Bóng tối bao trùm ngục thất, nhưng trong đầu Katsa vốn đã có sẵn một tấm bản đồ. Cho tới giờ, tấm bản đồ vẫn tỏ ra chuẩn xác, như mọi bản đồ mà Oll thường vẽ. Katsa rờ tay dọc theo những bức tường lạnh lẽo, đếm số cửa và hành lang trên đường nàng đi. Nàng rẽ khi đến chỗ cần rẽ; rồi cuối cùng dừng lại trước một khoảng không gian trống chắc hẳn phải có một cầu thang dẫn lối đi xuống. Nàng khom người, đưa hai tay dò dẫm. Có một bậc thang bằng đá, đóng rêu trơn ướt, và một bậc bên dưới nữa. Quả nhiên đây là cầu thang mà Oll nhắc đến. Nàng chỉ mong lúc mang đuốc đi theo nàng, ông cùng Giddon sẽ trông thấy đám rêu trơn ướt và sẽ nhón chân thật khẽ thay vì sầm sầm cắm đầu cắm cổ lao xuống cầu thang khiến cả người chết cũng bị kinh động.
Katsa lẩn xuống cầu thang. Một lần rẽ trái, hai lần rẽ phải. Nàng bắt đầu nghe thấy tiếng nói chuyện khi bước vào một hành lang tối được ngọn đuốc trên tường soi tỏ bằng thứ ánh sáng màu cam lập lòe. Đối diện ngọn đuốc là một hành lang khác mà theo lời Oll, từ đầu lối vào cho đến tận cái xà lim nằm cuối hành lang, bất kỳ chỗ nào cũng có thể có chừng hai đến mười lính gác đứng canh.
Nhiệm vụ của Katsa là xử lý đám lính gác. Chính vì chúng mà nàng mới được cử tới đây.
Katsa rón rén bước theo hướng ánh sáng và tiếng cười đùa. Đáng ra nàng có thể dừng lại lắng nghe để ước tính chính xác hơn mình sẽ phải đối đầu với bao nhiêu tên lính, song không còn thì giờ nữa. Nàng kéo sụp mũ trùm đầu, ngoặt quanh góc rẽ.
Suýt chút nữa nàng đã vấp chân ngã nhào lên bốn nạn nhân đầu tiên của mình vốn lúc này đang ngồi giạng chân, đối diện nhau trên sàn nhà, xây lưng lại tường, không khí nồng lên mùi của thứ đồ uống loại mạnh chúng mang theo để nốc cho qua giờ gác. Katsa vừa đấm vừa đá vào thái dương, vào cổ chúng, và bốn tên lính gác chưa kịp sửng sốt thì đã nhất loạt đổ gục xuống sàn.
Chỉ còn duy nhất một tên lính gác đang ngồi trước song sắt phòng giam cuối hành lang. Hắn lồm cồm bò dậy, rút kiếm ra khỏi bao. Katsa tiến đến chỗ hắn, biết chắc ngọn đuốc sau lưng nàng sẽ khiến hắn không thể nhìn rõ khuôn mặt, đặc biệt là đôi mắt nàng. Nàng ước chừng khổ người hắn, dõi theo cử động của hắn, cân nhắc độ vững chắc của cánh tay đang chĩa kiếm về phía mình. “Đứng lại! Ta biết ngươi là ai rồi.” Giọng hắn vẫn bình tĩnh. Một kẻ can đảm đây. Hắn vung kiếm cảnh báo. “Ta không sợ ngươi đâu.”
Bất thình lình hắn đâm kiếm tới. Nàng cúi né đường kiếm, tung chân đá vào thái dương hắn. Hắn ngã nhào xuống đất.
Nàng bước qua người hắn, chạy tới chỗ song sắt, nheo mắt nhìn vào bóng tối bao phủ xà lim. Một hình dáng thu lu ép sát vào tường, một người do quá mệt hoặc quá lạnh nên chẳng buồn bận tâm đến vụ ẩu đả đang diễn ra. Tay bó quanh chân, đầu kẹp giữa hai gối. Ông đang run rẩy - nàng có thể nghe thấy tiếng ông thở. Nàng nhích sang bên, để ánh đuốc rọi vào bóng hình co ro của ông. Tóc ông bạc, cắt sát da đầu. Nàng trông thấy ánh vàng lóe lên chỗ tai ông. Những tấm bản đồ của Oll đúng là rất hiệu quả, vì ông lão này là một người Lienid. Ông chính là người họ đang tìm kiếm.
Nàng kéo chốt cửa. Bị khóa rồi. Chà, chẳng có gì lạ, và với nàng chuyện này cũng không thành vấn đề. Nàng huýt một tiếng thật khẽ, như tiếng cú đêm. Lật ngửa tên lính can đảm lên, nàng bỏ một viên thuốc vào miệng hắn. Nàng chạy lên hành lang, lật ngửa bốn tên lính xui xẻo nằm kề nhau, lần lượt bỏ vào miệng mỗi tên một viên thuốc. Đúng lúc nàng bắt đầu tự hỏi không biết Oll và Giddon có lạc đâu mất giữa chốn ngục thất này không thì họ xuất hiện ở góc rẽ, đi lướt qua nàng.
“Đúng mười lăm phút, không hơn,” nàng nói. “Đúng mười lăm phút, thưa tiểu thư.” Tiếng Oll oang oang. “Xin hãy cẩn trọng.”
Ánh đuốc của ba người hắt lên tường xà lim khi họ bước vào trong. Người đàn ông Lienid rên rỉ siết chặt vòng tay hơn. Katsa thoáng liếc nhìn y phục lấm lem tơi tả trên người ông. Nàng nghe thấy tiếng đống dụng cụ mở khóa của Giddon cọ vào nhau leng keng. Nàng những muốn nán lại xem họ mở cửa, nhưng nàng còn có công chuyện ở nơi khác. Nàng nhét túi thuốc vào trong ống tay áo rồi chạy đi.
Lính gác xà lim báo tin cho cai ngục, cai ngục lại báo tin cho lính gác cấp dưới. Lính gác cấp dưới báo tin cho lính gác lâu đài. Lính gác đêm, lính gác của nhà vua, lính gác tường thành, lính gác vườn đều báo tin cho lính gác lâu đài. Ngay khi một tên lính thấy thiếu người, hắn sẽ rung chuông báo động, và nếu Katsa cùng đám người của nàng không kịp cao chạy xa bay, tất cả sẽ thành công cốc. Họ sẽ bị truy đuổi, sẽ có đổ máu; bọn chúng sẽ nhìn thấy mắt nàng và nàng sẽ bị lộ. Vì thế, nàng phải hạ gục tất cả, từng tên lính gác một. Oll dự đoán có khoảng hai mươi tên. Hoàng tử Raffin đã chế cho nàng ba mươi viên thuốc dự phòng.
Nàng không gặp mấy khó khăn với hầu hết đám lính gác. Nếu nàng có thể lén đến gần chúng, hoặc nếu chúng tụm thành nhóm nhỏ, chúng sẽ chẳng bao giờ biết mình bị cái gì đánh phải. Gã lính gác lâu đài thì phiền hà hơn, vì có đến năm tên đứng canh buồng hắn. Nhoáng cái nàng đã hạ gục cả đám bằng những cú đá, huých rồi đánh, và tên lính gác lâu đài liền nhảy phóc ra khỏi cái bàn trong buồng gác, lao mình qua cửa, phóng vào giữa hiện trường ẩu đả.
“Hễ gặp Thiên Nhân là ta nhận ra liền.” Hắn xọc mạnh kiếm, nàng vội xoay người né. “Cho ta xem mắt ngươi màu gì nào, thằng nhãi. Ta sẽ khoét mắt ngươi ra. Đừng tưởng ta không dám.”
Nàng cảm thấy hơi phấn khích khi đập cán dao vào đầu hắn khiến hắn ngã gục. Nàng túm tóc kéo ngửa hắn lên rồi bỏ một viên thuốc lên lưỡi hắn. Khi tỉnh dậy trong nỗi hổ thẹn và cơn váng vất, đám lính đều sẽ khai rằng thủ phạm là một gã Thiên Nhân, được Thiên Phú tài giao đấu, hành động một mình. Chúng đồ rằng nàng là con trai, vì nàng trông chẳng khác gì con trai khi mặc quần vải trơn đội mũ trùm, và vì chẳng ai ngờ rằng kẻ tấn công mình lại là một cô gái. Và không ai trong số họ thoáng thấy bóng dáng Oll hay Giddon: nàng đã lo liệu chuyện đó.
Sẽ chẳng ai nghĩ đó là nàng. Dù cho Thiên Nhân Tiểu thư Katsa có là người như thế nào đi chăng nữa thì nàng cũng không thể là một tội nhân cải trang lảng vảng quanh sân lúc nửa đêm. Hơn nữa, người ta vẫn đinh ninh lúc này nàng đang trên đường về miền Đông rồi. Vừa sáng nay thôi, trước sự chứng kiến của toàn thành phố, ông bác Randa của nàng, vua xứ Middluns, đã tiễn chân nàng cùng hai người tùy tùng, Thủ lĩnh Oll và Giddon, phó tướng của Randa. Phải mất một ngày trời vất vả phóng ngựa ngược đường, nàng mới có thể đặt chân đến cung điện của vua Murgon.
Katsa chạy qua sân, lướt qua những luống hoa, vòi nước, những bức tượng Murgon bằng cẩm thạch. Một khoảnh sân quả thật khá dễ chịu so với một ông vua khó chịu đến vậy; ngan ngát hương cỏ, mùi đất đai màu mỡ, ngào ngạt mùi hương của những đóa hoa ngậm đẫm sương đêm. Nàng lao qua vườn táo của Murgon, bỏ lại đằng sau một hàng dài lính gác bị đánh thuốc mê. Bị đánh thuốc chứ không chết: một sự khác biệt quan trọng. Oll và Giddon, cùng hầu hết thành viên còn lại của Hội đồng bí mật, đều muốn nàng giết họ. Nhưng trong cuộc họp nhằm lên kế hoạch cho nhiệm vụ lần này, nàng đã lý luận rằng giết họ cũng chẳng tiết kiệm được chút thời gian nào.
“Nhỡ chúng tỉnh dậy thì sao?” Giddon hỏi.
Hoàng tử Raffin phật lòng. “Ngươi không tin vào thuốc của ta sao. Chúng sẽ không tỉnh dậy đâu.”
“Giết quách chúng đi cho nhanh,” Giddon nói, đôi mắt nâu lộ vẻ kiên quyết. Nhiều mái đầu gật gù trong bóng tối.
“Tôi có đủ thời gian để đánh thuốc mê bọn chúng,” Katsa nói, và khi Giddon toan cất tiếng phản đối, nàng giơ tay lên. “Đủ rồi. Tôi sẽ không giết họ. Nếu mấy người muốn họ chết thì hãy cử người khác đi.”
Oll bèn mỉm cười, vỗ lưng vị tướng trẻ. “Nghĩ mà xem, tướng Giddon, thế chẳng phải thú hơn sao? Vụ cướp hoàn hảo, qua mặt hết thảy đám lính gác của Murgon, mà không ai thiệt hại gì? Trò hay đây.”
Căn phòng như vỡ ra trong tiếng cười, nhưng Katsa thậm chí chẳng hề nhếch môi. Nàng sẽ không giết người, không đời nào làm vậy trừ phi tình thế bắt buộc. Người chết rồi thì không thể sống lại, và nàng đã giết chóc đủ rồi. Chủ yếu là vì bác của nàng. Vua Randa thấy nàng được việc. Khi bọn phiến loạn ở biên giới gây rối, việc gì phải cử cả đội quân khi chỉ cần duy nhất một đại diện?
Làm vậy tiết kiệm hơn rất nhiều. Nhưng nàng cũng đã giết người vì Hội đồng, khi không cách nào tránh né được. Lần này thì có thể tránh chuyện đó.
Đến cuối vườn cây ăn quả, nàng bắt gặp một lính gác già, có lẽ cũng già như ông cụ người Lienid vậy. Ông ta đứng dưới một lùm cây nhỏ, tì người lên kiếm, lưng khom xuống. Nàng lẻn ra sau lưng ông và dừng lại. Bàn tay nắm cán kiếm của ông run lẩy bẩy.
Nàng không mấy nể trọng một vị vua không cho lính gác của mình nghỉ hưu an dưỡng khi họ đã quá già không còn đủ sức giữ chặt cây kiếm.
Thế nhưng nếu nàng tha cho người lính gác già, ông ta sẽ phát hiện ra những kẻ đã bị nàng hạ gục và rung chuông báo động. Nàng đánh mạnh lên gáy ông ta, ông liền quỵ xuống, thở hắt ra. Nàng đưa tay đỡ rồi hạ ông xuống đất, nhẹ nhàng hết mức, sau đó bỏ một viên thuốc vào miệng ông ta. Tay nàng lướt qua cục u nổi trên đầu ông. Nàng thầm mong đầu ông đủ cứng.
Nàng từng có lần ngộ sát, một ký ức luôn thường trực trong trí nhớ của nàng. Ký ức về cách Thiên Năng của nàng phát lộ, một câu chuyện từ mười năm trước. Khi ấy nàng chỉ là đứa trẻ chưa đầy tám tuổi. Một người anh họ xa tới thăm hoàng cung. Nàng không thích hắn - mùi nước hoa nồng nặc của hắn, ánh nhìn dâm đãng hắn dành cho các thị nữ hầu hạ, cặp mắt hau háu bám theo các cô khắp phòng, và cả cái kiểu hắn sờ soạng người ta khi cho rằng không có ai nhìn thấy. Khi hắn bắt đầu chú ý đến Katsa, nàng trở nên cảnh giác. “Cô bé mới xinh xắn làm sao,” hắn nói. “Mắt của Thiên Nhân thường không được hấp dẫn cho lắm. Nhưng may mắn cho em, đôi mắt lại càng làm em xinh hơn. Thiên Năng của em là gì, bé yêu? Kể chuyện ư? Hay đọc suy nghĩ của người khác? Anh biết rồi. Em là vũ công.”
Khi đó Katsa còn chưa biết gì về Thiên Năng của mình. Một số Thiên Năng bộc lộ muộn hơn những Thiên Năng khác. Nhưng dù có biết, nàng cũng sẽ chẳng buồn nói với gã anh họ này. Nàng quắc mắt nhìn hắn rồi ngoảnh mặt đi. Nhưng đúng lúc đó hắn lại đưa tay vuốt cẳng chân nàng, vậy là nàng bèn vung tay đập vào mặt hắn. Cú đánh nhanh và mạnh tới mức xương mũi hắn đập vào tận óc.
Các bà các cô trong triều hét lên; có người còn ngất xỉu. Khi người ta nhấc hắn ra khỏi vũng máu trên sàn và phát hiện ra hắn đã chết, cả triều đình im bặt, lùi ra xa. Những con mắt khiếp sợ - giờ không chỉ từ cánh phụ nữ mà còn cả của binh lính và các phó tướng mang kiếm bên mình - nhất loạt chĩa vào nàng. Chẳng có gì không ổn khi chén các món ăn được chế biến dưới bàn tay người đầu bếp cung đình được Thiên Phú tài nấu nướng, hay mang ngựa đến nhờ mã y được Thiên Phú của nhà vua. Nhưng một đứa con gái có Sát Năng ư? Rõ là chẳng thể an toàn với đứa trẻ này.
Nếu là một vị vua khác thì hẳn đã xua đuổi nàng, hoặc giết nàng, dù nàng có là con của em gái người. Nhưng Randa rất khôn ngoan. Hắn biết thừa sẽ đến lúc cô cháu gái tỏ ra hữu dụng. Hắn đưa nàng về phòng riêng, nhốt nàng hẳn mấy tuần để trừng phạt, nhưng chỉ vậy thôi. Khi nàng xuất hiện, thiên hạ nhất loạt lủi ra xa. Trước đây họ chưa hề yêu quý nàng, vì người ta có bao giờ yêu quý các Thiên Nhân đâu, nhưng chí ít họ cũng chịu đựng sự có mặt của nàng. Giờ thì chẳng ai buồn giả vờ tỏ ra thân thiện nữa. “Hãy coi chừng con bé một mắt xanh lục, một mắt xanh lam,” họ thầm thì với khách khứa. “Chỉ bằng một cú đánh mà nó đã giết chết ông anh họ đấy. Vì anh ta khen mắt nó đẹp.” Đến cả Randa cũng tránh xa nàng. Một con chó sát nhân có thể hữu dụng đối với nhà vua, nhưng ngài chẳng hề muốn nó ngủ ngay dưới chân mình.
Hoàng tử Raffin là người duy nhất muốn làm bạn với nàng. “Em sẽ không làm thế nữa chứ? Anh không nghĩ là cha anh sẽ để mặc em thích giết ai thì giết đâu.”
“Em đâu có định giết hắn,” nàng nói. “Vậy chuyện gì đã xảy ra?”
Katsa nhớ lại. “Em cảm thấy mình đang gặp nguy hiểm. Vì thế em đã đánh hắn.”
Hoàng tử Raffin lắc đầu. “Em phải biết điều khiển Thiên Năng,” chàng nói. “Đặc biệt là Sát Năng. Em phải làm được, nếu không cha anh sẽ không cho chúng mình gặp nhau nữa đâu.”
Ý nghĩ này thật đáng sợ. “Em không biết phải điều khiển thế nào.”
Raffin suy nghĩ một hồi. “Em nên hỏi Oll. Các mật thám của nhà vua luôn biết cách gây tổn thương mà không cần hạ sát. Nhờ thế họ mới moi được thông tin.”
Raffin đã mười một, lớn hơn Katsa ba tuổi, và theo nhận thức non nớt của nàng thì chàng vô cùng khôn ngoan. Nghe theo lời khuyên của chàng, nàng tìm đến Oll, thủ lĩnh đội mật thám đồng thời là viên tướng lão luyện của vua Randa. Oll không hề ngốc nghếch; ông biết mình nên e sợ cô bé ít nói mỗi mắt một màu xanh này. Nhưng ông cũng có những suy nghĩ riêng. Ông thắc mắc một điều chưa ai từng thắc mắc, rằng liệu có thể nào Katsa chẳng hề sửng sốt trước cái chết của ông anh họ như tất cả những người khác? Và càng suy nghĩ về chuyện này, ông càng tò mò về tiềm năng của nàng.
Ông bắt đầu chương trình luyện tập bằng cách đặt ra các quy định. Nàng sẽ không tập với ông, cũng không tập với quân lính của nhà vua. Nàng sẽ tập với đám bù nhìn tự khâu bằng bao tải rồi nhồi thóc vào. Nàng sẽ tập với các tù nhân đã bị tuyên án tử hình mà Oll mang đến.
Ngày nào nàng cũng luyện tập. Nàng luyện được tốc độ và uy lực dữ dội của mình. Nàng phân biệt góc độ, vị trí và cường độ của cú đánh đoạt mệnh so với ngón đòn chỉ gây thương tật. Nàng học cách tước vũ khí của người khác, cách đốn giò, cách vặn tay khiến đối phương ngay lập tức ngừng chống cự mà chỉ còn biết van vỉ xin tha. Nàng học cách giao đấu bằng kiếm, dao và dao găm. Nàng mau lẹ, tập trung và sáng tạo tới mức có thể đánh đối phương bất tỉnh ngay cả khi hai tay bị trói ra sau. Thiên Năng của nàng là thế.
Đến khi khả năng kiểm soát của nàng tiến bộ hẳn, nàng bắt đầu luyện tập với đám lính của Randa - tám hoặc mười người cùng lúc, tất thảy đều áo giáp chỉnh tề. Những buổi tập của nàng chẳng khác nào cuộc trình diễn ngoạn mục: đám người lớn gầm gừ, vụng về loảng xoảng giáp khiên, cô bé gái tay không lao nhanh như gió rồi nhào vào giữa bọn họ, chỉ bằng một đầu gối, một bàn tay mà khiến đối thủ chưa kịp biết gì đã ngã lăn xuống đất. Thi thoảng triều thần cũng đến xem nàng tập. Nhưng hễ bị nàng nhìn thấy là họ cụp mắt xuống vội vã bỏ đi.
Vua Randa không lấy làm phiền lòng vì Oll tốn thời gian cho vụ này. Hắn cho rằng chuyện đó cần thiết. Katsa sẽ không hữu dụng khi nàng còn chưa được kiểm soát.
Và lúc này ở sân vườn của vua Murgon, không ai có thể chê trách khả năng kiểm soát của nàng. Nàng di chuyển lẹ làng không một tiếng động qua bãi cỏ bên những lối đi rải sỏi. Giờ Oll và Giddon hẳn đã gần đến bức tường bao quanh khu vườn, nơi hai người hầu của Murgon và đồng thời là bạn của Hội đồng, đang trông nom bầy ngựa. Nàng cũng đã gần đến đó; nàng đã trông thấy trước mặt mình là một dải tối, màu đen in bóng trên nền trời đen thẳm.
Nàng suy nghĩ mông lung, nhưng không hề mơ màng. Các giác quan của nàng đều thính nhạy. Nàng nghe rõ tiếng nghiêng chao của từng chiếc lá, tiếng trở mình của mỗi nhành cây trong khu vườn. Thế nên nàng không khỏi sửng sốt khi một người đàn ông nhảy ra khỏi bóng tối chộp lấy nàng từ phía sau. Hắn quàng tay quanh ngực nàng, gí dao vào cổ họng nàng. Hắn chực cất tiếng, nhưng trong chớp mắt nàng đã làm cánh tay hắn tê dại, giật con dao khỏi tay hắn và quẳng xuống đất. Nàng văng hắn qua vai mình về phía trước.
Hắn vẫn đứng vững.
Nàng nghĩ thật nhanh. Hắn có Thiên Năng, một đấu sĩ. Điều này thì đã rõ. Và hắn hẳn phải biết nàng là con gái trừ phi hắn không có cảm giác gì khi chạm tay vào ngực nàng.
Hắn xoay người đối diện với nàng. Họ nhìn nhau cảnh giác, hai người chỉ như hai cái bóng trước mặt nhau. Hắn lên tiếng. “Tôi từng nghe nói về một quý cô có Thiên Năng thế này.” Giọng hắn trầm và khàn. Thanh âm du dương; không phải giọng nói nào nàng từng nghe. Nàng phải xem hắn là ai để còn tính cách xử lý.
“Tôi không thể hiểu nổi quý cô đó có thể làm gì ở xa nhà đến nhường này, lại còn chạy khắp sân điện của vua Murgon lúc nửa đêm nữa chứ,” hắn nói. Hắn dịch người, chắn giữa nàng và bức tường. Hắn cao hơn nàng, động tác uyển chuyển như mèo. Tưởng như bình thản nhưng luôn sẵn sàng nhào tới. Một ngọn đuốc trên lối đi gần đó rọi qua làm đôi khuyên nhỏ bằng vàng trên tai hắn lóe sáng. Hắn không để râu, đúng kiểu dân Lienid.
Nàng di chuyển, hơi lắc người, cơ thể sẵn sàng, hệt như hắn. Nàng không còn thời gian cân nhắc. Hắn đã biết nàng là ai. Nhưng nếu hắn là người Lienid thì nàng không muốn hạ sát hắn.
“Cô không có gì muốn nói sao, tiểu thư? Cô không nghĩ là tôi sẽ để cô ra đi không lời giải thích đó chứ?” Có chút cợt nhả trong giọng hắn.
Nàng lặng lẽ quan sát hắn. Hắn dang tay ra, động tác uyển chuyển, và nàng trông thấy rõ những chiếc nhẫn vàng lóe sáng trên ngón tay hắn. Vậy là đủ. Khuyên tai, nhẫn, giọng nói du dương - thế là đủ.
“Ngươi là dân Lienid,” nàng tuyên bố. “Cô tinh mắt đấy,” hắn nói.
“Tinh thì đã biết mắt ngươi màu gì.”
Hắn cười ha hả. “Tôi nghĩ mình đã biết màu mắt cô rồi.”
Lý trí bảo nàng nên giết hắn. “Ngươi mà cũng nói chuyện xa nhà sao,” nàng nói. “Vậy một gã Lienid làm gì trong cung điện của vua Murgon thế?”
“Tôi sẽ cho cô biết mục đích của tôi nếu cô cho tôi biết mục đích của cô.”
“Ta sẽ không nói gì hết, và ngươi phải để ta đi.” “Vậy sao?”
“Nếu không, ta sẽ ra tay đấy.” “Cô nghĩ cô làm được sao?”
Nàng dứ đòn bên phải, hắn tránh thoát dễ dàng. Nàng làm lại, nhanh hơn nhiều. Một lần nữa, hắn lại dễ dàng thoát khỏi nàng. Hắn rất giỏi. Nhưng nàng lại là Katsa.
“Ngươi biết rõ ta làm được,” nàng nói.
“À.” Giọng hắn bông đùa. “Nhưng có lẽ cô sẽ mất nhiều thời gian đấy.”
Tại sao hắn lại đùa giỡn với nàng? Tại sao hắn không báo động? Có lẽ chính hắn cũng là tội phạm, một tội phạm có Thiên Năng. Trong trường hợp đó, hắn là đồng minh hay kẻ thù? Chẳng phải một người Lienid sẽ ủng hộ nàng giải cứu một tù nhân Lienid hay sao? Phải - trừ phi hắn là kẻ phản bội. Hoặc trừ phi gã Lienid này còn chẳng biết ai đang bị giam giữ trong ngục thất của Murgon - Murgon rất giỏi giữ bí mật.
Hội đồng sẽ bảo nàng hạ sát hắn. Hội đồng sẽ nói rằng nếu tha mạng cho một kẻ biết danh tính của nàng thì có nghĩa nàng đã gây nguy hiểm cho họ. Nhưng hắn không giống bất kỳ tên tội phạm nào nàng từng gặp. Hắn không tỏ ra hung bạo, ngu ngốc hay nguy hiểm.
Nàng không thể giết một người Lienid trong lúc giải cứu một người Lienid khác.
Nàng là con ngốc, và rất có thể nàng sẽ phải ân hận, nhưng nàng sẽ không ra tay.
“Tôi tin cô,” hắn chợt nói. Hắn bước tránh sang bên và phẩy tay ra dấu cho nàng đi tiếp. Nàng thấy hắn thật kỳ lạ, và bốc đồng nữa, nhưng nàng biết hắn đã bớt đề phòng, mà nàng vốn không phải kẻ hay bỏ lỡ cơ hội. Trong nháy mắt nàng tung chân đá vào trán hắn. Hắn trợn trừng mắt kinh ngạc, rồi hắn ngã xuống đất.
“Có lẽ ta không cần làm thế.” Nàng duỗi thẳng người hắn, đôi chân bất động của hắn nặng trịch. “Nhưng ta không biết nên nghĩ sao về ngươi, và để ngươi sống là ta đã quá mạo hiểm rồi.” Nàng moi thuốc ra khỏi ống tay áo, bỏ một viên vào trong miệng hắn. Nàng xoay mặt hắn về phía ánh đuốc. Hắn trẻ hơn nàng tưởng, không lớn hơn nàng là bao, cùng lắm là mười chín hai mươi. Máu chảy thành dòng từ trên trán qua tai hắn. Cổ áo hắn để hở, ánh đuốc chờn vờn trên đường xương đòn.
Một nhân vật kỳ lạ. Có thể Raffin biết hắn. Nàng giật mình. Họ đang đợi.
Nàng chạy đi.
Chuyến đi khá vất vả. Họ buộc ông lão vào con ngựa, vì ông yếu quá không ngồi thẳng được. Họ chỉ dừng chân đúng một lần để khoác thêm chăn cho ông.
Katsa sốt ruột muốn đi tiếp. “Ông ta không biết bây giờ là giữa mùa hè sao?”
“Ông ấy lạnh toát, thưa tiểu thư,” Oll nói. “Ông ấy run lẩy bẩy, lại còn đang ốm. Nếu để ông ấy chết giữa đường thì chúng ta giải cứu ông ấy cũng có ích gì chứ.”
Họ định dừng chân nghỉ ngơi, nhóm lửa, nhưng không có thời gian. Họ phải về đến thành Randa trước khi trời sáng, nếu không muốn bị phát hiện.
Đáng lẽ mình nên giết hắn mới phải, nàng ngẫm nghĩ khi họ sầm sập lao qua những khu rừng tối. Đáng lẽ mình nên giết hắn. Hắn đã biết mình là ai.
Nhưng hắn không có vẻ đáng sợ hay khả nghi. Hắn chủ yếu là tò mò. Hắn còn tin nàng nữa.
Thế nhưng, hắn không hề biết về hàng dài lính gác bị đánh thuốc mê mà nàng bỏ lại phía sau. Và hắn sẽ không tin nàng nữa khi tỉnh dậy với vết sưng trên trán.
Nếu hắn kể với vua Murgon về cuộc chạm trán với nàng, và nếu Murgon kể cho vua Randa biết, tiểu thư Katsa có thể sẽ gặp rắc rối to. Randa không biết gì về người tù Lienid, lại càng không biết công việc ban đêm của Katsa là đi cướp ngục.
Katsa lắc đầu thất vọng. Suy nghĩ như thế phỏng có ích gì khi chuyện đã rồi. Họ cần đưa ông cụ đến nơi ấm áp, an toàn, và về với Raffin. Nàng rạp người, thúc ngựa chạy về phương Bắc.