nó dường như chỉ là sự biểu thị cho một sức mạnh lớn lao hơn còn ẩn giấu bên trong, đang nằm ngủ ngầm và thỉnh thoảng mới cựa mình đôi chút, nhưng có thể vùng dậy bất cứ lúc nào, đầy kinh hoàng và chế ngự, tựa như cơn thịnh nộ của sư tử hay cơn giận dữ của bão tố.
Tên đầu bếp thò đầu ra khỏi cửa bếp và cười khích lệ tôi, đồng thời hất ngón tay cái về phía gã đàn ông đang đi đi lại lại cạnh nắp hầm hàng. Qua đó, tôi hiểu rằng hắn chính là thuyền trưởng, “Lão Già” theo tiếng lóng của gã đầu bếp, người mà tôi bắt buộc phải phỏng vấn và làm phiền để tìm cách đưa mình vào bờ. Tôi vừa nhón chân bước tới, muốn giải quyết cho xong cái khoảng thời gian năm phút mà tôi chắc chắn sẽ vô cùng sóng gió, thì một cơn co giật nghẹt thở dữ dội hơn nữa lại giáng xuống kẻ bất hạnh đang nằm ngửa kia. Hắn co giật và quằn quại một cách điên cuồng. Cái cằm cùng bộ râu đen ẩm ướt chĩa ngược lên trời khi các cơ lưng cứng đờ và lồng ngực phình to trong một nỗ lực vô thức và bản năng nhằm hớp thêm không khí. Dưới lớp râu kia, và hoàn toàn khuất tầm nhìn, tôi thừa biết làn da đang chuyển sang một màu tím ngắt.
Gã thuyền trưởng, hay Wolf Larsen như người ta gọi hắn, ngừng đi lại và cúi nhìn kẻ sắp chết. Cuộc vật lộn cuối cùng này trở nên dữ dội đến mức tên thủy thủ phải khựng lại giữa động tác hất thêm nước lên người hắn và trơ mắt đứng nhìn, chiếc xô bạt nghiêng một phần nhỏ nước xuống sàn tàu. Kẻ sắp chết gõ dồn dập gót chân lên nắp hầm hàng, duỗi thẳng đôi chân và căng cứng người trong một nỗ lực lớn đầy căng thẳng, rồi lăn đầu từ bên này sang bên khác. Sau đó, các cơ chùng xuống, cái đầu ngừng lăn, và một tiếng thở dài, tựa như sự giải thoát sâu sắc, thoát ra từ môi hắn. Cái hàm trệ xuống, môi trên hếch lên, và hai hàng răng ngả vàng vì thuốc lá lộ ra. Trông như thể các nét mặt của hắn đã đông cứng lại thành một nụ cười nhạo báng địa ngục nhắm vào thế giới mà hắn vừa bỏ lại và vừa qua mặt.
Rồi một điều vô cùng kinh ngạc đã xảy ra. Viên thuyền trưởng trút cơn thịnh nộ lên cái xác chết tựa như một cú sét đánh ngang tai. Những lời thề thốt tuôn ra từ môi hắn thành một dòng chảy liên miニュ. Và đó không phải là những lời thề thốt nhạt nhẽo, hay những cách diễn đạt mang tính tục tĩu tầm thường. Mỗi từ thốt ra đều là một lời lộng ngôn, và có rất nhiều từ như thế. Chúng xèo xèo và lép bép như những tia lửa điện. Tôi chưa từng nghe thấy điều gì như thế trong đời, cũng không thể tưởng tượng nổi là nó có thể tồn tại. Bản thân vốn là người có khuynh hướng văn chương, cùng một sự say mê với những hình ảnh và câu cú mạnh mẽ, tôi đánh giá cao — có lẽ hơn bất kỳ thính giả nào khác — cái sự sống động kỳ lạ, sức mạnh và tính chất lộng ngôn tuyệt đối trong những phép ẩn dụ của hắn. Nguyên nhân của mọi chuyện, theo như tôi có thể lượm lặt được, là vì gã bạn đồng hành, tức phó tàu, đã chè chén say sưa trước khi rời San Francisco, rồi sau đó lại bày ra cái điều tồi tệ là chết ngay khúc đầu chuyến hải trình để rồi bỏ mặc Wolf Larsen thiếu thốn nhân sự.
Lẽ ra tôi không cần phải tuyên bố, ít nhất là với những người bạn của mình, rằng tôi đã bị sốc thế nào. Những lời thề thốt và ngôn từ thô tục dưới bất kỳ hình thức nào luôn là điều khiến tôi ghê tởm. Tôi cảm thấy một cảm giác héo mòn, thắt ngặt trong tim, và tôi dám cá là cả sự chóng mặt nữa. Đối với tôi, cái chết luôn được bao bọc bởi sự tôn nghiêm và phẩm giá. Nó vốn dĩ yên bình khi xảy ra, và thiêng liêng trong các nghi thức. Nhưng cái chết trong những khía cạnh đồi bại và khủng khiếp nhất lại là thứ tôi chưa hề quen thuộc cho đến tận bây giờ. Như tôi đã nói, trong khi tôi đánh giá cao sức mạnh của tràng phán quan khủng khiếp tuôn ra từ miệng Wolf Larsen, tôi vẫn cảm thấy bị sốc khôn tả. Dòng thác lửa thiêu đốt ấy đủ sức làm héo úa cả gương mặt của xác chết. Tôi cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên nếu bộ râu đen ướt sũng kia bị xoăn tít lại và bốc cháy thành khói lửa. Nhưng kẻ đã chết thì hoàn toàn chẳng bận tâm. Hắn tiếp tục cười nhăn nhở bằng một sự hài hước mỉa mai, bằng một thái độ chế giễu và bất tuân đầy yếm thế. Hắn mới chính là kẻ làm chủ tình hình.