Sáng ngày hôm sau, tôi đang dần tỉnh giấc sau một giấc mơ thì nghe thấy tiếng chuông điện thoại reo. Đó là một giấc mơ cũ: cảm giác tròng trành của biển, mọi thứ đều bập bềnh theo làn sóng, giống như tôi đang ở trong một bức tranh của mẹ tôi, bị mắc kẹt trong sự hỗn loạn của những con sóng bên ngoài bến cảng.
Căn phòng vẫn quay cuồng khi tôi mở mắt, bụng tôi cồn cào vì ly rượu đêm qua và vì thiếu ngủ. Tôi dò dẫm tìm điện thoại trong khi liếc nhìn đồng hồ - đã 8 giờ đúng. Tôi không nhận ra số điện thoại.
“Alo?” - Tôi cố gắng che giấu sự ngái ngủ trong giọng nói, trong khi nhìn lên trần nhà và thay đổi tư thế nằm.
“Cô Greer?”
Tôi bật dậy trước khi trả lời. Cô Greer có nghĩa đây là một cuộc gọi về công việc, một cuộc gọi từ người nhà Loman, kiểu người mong đợi tôi có mặt ở bàn làm việc ngay lúc này, thay vì nằm co chân trên giường, cảm nhận vị đắng của rượu whisky đêm qua. “Đúng, tôi đây. Ai vậy?” - Tôi trả lời.
“Tôi là Kevin Donaldson.” - Anh ta tự giới thiệu. “Tôi đang ở ngôi nhà Blue Robin. Có một chuyện kỳ lạ đã xảy ra, ai đó đã đột nhập vào nhà.”
“Anh nói gì cơ? Ai đó đã đột nhập vào nhà?” - Tôi giật mình hỏi lại. Tôi cố nhớ lịch hẹn dọn dẹp, liệu tôi có nhớ nhầm ngày trả phòng của nhà Donaldson không? Những người thuê nhà thường không thích có người đến và đi mà không báo trước khi họ không có nhà, kể cả tôi. Đó là lý do tại sao họ chọn thuê một trong những ngôi nhà cho thuê của chúng tôi, thay vì phòng trọ bình thường, hoặc một phòng khách sạn.
Tôi tỉnh táo ngay lập tức và đi về phía bàn làm việc trong phòng khách, mở các tệp tài liệu trong một ngăn xếp bên cạnh máy tính xách tay cho đến khi tôi tìm thấy ngôi nhà mình cần tìm. Tôi đã có hợp đồng cho thuê trong tay ngay khi anh ta trả lời. “Chúng tôi về nhà muộn, vào khoảng nửa đêm. Ai đó rõ ràng đã lục lọi đồ của chúng tôi. Tuy nhiên, không có gì bị lấy cắp.”
Tôi điểm trong đầu những người có chìa khóa. Phải chăng trong số những nhà cung cấp chúng tôi đang làm việc cùng có nhân viên mới? Tôi suy nghĩ nên gọi cho bên nào tiếp theo và tìm người chịu trách nhiệm. “Tôi rất tiếc khi nghe điều này!” - Tôi trả lời anh.
Câu hỏi tiếp theo của tôi sẽ là: Gia đình anh có quên đóng bất kỳ của ra vào hay của sổ nào không? Tôi không muốn mình nghe có vẻ như đang định đổ lỗi cho nhà Donaldson, nhất là khi không có tài sản nào trong nhà bị đánh cắp. Tuy nhiên, có chút thông tin cũng vẫn hơn.
“Anh đã gọi cảnh sát chưa?”
“Tôi đã gọi ngay tối hôm qua. Chúng tôi đã thử gọi cho cô trước, nhưng cô không nghe máy.” Chiêu đổ lỗi quen thuộc đấy mà. “Một sĩ quan đã đến, lấy lời khai của chúng tôi và xem xét xung quanh.”
Tôi nhắm mắt lại và thở dốc. Chuyện này chắc chắn đã xảy ra khi tôi ở cùng Parker tối qua. Theo đúng quy trình thì tôi phải gọi ngay cho Grant Loman trước khi phía cảnh sát nhúng tay vào. Một khiếu nại từ cảnh sát tại một ngôi nhà cho thuê sẽ mang lại tiếng xấu cho công ty.
“Nghe này...” anh ta tiếp tục: “Việc đồ đạc có bị mất cắp hay không, không quan trọng. Điều này rõ ràng là đáng lo ngại. Chúng tôi sẽ rời đi ngay trong sáng nay và muốn được hoàn lại tiền ba ngày nghỉ vừa rồi.”
“Vâng, tôi hiểu!” - Tôi vừa trả lời anh vừa lấy tay day thái dương. Mặc dù trong hợp đồng của họ còn hai ngày nữa, nhưng trong ngành dịch vụ thì khách hàng là Thượng đế và tôi đã rút ra điều này từ kinh nghiệm làm việc của mình. “Tôi có thể chuyển phát nhanh tấm séc thanh toán trong chiều nay.”
“Không, chúng tôi muốn nhận được tiền ngay trong sáng nay trước khi rời đi!” - Anh ta nói bằng thái độ không muốn tranh luận với tôi. Trước đây, tôi đã từng xử lý kiểu khách hàng như thế này. Vì công việc nên tôi đã phải cố gắng chịu đựng. “Chúng tôi sẽ ở tại Bed and Breakfast cho đến hết tuần.” - Anh ta tiếp tục. “Văn phòng của cô ở đâu?”
Văn phòng của tôi có thể là bất cứ nơi nào, và tôi không muốn bất cứ ai xuất hiện trên đất của nhà Loman với lời than phiền về dịch vụ. Chúng tôi xử lý các thỏa thuận và vấn đề tài chính trực tuyến là chủ yếu và tôi thường sử dụng hòm thư bưu điện cá nhân cho những công việc khác. “Tôi sẽ đích thân giao nó đến Bed and Breakfast vào chiều nay. Tấm séc sẽ được đặt tại quầy lễ tân trước khi hết giờ hành chính.”
Tôi nhắn tin cho Parker để có thể lên kế hoạch lịch trình ngày hôm nay, nhưng tin nhắn của tôi bị chặn và không gửi đi được.
Mặc dù ngủ quên, nhưng buổi họp được hẹn vào lúc 10 giờ nên tôi vẫn có thời gian để chạy bộ một đoạn. Tôi có thể quay lại gọi Parker trên đường về.
Dưới chân tôi, mặt đất vẫn còn ướt đẫm do cơn bão đêm qua để lại. Buổi sáng hôm nay trời đẹp, ánh nắng tỏa xuống làm cho nơi này giống như những bức hình bưu thiếp về Littleport trong các cửa hàng ở trung tâm thành phố. Đây là một trong những ngày khách du lịch thích nhất, nhờ họ mà nguồn thu nhập của chúng tôi tăng lên, chất lượng du lịch cũng được đảm bảo từ: đẹp như tranh vẽ, cổ kính, được bảo vệ và bao quanh bởi thiên nhiên hoang dã.
Trên thực tế, nơi này hoang sơ và chịu nhiều sự tàn phá của thiên nhiên. Từ những ngày mùa đông bão tuyết và băng bao phủ khiến một nửa đường dây điện bị hỏng, đến mùa hè êm đềm với tiếng chim kêu và tiếng chuông phao vang rền theo nhịp sóng ngoài khơi. Những con sóng cao có thể nhấn chìm một con thuyền từ nơi neo đậu, đến những làn sóng nhẹ nhàng vỗ vào những ngón chân của bạn trên cát. Từ nhộn nhịp vui vẻ sang cô đơn cằn cỗi. Các thùng bia chất đống thành một thị trấn ma vắng người.
Khi tôi đi qua nhà để xe, tôi nhận thấy thùng rác đã được dựng lên, cổng được khóa ngay ngắn. Parker rõ ràng đã thức dậy và đi ra ngoài mà không hề bị loạng choạng bởi rượu và trời đêm.
Tôi vừa đặt chân lên bậc thềm đầu tiên thì cánh cửa trước bật mở. Parker dừng lại đột ngột và phải định thần lại.
Anh cũng có cái nhìn giống hệt vậy vào lần đầu nhìn thấy tôi. Lúc đó, tôi đang ngồi khoanh chân trên tấm trải giường màu ngà của Sadie, trong khi cô sơn cả hai móng tay của chúng tôi thành một màu tím lung linh, chiếc lọ nghiêng trên đầu gối cô, đằng sau cửa kính ban công của cô không có gì ngoài biển và bầu trời, một màu xanh kéo dài đến đường chân trời.
Tay cô lơ lửng giữa không trung khi nghe thấy tiếng bước chân đi xuống đại sảnh, và cô ấy ngước lên khi Parker đi ngang qua. Anh lúc đó 19 tuổi, hơn chúng tôi một tuổi, vừa học xong năm nhất đại học. Nhưng một điều gì đó đã khiến anh dừng bước. Anh lúng túng nhìn tôi, rồi lại nhìn Sadie, và khóe miệng cô giật khẽ vì cố nén một nụ cười.
“Bố đang tìm em đấy!” - Anh nói.
“Vậy thì bố không hề cố gắng rồi!” - Cô nói rồi quay sang tự sơn móng tay cho mình, nhưng anh vẫn đứng nguyên ở đó. Mắt anh lại nhìn tôi lần nữa, rồi quay đi rất vội, giống như anh không muốn để tôi bắt gặp anh đang nhìn tôi chằm chằm vậy.
Sadie thở dài: “Đây là Avery. Avery đây là anh trai tớ, Parker.”
Anh đi chân trần, mặc quần jean sờn, và chiếc áo phông - sản phẩm được tặng kèm khi mua đồ gì đó. Trông anh thật khác so với hình ảnh của anh trong bức chân dung được treo cẩn thận ở tầng dưới. Tôi nhìn thấy một vết sẹo mờ chẻ đôi mép lông mày trái của anh. Tôi vẫy tay và anh ấy cũng vậy. Rồi anh rời đi.
Tôi vẫn đang nhìn theo bóng anh đi về phía hành lang trong khi Sadie thốt lên: “Đừng có mà nghĩ đến chuyện đấy!” - Cô vừa nói vừa đưa ánh mắt về phía tôi.
“Chuyện gì?” - Tôi thắc mắc.
Cô lắc đầu. “Nói chung là đừng!”
“Tớ sẽ không mà.” - Tôi trả lời như thanh minh cho ánh nhìn của mình lúc trước.
Cô đóng nắp lọ sơn và thổi nhẹ vào móng tay. “Tớ nói nghiêm túc đấy. Sẽ không có kết thúc tốt đẹp đâu.”
Cách cô nói như muốn ám chỉ rằng mọi lời hứa sau này sẽ phụ thuộc vào điều này. Sự chú ý của cô, tình bạn của cô, thế giới xa hoa này.
“Tớ đã nói là tớ sẽ không làm thế mà.” Tôi không quen với việc bị sai bảo, bị ra lệnh. Từ khi tôi 14 tuổi thì chỉ có tôi và bà sống với nhau, và vào thời điểm cuộc nói chuyện diễn ra thì bà tôi mới mất được sáu tháng.
Sadie nháy mắt đầy ẩn ý. “Tất cả các cô nàng trước đó đều nói thế.”
Parker Loman ngày nay đã cao lớn hơn rất nhiều, tự tin hơn. Anh không còn là chàng trai ngại ngùng ở hành lang ngày xưa nữa. Nhưng tôi vẫn giơ tay lên chào anh giống như tôi đã làm hồi đó, và anh ấy cũng vậy. “Chào anh, em đã thử nhắn tin cho anh trước đó.”
Anh gật đầu và tiếp tục bước xuống. “Anh thay số rồi, đây.” Anh đưa tay lấy điện thoại của tôi và tự nhập liên lạc của mình. Tôi tự hỏi liệu có phải anh đã đổi số vì Luce không. Hoặc Sadie. Liệu có phải vì có quá nhiều người gọi cho anh, bạn bè chia buồn, nhà báo đang tìm kiếm tin tức giật tít, những người quen cũ bỗng xuất hiện khi bi kịch xảy ra. Hoặc có thể anh muốn thanh lọc danh sách của mình, thu nhỏ mối quan hệ của anh lại và chỉ giữ những người quan trọng nhất, đồng thời thu nạp thêm những người mới, giống như tôi đã từng làm.
“Buổi hẹn ăn trưa diễn ra lúc mấy giờ?” - Tôi hỏi anh.
“Nó được lên kế hoạch lúc 1 giờ 30. Anh đã ghi thêm tên em. Em có muốn đi cùng xe với anh không?”
Tôi ngạc nhiên, không phải chỉ vì anh nhớ, mà còn vì anh đã thực sự làm theo những gì mình nói. “Em có vài việc lặt vặt phải làm, em nghĩ mình tự đi xe sẽ tốt hơn.”
“Được rồi, hẹn gặp lại ở đó.” Anh đi về phía sau theo hướng đến nhà để xe. “Anh cũng phải đi siêu thị mua đồ lặt vặt. Trong nhà không còn gì cả. Đúng hơn là không có gì ngoài rượu whisky.” - Anh cười nhếch mép. “Em có cần món gì không?”
Trong giây phút mất cảnh giác, tôi đã quên mất là anh có sức quyến rũ thế nào. “Không!” - Tôi nói. “Em không cần gì cả.”
“Vậy anh sẽ để em đi hoàn thành công việc của mình!” - Anh nói lớn trong khi vẫn mỉm cười.
Tôi đi theo một con đường quen thuộc. Đi theo con dốc xuống Landing Lane, duỗi chân để giãn cơ trong khi lái xe. Tôi lái xe đến rìa trung tâm thành phố trước khi quay trở lại và dừng xe tại Bãi biển Breaker.
Tháng 8 ở Littleport từng là thời điểm tôi yêu thích nhất trong năm, vì sự hòa hợp của cả hai mùa.
Không khí mát mẻ, dễ chịu khiến cho tâm trạng của con người hưng phấn và cảm giác thoải mái hơn, còn thị trấn thì như đang chuyển động không ngừng bởi thời tiết tuyệt vời này. Nơi này được đặt theo tên của gia đình nhà Little, nhưng tất cả mọi người ở đây - cả cư dân lẫn khách du lịch thì trong tiềm thức của họ cái tên này được hiểu theo đúng nghĩa đen. Trong trung tâm thị trấn tất cả mọi thứ đều phải thật nhỏ. Bảng hiệu gỗ nhỏ với các chữ cái vẽ tay nhỏ xinh, mái hiên thấp nhỏ, ván hẹp.
Trong suốt kỳ nghỉ hè, các vị khách ngồi ở những chiếc bàn nhỏ hướng ra biển, họ cùng nhau uống rượu từ những chiếc ly nhỏ và thầm thì nói chuyện với nhau. Những chiếc đèn nhỏ được treo trên những chiếc bè, giống như muốn nói: Ở đây lúc nào cũng là kỳ nghỉ.
Đó là một vở kịch mà tất cả chúng tôi đều có vai của riêng mình.
Nhưng chỉ cần bước ra ngoài trung tâm thị trấn là vở kịch sẽ biến mất. Những ngôi nhà mùa hè cao hai, ba tầng trên những khoảng sân có cảnh quan hoàn hảo, thậm chí trên các vách đá còn có những ngôi nhà cao hơn. Những con đường dài lát đá, trải dài bao quanh hiên nhà là những bờ tường đá, cửa sổ đẹp như một bức chân dung phản chiếu bầu trời và mặt biển. Đẹp và tráng lệ đến kinh ngạc.
Tôi lớn lên gần rìa trung tâm của thị trấn, trong một nông trại có ba phòng ngủ, một trong số đó đã được chuyển thành xưởng vẽ cho mẹ tôi. Mẹ tôi đã lột tấm thảm trải sàn và tháo bỏ cánh cửa tủ quần áo, xếp chật các kệ với màu sơn và thuốc nhuộm. Mỗi phòng đều được sơn một màu sáng khác nhau, ngoại trừ xưởng vẽ, như thể mẹ cần một bảng màu trống và trung tính để tưởng tượng vậy.
Từ nhà của chúng tôi chỉ có thể nhìn thấy những hàng cây, và nếu nhìn xa hơn một chút thì sẽ là con thuyền của nhà Harlow. Connor và tôi từng hay chạy thi ở con đường mòn phía sau nhà, chúng tôi thường khiến những người đi bộ hoảng sợ nhưng chẳng có gì có thể cản bước chúng tôi.
Ngôi nhà gỗ của bà tôi, nơi tôi đã sống trong suốt những năm tháng tuổi thiếu niên, nằm trong một khu nhà gần bờ sông cũ. Mùi hương của nhựa thông và sơn quen thuộc đã bị thay thế bởi mùi hương ngọt ngào của những bông hồng và mùi mặn của không khí biển. Các gia đình ở Stone Hollow đã sinh sống ở đây qua nhiều thế hệ, họ vẫn ở trong những căn nhà tổ tiên để lại mà không hề bán đi dù cho giá nhà đã tăng rất cao.
Tôi biết mọi thứ về nơi đây, dù đã phải sống cảnh nay đây mai đó và từng có thời điểm thực sự tin vào phép thuật của nơi đây.
Tôi dừng chạy khi đến Bãi biển Breaker, hai tay chống vào gối cố thở lấy hơi, lớp cát mịn đã phủ kín đôi giày thể thao của tôi. Vào cuối ngày, khách du lịch sẽ tập trung tại đây để tắm nắng. Những đứa trẻ sẽ xây những lâu đài cát hoặc chạy đuổi theo sóng, nước rất lạnh ngay cả trong cái nóng của mùa hè.
Nhưng bây giờ, tôi là người duy nhất ở đây.
Cát vẫn còn ẩm từ cơn bão đêm qua, và tôi có thể thấy một dấu chân khác băng qua bãi biển, kết thúc ở đây, ngay trước bãi đậu xe.
Tôi đi bộ trên bãi cát về phía rìa của vách đá, đến những bậc đá được khắc vào con dốc. Dấu chân dừng lại đột ngột ở đây, giống như ai đó đã đi xuống con đường này nhưng theo hướng khác, rời khỏi nhà.
Tôi dừng lại, tay đặt trên những tảng đá lạnh lẽo, cái lạnh của tảng đá lan dần lên tay tôi. Tôi nhìn những cồn cát ở phía sau và tưởng tượng một hình bóng của ai đó đã từng ở đây. Những dấu chân này vẫn còn mới, chưa bị thủy triều cuốn đi. Một lần nữa, tôi lại có cảm giác rằng có ai đó đã ở đây.
Vụ mất điện đêm qua, tiếng động kỳ lạ trong bóng tối, dấu chân sáng nay.
Tôi lắc đầu để ngăn mình không nghĩ quá xa, tôi luôn làm như vậy, luôn cố gắng nghĩ trước mọi tình huống có thể xảy ra để có thể bình tĩnh đối phó. Một thói quen được hình thành vào thời điểm khi tôi chỉ có thể tin vào bản thân và những điều tôi biết.
Có thể Parker đã ra ngoài lúc sáng sớm và chạy vài vòng. Nhưng cuộc gọi về cú đột nhập lần thứ hai khiến tôi lo sợ. Giấc mơ lạc lõng nơi biển khơi vẫn còn đọng lại trong tâm trí tôi - ký ức về những điều mẹ thì thầm vào tai tôi khi bà vẽ tranh, bà sẽ bảo tôi nhìn bức tranh: Nhìn kỹ xem! và bà sẽ bảo tôi tả lại cho bà những gì tôi thấy, mặc dù đối với tôi các bức tranh bà vẽ đều trông giống hệt nhau.
Chính nơi này và những chuyện đã xảy ra ở đây đã khiến tôi luôn tìm kiếm thứ gì đó không tồn tại.
Đây là nơi Sadie được tìm thấy. Một cuộc gọi cho cảnh sát vào khoảng 22 giờ 45 phút, từ một người đàn ông dắt chó đi dạo đêm đó. Một người dân bản địa, người biết chính xác những điều có thể xảy ra ở đây. Người đàn ông nhìn thấy thứ gì đó trong bóng tối, một màu xanh lấp lánh dưới ánh trăng.
Chân của cô bị kẹt trong những tảng đá lộ ra khi thủy triều rút xuống. Giống như những con sóng đã bỏ mặc lại cô khi quay trở về đại dương vậy.