Hiện tại
NGƠ NGẨN NHƯ MỘT CÔ BÉ TIỂU HỌC, dọc đường về tôi chỉ nghĩ tới Ben. Từ khi 7 tuổi, tôi hình dung anh trong những ký ức về ngôi nhà kinh hoàng: Ben, tóc đen, gương mặt mịn màng non choẹt, hai tay siết chặt cán rìu, đang bổ xuống Debby ở hành lang, tiếng gầm gừ phát ra từ đôi môi mím chặt của anh. Mặt Ben lấm tấm những vết máu, anh hú lên và đặt khẩu súng săn lên vai.
Tôi đã quên mất một Ben nhút nhát và lạnh lùng, với những tâm tính kỳ quặc khiến người khác lo lắng. Chỉ là Ben, anh trai tôi, người không hề làm những gì họ nói. Những gì tôi nói.
Dừng lại dưới cột đèn tín hiệu giao thông, máu trong người tôi sôi lên, tôi với ra sau ghế và túm lấy một chiếc phong bì hóa đơn cũ. Đặt lên cửa sổ bằng nhựa, tôi viết: Kẻ tình nghi. Sau đó lại viết: Runner. Rồi dừng lại. Ai đó có thù hằn gì với Runner? Tôi viết. Ai đó mà Runner nợ tiền? Runner Runner Runner Runner. Tôi đã trở lại nghi ngờ ông ta. Giọng đàn ông gầm lên trong nhà tôi đêm đó, có thể là Runner hoặc một kẻ thù của ông ta. Tôi cần phải làm rõ và chứng minh điều này. Tôi đang trở nên hoảng loạn: Tôi không thể sống với điều này được, Ben thì đang ở trong tù, còn tội ác lại chưa được vạch rõ. Tôi cần phải kết thúc chuyện này. Tôi cần phải biết. Tôi, lại là tôi.
Khi vượt qua chỗ rẽ vào trang trại cũ, tôi đã không nhìn lại.
Tôi dừng xe tại một cửa hàng tiện ích 7-Eleven ở ngoại ô thành phố Kansas, đổ xăng, mua một mẩu pho mát Velveeta, vài chai coca, bánh mì trắng, và thức ăn cho con mèo già đói khát của tôi. Sau đó tôi lái xe về nhà ở khu Đâu Đó Đằng Kia, leo lên con dốc, ra khỏi xe và nhìn chằm chằm vào hai bà già bên kia đường, những người sẽ chẳng bao giờ nhìn lại tôi. Họ ngồi ở ngoài hiên như thường lệ, bất chấp giá lạnh, đầu họ thẳng đờ để khỏi thấy tôi làm vấy bẩn khung cảnh trước mặt. Tôi đứng đó, hai tay chống nạnh, đợi cho tới khi một người trong số họ nhượng bộ. Sau đó tôi vẫy tay khá đàng hoàng, một cái vẫy tay mang phong cách vùng nông trại miền Tây xưa. Bà già mặt đầy nếp nhăn gật đầu đáp lại, sau đó tôi đi vào nhà và cho con Buck tội nghiệp ăn, cảm nhận niềm vui của chiến thắng.
Trong lúc vẫn còn chút năng lượng, tôi cắt một mẩu mù-tạc vàng nhạt lên bánh mì, sắp thêm vài lát pho mát dày, mềm lên chốc và ăn trong lúc nói chuyện liên tiếp với ba nhân viên tổng đài điện thoại chán ngắt để liên lạc với khu Nhà tình nghĩa dành cho đàn ông của Bert Nolan. Đó là việc tôi có thể thêm vào danh sách những công việc tiềm năng cho Jim Jeffreys: nhân viên tổng đài điện thoại. Khi còn nhỏ, nhân viên tổng đài là việc mà đứa con gái nào cũng mơ ước được làm khi lớn lên, nhưng tôi không thể nhớ tại sao.
Một lớp bánh mì mỏng dính vào hàm trên, và cuối cùng tôi cũng liên lạc được với một người ở Nhà của Bert Nolan, và thật bất ngờ khi đó chính là Bert Nolan. Tôi đinh ninh rằng bất cứ ai được đặt tên cho khu nhà chắc chắn đều đã chết. Tôi nói với ông ta rằng mình đang cố gắng tìm Runner Day, và ông ta ngập ngừng.
“Chà, ông ấy cứ đến rồi lại đi, tháng trước còn hầu như không ở đây, nhưng tôi rất sẵn lòng để lại lời nhắn cho ông ấy,” giọng Bert Nolan nghe như tiếng còi của một chiếc xe hơi cũ. Tôi nói tên mình – nhưng ông ta không nhận ra điều gì – và khi bắt đầu đọc số điện thoại thì Nolan cắt lời tôi.
“Ồ, ông ấy sẽ không thể gọi điện đường dài, tôi có thể nói luôn với cô như vậy. Những người đàn ông sống ở đây có xu hướng trao đổi bằng thư nhiều hơn. Viết thư ấy, cô biết điều này chứ? Chưa đến 50 xu cho một con tem và không phải lo lắng về việc phải xếp hàng chờ gọi điện. Cô có muốn để lại địa chỉ không?”
Không muốn chút nào. Tôi rùng mình khi nghĩ đến việc Runner sẽ lần theo tôi với đôi giày công sở quá khổ của ông ta, hai bàn tay cáu ghét chống lên thắt lưng teo tóp, và nhe răng cười như thể ông ta vừa đánh bại tôi trong một trò chơi.
“Nếu cô muốn, tôi sẽ ghi lại lời nhắn và cô có thể cho tôi địa chỉ của cô một cách bí mật,” Bert Nolan nói. “Và khi Runner viết thư xong, tôi có thể gửi đi thay ông ấy, thậm chí Runner sẽ không biết được mã vùng bưu điện của cô. Rất nhiều gia đình đã làm theo cách này. Hơi buồn nhưng đó là điều cần thiết.” Ở phía sau, có tiếng máy soda vừa pha xong, ai đó hỏi Nolan có muốn một cốc không, và ông ta trả lời bằng giọng nói thân thiện của một bác sĩ thị trấn, Không, cảm ơn, tôi đang cố giảm cân. “Cô có muốn làm vậy không, thưa cô? Nếu không sẽ rất khó để gặp được ông ấy. Như tôi đã nói, Runner không phải người sẽ ngồi cạnh điện thoại để chờ cô gọi lại đâu.”
“Và cũng không có thư điện tử?”
Bert Nolan lầm bầm. “Không, không có thư điện tử, tôi e là vậy.”
Tôi chưa từng biết Runner lại là người thích viết thư, nhưng đúng là ông ta luôn viết thư nhiều hơn là gọi điện, vậy nên tôi đoán tốt nhất là nên lái xe xuống Oklahoma và ngồi đợi trên một trong những chiếc giường của Bert Nolan. “Vậy ông có thể nhắn với ông ta rằng, tôi cần nói chuyện về Ben và đêm đó không? Tôi có thể tới và gặp Runner nếu như ông ấy hẹn gặp tôi một ngày.”
“Được chứ… cô nói, Ben và đêm đó?
“Đúng vậy.”
TÔI BIẾT LYLE sẽ rất tự mãn về sự thay đổi quan điểm của tôi về Ben, 50-50. Tôi có thể hình dung ra hắn đang mặc những chiếc áo khoác bó kệch cỡm và phát biểu trước những nhóm người của câu lạc bộ Kill, trình bày rằng hắn đã thuyết phục tôi tới gặp Ben như thế nào. “Lúc đầu Libby đã khăng khăng từ chối, tôi nghĩ là cô ấy sợ sẽ phát hiện ra điều gì đó về Ben… và về chính bản thân cô ấy.” Tất cả mọi người đều nhìn hắn và rất hài lòng về những gì hắn đã làm. Điều đó khiến tôi phát cáu.
Người mà tôi muốn nói chuyện là bác Diane. Bác là người đã chăm sóc tôi bảy trong số mười một năm khi tôi còn là một đứa trẻ mồ côi chưa đến tuổi thành niên. Bác là người đầu tiên nhận nuôi, đón tôi tới ở trong ngôi nhà lưu động cùng với vali và đồ đạc của tôi. Quần áo, cuốn sách ưa thích của tôi, nhưng không có món đồ chơi nào. Chị Michelle đã giữ toàn bộ số búp bê vào buổi tối hôm ấy, gọi đó là bữa tiệc ngủ, và chị đã tè lên chúng khi bị bóp cổ. Tôi vẫn nhớ như in cuốn hình dán mà bác Diane đã mua cho chúng tôi vào ngày xảy ra vụ án – những bông hoa, kỳ lân, mèo con – và luôn phân vân liệu nó có nằm trong đống tàn tích đó không.
Bác Diane không đủ tiền để tìm một chỗ ở mới. Toàn bộ số tiền bảo hiểm nhân thọ của mẹ tôi đã được dùng để tìm cho Ben một luật sư tử tế. Bác Diane nói rằng mẹ tôi sẽ muốn làm vậy, nhưng khuôn mặt bác vô cùng rầu rĩ, như đang ước được nói chuyện với mẹ tôi nếu có thể. Vậy nên chúng tôi chẳng có xu nào. Bởi vẫn còn nhỏ nên tôi có thể ngủ trong phòng chứa đồ, thế vào chỗ của chiếc máy giặt hay máy sấy quần áo trước kia. Bác Diane thậm chí còn sơn lại nó cho tôi. Bác làm thêm giờ, đưa tôi tới Topeka để trị liệu và cố gắng trìu mến với tôi, ngay cả khi thấy đau nhói lòng mỗi khi ôm tôi, điều này nhắc bác nhớ tới cái chết của em gái mình. Hai tay bác vòng quanh người tôi giống như chiếc vòng lắc eo, như một trò chơi mà hai tay bác phải vòng xung quanh tôi nhưng càng ít tiếp xúc càng tốt. Dù vậy, mỗi buổi sáng bác đều nói rằng bác yêu tôi.
Trong vòng mười năm tiếp theo, tôi đã hai lần phá tan xe của bác, làm vỡ mũi bác hai lần, lấy trộm và bán những chiếc thẻ tín dụng, và giết chết con chó cưng của bác. Chính con chó đó đã khiến bác mất hết kiên nhẫn với tôi. Ít lâu sau khi xảy ra vụ thảm sát, bác đã nuôi một con chó xù tên là Gracie. Nó rất hay sủa và chỉ to bằng cẳng tay, bác quý nó hơn cả tôi, hoặc cũng có thể chỉ là cảm giác. Tôi đã ghen tị với Gracie trong nhiều năm, khi nhìn bác Diane chải lông cho nó, hai bàn tay lực lưỡng cầm chiếc lược nhựa màu hồng, nhìn bác kẹp đống xù trên đầu Gracie, nhìn bác lấy ra một tấm ảnh chụp Gracie từ trong ví, mà không phải ảnh của tôi. Con chó bị ám ảnh với bàn chân của tôi, bàn chân bị tật chỉ còn lại hai ngón da bọc xương, ngón thứ hai và ngón út. Gracie lúc nào cũng ngửi ngửi chúng, như thể nó biết chúng có điều gì đó không bình thường. Tôi chẳng thể quý mến nổi nó.
Vì một lý do gì đó, tôi bị cấm túc trong mùa hè giữa năm thứ hai và năm thứ ba trung học, và trong lúc bác Diane đi làm thì tôi ngồi trong chiếc xe moóc nóng nực, càng lúc càng điên tiết với con chó, nó đang trở nên lăng xăng hơn bao giờ hết. Tôi lờ đi, không dắt nó đi dạo, vậy nên Gracie chạy loạn lên hết vòng này đến vòng khác từ chỗ máy pha soda tới bếp rồi lao vào buồng, miệng kêu ăng ẳng, và cắn nhẹ vào chân tôi. Tôi co chân lên, cố nén cơn giận, tập trung xem phim nhưng đầu óc đã trở nên điên cuồng, Gracie bỗng nhiên dừng lại và cắn vào ngón út trên bàn chân bị tật của tôi, ngậm lấy nó bằng những chiếc răng nanh và nhay nhay. Tôi nhớ là lúc đó đã nghĩ, liệu con chó này có lấy nốt những ngón chân cuối cùng của mình không, và sau đó trở nên điên tiết khi hình dung ra sự lố bịch của mình: Trên bàn tay trái của tôi có một ngón cụt mà không người đàn ông nào đeo nhẫn cưới vào đấy, và bàn chân phải vô dụng của tôi sẽ vĩnh viễn khiến dáng đi của tôi giống một gã thủy thủ ở một thành phố trên cạn. Tệ hơn, mấy đứa con gái ở trường gọi ngón tay của tôi là cục thịt thừa, nghe vừa kỳ cục vừa kệch cỡm khiến người ta cười rộ lên khi nhìn thấy từ xa. Một bác sĩ lúc đó đã nói với tôi rằng có lẽ không cần thiết phải cắt cụt, “Chỉ là một tay bác sĩ quê mùa quá nhiều tham vọng.” Tôi túm lấy người Gracie, cảm thấy lồng ngực nó rung lên một chút. Điều này chỉ khiến tôi điên tiết hơn, bất ngờ tôi giằng nó ra khỏi ngón chân mình – phần thịt cũng xước ra theo nó – và dùng hết sức có thể ném nó vào trong bếp. Cả người Gracie đập vào thành kệ bếp và rơi xuống, co rúm lại một đống, máu chảy lênh láng khắp tấm vải lót sàn.
Tôi không định giết Gracie, nhưng nó đã chết, không nhanh chóng như tôi muốn, mà diễn ra trong khoảng mười phút, khi tôi đang chạy quanh chiếc xe, cố gắng nghĩ xem nên làm gì. Khi bác Diane trở về, tay xách một túi gà rán, Gracie vẫn đang nằm trên sàn, và tất cả những gì tôi có thể nói là, “Nó đã cắn cháu.”
Tôi cố nói thêm để giải thích đó không phải lỗi của mình, nhưng bác Diane chỉ giơ một ngón tay run rẩy lên: Đừng nói gì cả. Bác gọi cho cô bạn tốt nhất của bác, cô Valerie, một người phụ nữ nhẹ nhàng và đầy tình yêu thương, trái ngược với bác Diane thô kệch và chân chất. Bác đứng khom người bên bồn rửa nhìn ra ngoài cửa sổ, trong khi cô Valerie bó Gracie vào một chiếc chăn đặc biệt. Sau đó họ nói chuyện riêng trong phòng ngủ, rồi đi ra, cô Valerie đứng im bên cạnh bác Diane, rơm rớm nước mắt, hai tay xoa vào nhau khi bác Diane bảo tôi đóng gói đồ đạc. Nghĩ lại, tôi cho rằng cô Valerie chắc hẳn là bạn gái của bác Diane – mỗi tối, bác Diane sẽ leo lên giường và nói chuyện với cô ấy qua điện thoại cho tới khi ngủ thiếp đi. Họ trao đổi với nhau mọi thứ và thậm chí còn cắt kiểu tóc ngắn giống hệt nhau. Tại thời điểm đó, tôi đã không quan tâm cô ấy là gì của bác Diane.
Hai năm trung học còn lại, tôi sống với một đôi vợ chồng tử tế ở Abilene, những người không quá hãi hùng trước tôi. Từ đó trở đi, cứ vài tháng, bác Diane lại gọi điện cho tôi một lần. Tôi sẽ ngồi nói chuyện với bác, những tiếng vo vo của điện thoại và hơi thở đầy khói thuốc của bác phả vào ống nghe. Tôi hình dung ra hàm dưới của bác, những sợi lông tơ ở cằm và nốt ruồi nằm gần môi dưới, chiếc đĩa hát màu be đang lách cách, một lần bác đã bảo nó sẽ ban tặng những điều ước khi tôi chà xát lên nó. Tôi nghe thấy một tiếng cót két ở đầu dây bên kia và biết rằng bác Diane đang mở cánh tủ bếp ở giữa trên chiếc xe lưu động của bác. Tôi biết rõ nơi đó còn hơn cả ngôi nhà nông trại. Bác Diane và tôi sẽ cố tình tạo ra vài tiếng động, giả bộ ho hoặc hắt hơi, và sau đó bác sẽ nói, “Chờ chút, Libby,” một cách vô nghĩa vì chẳng ai trong chúng tôi nói gì sau đó cả. Cô Valerie thường xuyên ở đó, và họ rì rầm nói chuyện với nhau, cô Valerie dỗ dành ngon ngọt còn bác Diane thì càu nhàu, và sau đó bác sẽ dành cho tôi khoảng hai mươi giây nữa rồi viện cớ dập máy.
Bác thôi không nói chuyện điện thoại với tôi khi cuốn Day của Ngày Mới được xuất bản. Bác chỉ nói duy nhất một câu: Điều gì khiến cháu làm một việc như vậy? với vẻ nghiêm nghị, nhưng nó còn đau đớn hơn cả trăm lần bị mắng chửi.
Tôi biết bác Diane vẫn dùng số cũ, bác sẽ không bao giờ đổi số – chiếc xe lưu động đã gắn bó với bác như một lớp vỏ bọc. Tôi mất hai mươi phút lục tung đống giấy tờ trong nhà để tìm lại cuốn sổ danh bạ cũ, cuốn sổ mà tôi đã có từ khi học tiểu học, trang bìa có ảnh của một cô bé có mái tóc đuôi gà màu đỏ mà ai nhìn vào cũng nghĩ là giống tôi. Ngoại trừ nụ cười. Số của bác được lưu ở cột chữ B, bác Diane, được viết bằng bút nhớ dòng màu tía theo lối chữ thảo trông giống những con thú làm bằng bóng bay.
Phải nói với giọng thế nào và giải thích lý do cho cuộc gọi này là gì? Một phần, tôi chỉ muốn nghe bác khò khè, giống giọng của huấn luyện viên bóng đá vang lên trong tai tôi, Chà, tại sao đến giờ cháu mới gọi lại cho ta? Phần nữa là vì, tôi thực sự muốn biết bác nghĩ gì về Ben. Bác chưa bao giờ sỉ vả anh ấy khi nói chuyện với tôi, bác luôn rất thận trọng khi nói về Ben, một điều nữa khiến tôi nợ bác những lời cảm ơn.
Tôi bấm số, vai rúm lại chạm đến tận tai, cổ họng thắt lại, tôi nín thở tới tận hồi chuông thứ ba khi có tín hiệu trả lời tự động, và thở phào.
Giọng của cô Valerie vang lên trong máy, bảo tôi để lại tin nhắn cho cô ấy hoặc cho bác Diane.
“Chào hai người. Cháu là Libby đây. Cháu chỉ muốn gửi lời chào và cho mọi người biết rằng cháu vẫn còn sống và.” Tôi dập máy. Rồi gọi lại. “Xin đừng bận tâm về tin nhắn trước đó. Cháu Libby đây. Cháu gọi để xin lỗi, vì... Ôi, vì rất nhiều việc. Và cháu muốn nói…” Tôi tiếp tục kéo dài tin nhắn phòng khi có ai đang nghe, sau đó để lại số, dập máy, và ngồi ra sát mép giường, sẵn sàng đứng dậy nhưng lại không biết đứng lên để làm gì.
Tôi đứng dậy. Hôm nay tôi đã làm nhiều việc hơn cả một năm vừa rồi. Sẵn điện thoại trong tay, tôi gọi cho Lyle, hy vọng sẽ có tín hiệu thư thoại nhưng, như mọi lần, hắn bắt máy. Trước khi hắn có thể khiến tôi bực mình, tôi nói với hắn rằng buổi gặp mặt với Ben đã diễn ra ổn thỏa và tôi đã sẵn sàng nghe xem ai là kẻ giết người theo dự đoán của hắn. Tôi nói hết sức rõ ràng, chính xác, chẳng khác nào đang đổ thông tin ra bằng chiếc thìa đo lường.
“Em biết chị sẽ thích anh ấy, em biết chị sẽ thay đổi suy nghĩ mà,” hắn mừng rỡ reo lên, tôi cố gắng không dập máy.
“Tôi không nói vậy, Lyle, tôi nói rằng mình đã sẵn sàng cho một vụ khác, nếu cậu muốn.”
Chúng tôi lại gặp nhau ở Tim-Clark, nơi không khí đặc quánh mùi mỡ. Một bà phục vụ già khác, hoặc vẫn là bà lần trước, đội bộ tóc giả màu đỏ, đang chạy qua chạy lại với đôi giày tennis mềm, chiếc váy ngắn bay quanh người, trông giống một tay banh nỉ nhà nghề thời xưa. Thay vào chỗ gã béo chiêm ngưỡng chiếc bình cổ lần trước, một đám thanh niên lập dị đang chuyền tay nhau những lá bài có hình vũ nữ thoát y từ thập niên 70 quanh bàn và cười nhạo đám lông mu trên người họ. Lyle đang ngồi ở bàn bên cạnh, khó xử quay ghế sang hướng khác. Tôi ngồi xuống bàn, rót một cốc bia từ bình của hắn.
“Vậy anh ấy có giống những gì chị trông đợi không? Anh ấy đã nói những gì?” Lyle bắt đầu, hai chân bồn chồn.
Tôi kể cho hắn nghe tất cả, ngoại trừ chuyện về con thỏ bằng sứ.
“Vậy chị đã hiểu những gì Magda nói chưa, về việc anh ấy trở nên mất hy vọng ấy?”
Tôi biết chứ. “Tôi nghĩ anh ấy đã cảm thấy an phận với án tù,” tôi bổ sung, một thông tin mà tôi chia sẻ chỉ vì hắn đã đưa 300 đô-la và tôi muốn có thêm. “Ben nghĩ đó là sự trừng phạt cho việc anh ấy đã không ở nhà để bảo vệ chúng tôi hoặc đại loại thế. Tôi không biết. Tôi nghĩ khi nói về lời khai của tôi, về việc nó đã được… cường điệu lên, thì anh ấy sẽ chỉ trích điều đó, nhưng… không hề.”
“Về mặt pháp lý, điều đó có thể chẳng giúp ích gì được sau khoảng thời gian dài đến vậy,” Lyle chỉ ra. “Magda nói nếu chị muốn giúp Ben, chúng ta nên thu thập thêm bằng chứng, và chị có thể công khai thừa nhận đã khai man khi chúng ta nộp đơn xin đình quyền giam giữ. Tại thời điểm hiện tại, vụ này mang tính chính trị nhiều hơn là pháp lý. Rất nhiều người đã tạo dựng được sự nghiệp lớn nhờ vào vụ này.”
“Magda có vẻ biết nhiều nhỉ.”
“Cô ấy dẫn đầu một nhóm gọi là Hội Giải Cứu Day – tất cả đều nhằm cứu Ben thoát khỏi tù. Thỉnh thoảng em cũng tới tham gia, nhưng dường như nó dành cho, ừ, những người hâm mộ. Phụ nữ ấy.”
“Cậu đã bao giờ nghe nói Ben có một cô bạn gái chính thức chưa? Một trong số phụ nữ thuộc Hội Giải Cứu Day có ai tên là Molly, Sally hay Polly gì đó không? Anh ấy có một hình xăm.”
“Chẳng có cô Sally nào hết. Polly nghe giống tên thú cưng – chị họ tôi có một con chó tên là Polly. Molly thì có, nhưng bà ta tầm 70 tuổi rồi.”
Một đĩa khoai tây chiên xuất hiện trước mặt Lyle, người phục vụ này hoàn toàn khác biệt so với bà lần trước, cũng nhiều tuổi nhưng thân thiện hơn. Tôi thích những người chạy bàn gọi tôi là cô gái yêu quý hoặc gì đó tương tự, như bà ấy đã làm.
Lyle ăn món khoai tây chiên, đổ nước xốt lên thành đĩa, sau đó rắc muối và hạt tiêu lên nước xốt, chấm từng miếng khoai và cẩn thận bỏ vào miệng như cách phụ nữ ăn.
“Được rồi, vậy hãy nói cho tôi biết cậu nghĩ ai đã làm chuyện này,” cuối cùng tôi cũng gạn hỏi.
“Ai làm gì cơ?”
Tôi đảo mắt và ngả đầu vào hai tay, như thể thế là quá đủ với tôi, và đúng là gần như thế.
“À, phải. Em nghĩ Lou Cates, bố của Krissi Cates đã làm điều này.” Hắn tựa lưng vào ghế với vẻ mãn nguyện như thể vừa mới thắng trò Tìm Manh Mối.
Krissi Cates, cái tên gợi lên điều gì đó. Tôi cố gắng đánh lừa Lyle, nhưng không thành công.
“Chị thực sự biết Krissi Cates là ai, đúng không?” Khi tôi không nói gì, hắn tiếp tục, giọng kẻ cả, ngọt xớt. “Krissi Cates là một học sinh lớp 5 ở trường của chị và Ben. Ngày mà gia đình chị bị sát hại, cảnh sát cũng đang lên kế hoạch để thẩm vấn Ben – cô ta đã kết tội anh ấy cưỡng bức mình.”
“Cái gì?”
“Đúng thế.”
Chúng tôi nhìn chằm chằm vào nhau, ánh nhìn lộ vẻ không thể tin nổi.
Lyle lắc đầu. “Chị đã không đùa khi nói mọi người không kể cho chị biết về chuyện này.”
“Cô ấy đã không ra làm chứng chống lại Ben…” Tôi bắt đầu.
“Không, không. Đó là một điều khôn ngoan mà luật sư bào chữa của Ben đã làm, khiến cho những chuyện này không liên quan với nhau về mặt pháp lý, việc quấy rối tình dục và vụ giết người. Nhưng quan tòa chắc chắn đã bị bỏ bùa chống lại anh ấy. Mọi người trong vùng đều đã nghe tin Ben gạ gẫm cô bé xinh đẹp này từ gia đình yêu quý của cô ta, và việc này có lẽ chính là nguyên nhân dẫn tới ‘vụ hiến tế quỷ Sa-tăng.’ Chị biết tin đồn lan nhanh đến mức nào rồi đấy.”
“Vậy, cô Krissi Cates gì đó có tới phiên tòa không?” Tôi hỏi. “Họ có chứng minh được Ben đã làm gì sai trái với cô ta không?”
“Việc này không tiến triển thêm chút nào – cảnh sát đã không kết tội,” Lyle nói. “Gia đình Cates nhanh chóng dàn xếp với nhà trường và sau đó chuyển đi. Nhưng chị biết em nghĩ gì không? Em nghĩ Lou Cates, gã đàn ông có thân hình to lớn đó đã tới nhà chị để tìm kiếm vài câu trả lời, và sau đó…”
“Nổi cơn thịnh nộ và quyết định giết chết cả nhà tôi? Điều này hoàn toàn vô lý.”
“Khi còn trẻ, gã này đã từng ngồi tù ba năm vì tội giết người, đó là những gì em biết, gã đã dùng hết sức ném quả bóng bi-a vào một người và giết chết anh ta. Gã đó rất dễ nổi nóng. Nếu Lou Cates nghĩ rằng con gái mình bị cưỡng bức, em có thể hình dung ra ông ta nổi điên đến thế nào. Sau đó ông ta vẽ những ngôi sao năm cánh và mọi thứ để thoát khỏi nghi vấn.”
“Mmmm, điều đó thật vớ vẩn.” Nhưng tôi thực sự muốn đó là sự thật.
“Đổ tội cho anh trai chị làm việc này mới là vớ vẩn. Đó là một tội ác ngớ ngẩn, điên rồ, có rất nhiều điều vô lý trong vụ này. Đó là lý do tại sao mọi người bị ảm ảnh bởi những vụ giết người kiểu này. Nếu như vụ này có lý, thì nó chẳng còn điều bí ẩn nào, phải không?”
Tôi không nói gì. Đúng thế. Tôi bắt đầu thấy bồn chồn trước mấy lọ đựng muối và tiêu, chúng quá đẹp so với một quán rượu chui.
“Ý em là, chị không nghĩ ít nhất nó cũng đáng để điều tra sao?” Lyle dồn tôi. “Cáo buộc khủng khiếp, nghiêm trọng này đã lan đi cùng ngày gia đình chị bị giết hại?”
“Tôi đoán vậy. Cậu là ông chủ mà.”
“Vậy, từ giờ cho tới lúc tìm ra Runner, hãy xem liệu chị có thể liên lạc được với ai đó trong gia đình Cates và nói chuyện với họ hay không. 500 đô-la nếu đó là Krissi hoặc Lou. Em chỉ muốn xem liệu họ có còn giữ nguyên câu chuyện về Ben không. Liệu họ có thể sống mà không bị day dứt lương tâm không, chị biết đấy? Đó chắc hẳn phải là một lời nói dối. Đúng không?”
Tôi lại cảm thấy dao động. Niềm tin của tôi không cần phải được thử thách ngay lúc này. Tuy nhiên, tôi quả quyết một điều khá ngớ ngẩn rằng: Ben chưa bao giờ gạ gẫm tôi. Nếu là một kẻ quấy rối tình dục trẻ em, tại sao anh lại không bắt đầu với một cô bé ngay tại nhà?
“Đúng.”
“Đúng,” Lyle nhắc lại.
“Nhưng tôi không chắc lần này mình lại may mắn có được thông tin hơn cậu đâu. Bởi tôi chính là em gái của gã mà họ đã buộc tội quấy rối.”
“Thật ra thì em đã thử và chẳng đi đến đâu cả,” Lyle nhún vai. “Em không hợp với những việc như thế.”
“Việc gì?”
“Sử dụng mánh khóe.”
“Chà, vậy ra đó đích thực là việc hợp với tôi.”
“Hoàn toàn chính xác. Và nếu chị có thể sắp xếp một cuộc gặp gỡ, em sẽ đi cùng chị.”
Tôi lặng lẽ nhún vai và đứng dậy, định bỏ hắn lại với tờ hóa đơn, nhưng chưa được ba bước thì hắn gọi với tôi lại.
“Libby, chị có biết là mình đang để những lọ muối tiêu trong túi không?”
Tôi dừng lại một giây, nghĩ về việc sẽ giả vờ ngạc nhiên – ôi Chúa ơi, tôi thật đãng trí. Nhưng thay vì làm vậy, tôi chỉ gật đầu và bước vội về phía cánh cửa. Tôi cần chúng.
LYLE ĐÃ LẦN RA mẹ của Krissi Cates ở Emporia, Kansas, bà ta đang sống cùng người chồng thứ hai và có một cô con gái kém đứa con đầu khoảng 20 tuổi. Lyle đã để lại một vài tin nhắn trong suốt những năm qua, nhưng bà ta chưa bao giờ gọi lại cho hắn. Đó là tất cả những gì Lyle làm được.
Đừng bao giờ để lại tin nhắn thoại cho một người mà bạn thực sự muốn liên lạc. Thay vào đó, hãy gọi điện cho tới khi có ai đó nhấc máy – do tức giận hoặc tò mò hoặc sợ hãi – và sau đó hãy thốt ra bất cứ thứ gì có thể giữ họ nghe máy.
Tôi đã gọi cho mẹ của Krissi mười hai lần trước khi bà ta nhấc máy, sau đó, tôi vội vàng nói, “Cháu là Libby Day, em gái của Ben Day, cô còn nhớ Ben Day chứ?”
Tôi nghe thấy một đôi môi ướt nhèm hé ra cùng tiếng chép miệng cau có, tiếp đó là một giọng nói lầm bầm, “Phải, tôi vẫn nhớ Ben Day. Có chuyện gì đây?” Cứ như tôi là nhân viên quảng cáo qua điện thoại không bằng.
“Cháu muốn nói chuyện với cô hoặc ai đó trong gia đình về những cáo buộc mà chị Krissi, con gái cô đã thực hiện để chống lại Ben.”
“Chúng tôi không nói gì về chuyện đó… tên cô là gì nhỉ, Lizzy hả? Tôi đã tái hôn, và hầu như chẳng liên lạc gì với gia đình trước kia.”
“Cô có biết làm cách nào để liên lạc với ông Lou hay chị Krissi Cates không?”
Bà ta thở dài giống như một tiếng nhả khói. “Lou sẽ ở trong một quán rượu nào đó ở bang Kansas, tôi đoán thế. Krissi hả? Lái xe về hướng tây trên đường I-70, đi qua Columbia. Rẽ vào bất kỳ một câu lạc bộ thoát y nào ở đó. Đừng gọi lại nữa.”