Hiện tại
LYLE TỎ RA THỜ Ơ và im lặng khi chúng tôi lái xe tới buổi gặp mặt tại nhà Magda. Tôi tự hỏi liệu có phải hắn đang đánh giá tôi và những lá thư tôi sẽ bán. Những thứ tôi quyết định bán chẳng có gì đặc biệt thú vị: năm tấm thiệp mẹ tôi viết mừng sinh nhật chị Michelle và Debby, những mẩu thư ngắn vui nhộn với chữ ký nguệch ngoạc cuối thư, và một tấm thiệp sinh nhật bà viết tặng Ben – cái này hẳn sẽ đáng tiền lắm đây. Việc bán chác này làm dấy lên trong tôi cảm giác tội lỗi, không hay chút nào, nhưng tôi sợ cảnh không có tiền, thực sự lo sợ mình sẽ khánh kiệt. Và nỗi sợ đã lấn át mong muốn làm người tốt của tôi. Trong tấm thiệp chúc mừng sinh nhật lần thứ mười hai của Ben, mẹ đã viết: Con đang trưởng thành trước mắt mẹ, có khi đến tuổi học lái xe trước cả khi mẹ nhận ra cũng nên! Khi đọc xong, tôi đã phải úp nó xuống và quay mặt đi, bởi quả thật mẹ đã chết trước khi Ben đến tuổi học lái xe. Và giờ Ben đang ở trong tù, anh sẽ không bao giờ học lái xe được nữa.
Sao cũng được.
Chúng tôi lái ngang qua sông Missouri, mặt nước thậm chí còn không lấp lóa dưới ánh chiều dương. Tôi không muốn thấy họ đọc những mẩu thư này vì chúng quá riêng tư. Có thể tôi sẽ ra ngoài trong lúc họ xem xét, định giá chúng như những chiếc giá nến cổ tại buổi bán giảm giá đồ gia dụng trong sân nhà.
Lyle chỉ đường cho tôi tới nhà Magda, đi qua những dãy nhà của tầng lớp trung lưu đang treo cờ thêu hình cỏ ba lá và những yêu tinh lùn để hưởng ứng ngày thánh Patrick. Tôi lại thấy Lyle đang cựa quậy, bồn chồn như thường lệ, sau đó hắn quay sang tôi, đầu gối suýt đẩy cần gạt sang số.
“Này,” hắn nói.
“Sao?”
“Cuộc gặp lần này, cũng giống những lần khác, chỉ có một chút thay đổi nho nhỏ so với kế hoạch.”
“Ý cậu là sao?”
“Chà, chị biết rồi đấy, Magda ở trong Hội Giải Cứu Day. Hội tìm cách cứu Ben ra khỏi tù ấy. Vì vậy, cô ấy đã mời thêm vài người… phụ nữ trong hội.”
“Không được đâu.” Tôi nói và đánh xe vào lề đường.
“Nghe này, chị nói muốn điều tra Runner. Chính là cơ hội này. Họ sẽ chi tiền cho chúng ta – cho chị – tìm ra ông ta và hỏi vài câu theo kiểu cha hỏi con gái.”
“Con gái hỏi cha chứ?”
“Phải. Nghe này, em nhẵn túi rồi. Vậy nên đây sẽ là nguồn tài trợ tiếp theo.”
“Vậy tôi sẽ phải ngồi im đấy mặc cho họ cư xử thô lỗ như lần trước hả?”
“Không, không, họ có thể cung cấp cho chị thêm tình tiết tiện cho việc điều tra Runner. Giúp chị đẩy nhanh tốc độ. Ý em là, giờ chị đã nghĩ Ben vô tội rồi, phải vậy không?”
Đầu tôi lóe lên hình ảnh Ben đang ngồi xem tivi, mẹ tôi xoa đầu anh, tay kia đang ôm đống quần áo bẩn mang đi giặt. Anh chỉ cười mà không ngoảnh lại, sau đó đợi mẹ ra khỏi phòng mới vuốt lại mái tóc bị bà làm rối.
“Không hẳn.”
Tôi vặn chìa khóa xe đang đu đưa trong ổ khóa, đúng lúc một bài hát của Billy Joel vang lên trên đài. Tôi chuyển kênh.
“Được rồi, đi thôi,” tôi nói.
Tôi lái xe qua một vài dãy nhà. Khu nhà Magda sống cũng làng nhàng như khu nhà tôi, nhưng đẹp hơn. Những ngôi nhà xấu xí từ khi xây lên, nhưng những người chủ nhà vẫn có đủ kiêu hãnh để quét lên đó một lớp sơn, treo một lá cờ, và trồng vài khóm hoa. Những ngôi nhà này nhắc tôi nhớ về những cô nàng xấu xí thô kệch, mặc áo hai dây lấp lánh nhảy nhót trong những quán rượu vào đêm thứ sáu. Bạn tới đó và hy vọng sẽ gặp được ít nhất một cô nàng xinh đẹp, nhưng sự thực phũ phàng, chẳng có cô nào ưa nhìn cả. Cuối cùng cũng tới nhà Magda, người phụ nữ xấu xí trưng hàng lô hàng lốc phụ kiện lố lăng, điên rồ. Sân trước lổn nhổn những đồ trang trí cắm trên bãi cỏ: những bức tượng yêu tinh lùn giữ cửa nhún nhảy trên đôi chân bằng thép uốn, những con hồng hạc cắm lò xo, và lũ vịt cánh nhựa quay tròn mỗi khi có gió thổi. Một con tuần lộc Giáng sinh bằng bìa cứng bị vứt chỏng chơ, ướt sũng ở mảnh vườn trước đầy cỏ lơ thơ chỗ cao chỗ thấp. Tôi tắt máy, và cả hai nhìn chằm chằm vào khoảnh sân cắm đầy những cư dân run rẩy đó.
Lyle quay sang tôi, hai bàn tay xòe ra như một vị huấn luyện viên đang đưa ra lời khuyên trước một trận đấu khó khăn. “Đừng quá lo lắng. Chị chỉ cần thận trọng khi nói về Ben. Những người này có thể sẽ nổi giận khi động tới anh ấy.”
“Nổi giận vì cái gì?”
“Giống như... Chị có đi nhà thờ không?”
“Tôi chỉ tới đó khi còn nhỏ.”
“Vậy thì nó giống như ai đó vào nhà thờ và nói rằng họ ghét Chúa trời.”
NƠI NÀY THỰC SỰ GIỐNG một nhà thờ. Hoặc một đám phúng viếng. Rất nhiều cà phê, và có tới hàng tá người, ai nấy đều mặc những chiếc áo len tối màu, rì rầm trò chuyện và nở nụ cười tiếc thương điều gì đó. Không gian tràn ngập nỗi buồn thương trong làn khói thuốc. Kể từ hồi rời khỏi chiếc xe lưu động ngập ngụa khói của bác Diane, tôi những tưởng sẽ không được chứng kiến cảnh này nữa. Tôi hít một hơi đầy khói thuốc vào phổi.
Chúng tôi gõ vài lần vào cánh cửa đang mở, tự động bước vào khi không thấy ai để ý. Lyle và tôi đứng đó trong khoảng năm giây trước khi những cuộc trò chuyện tắt dần và mọi người bắt đầu hướng mắt nhìn chằm chằm về phía chúng tôi. Một người phụ nữ tóc xoăn lớn tuổi chớp mắt nhìn tôi đầy bí ẩn, và nở nụ cười lạnh như băng. Một cô gái tóc nâu độ tuổi đôi mươi xinh đẹp đến ngỡ ngàng, đang bón bột cho con, nhìn lên tôi và nở một nụ cười háo hức. Một bà già lòe loẹt, thân hình ục ịch như người tuyết đang mím môi và mân mê cây thánh giá trên cổ, những người khác trong phòng rõ ràng đang làm theo lời dặn từ trước: Hãy cư xử tử tế.
Hơn mười hai người có mặt ở đây đều là phụ nữ da trắng. Hầu hết trông khá hốc hác, nhưng một vài người cũng có vẻ ngoài tươi tắn của giới thượng lưu. Hẳn những kẻ đó phải dành cả tiếng ngồi trước bàn trang điểm chứ chẳng chơi. Đó là mánh phân biệt, đừng để ý tới quần áo và xe cộ, hãy nhìn những phụ kiện họ sử dụng: một chiếc ghim cài áo cổ (những cô nàng giàu có luôn dùng những chiếc ghim cài áo loại cổ) hoặc biết cách kẻ viền môi hài hòa với gương mặt. Có lẽ họ đến từ Mission Hills, và cảm thấy hạ cố lắm khi phải đặt chân sang mạn bắc của dòng sông.
Không có lấy một người đàn ông ở đây, bác Diane sẽ gọi đây là một bữa tiệc của các ả gà mái (rồi sau đó sẽ khịt mũi chê bai). Tôi tự hỏi bọn họ nghĩ gì về Ben – hiện đang bị giam trong tù – và điều gì ở anh khiến họ bị thu hút đến thế. Có lẽ nào, mỗi tối họ ngồi trên chiếc giường bừa bộn cùng ông chồng đang ngáy bên cạnh, và mơ tưởng về cuộc sống với Ben sau khi họ giúp anh ra tù chăng? Hay họ nghĩ anh là một đứa trẻ tội nghiệp cần tình yêu thương của họ, như một tay vợt cần người chăm sóc trong giờ giải lao giữa hiệp chăng?
Magda, cao khoảng 1m80 với mái tóc xoăn xù mì, huỳnh huỵch bước ra từ trong bếp. Tôi chẳng thể nhận ra Magda sau buổi gặp mặt của câu lạc bộ Kill lần trước, bởi khuôn mặt của mọi thành viên trong buổi tối hôm đó đều nhạt nhòa trong tâm trí tôi, như một tấm ảnh bị lôi ra khỏi máy quá sớm. Magda mặc một chiếc váy yếm bò bên ngoài áo cổ lọ và đeo quá nhiều trang sức chẳng ăn nhập gì với nhau: đôi khuyên tai vàng lủng lẳng, một sợi dây chuyền vàng to bự, và những chiếc nhẫn đeo kín bàn tay, trừ ngón đeo nhẫn. Đống nhẫn đó khiến tôi khó chịu, như những con hàu sinh sống không đúng chỗ. Dù vậy tôi vẫn bắt tay Magda. Ấm và khô. Cô ta kêu mmmaaahhh! và ôm tôi, bộ ngực vĩ đại của cô ta như một con sóng ép tôi vào giữa. Tôi siết chặt vòng ôm rồi sau đó buông ra nhưng Magda đã nắm lấy tay tôi.
“Cái gì đã qua hãy cho qua. Chào mừng cô tới nhà tôi,” Magda nói.
“Chào mừng,” những người phụ nữ phía sau cùng nói, gần như đồng thanh.
“Ở đây cô được chào đón,” Magda tuyên bố thêm lần nữa.
Chà, rõ ràng là được mời, nên tôi muốn phát biểu.
“Giới thiệu với mọi người, tôi là Libby Day, em gái út của Ben.”
“Em gái duy nhất của Ben còn sống,” tôi tiếp lời.
Những người phụ nữ nghiêm nghị gật đầu.
“Và đó là một trong những lý do chúng ta có mặt ở đây,” Magda nói với cả phòng. “Để mang đến một chút thư thái trong tình cảnh hiện nay. Và để. Đưa. Ben. Trở về.”
Tôi liếc nhìn Lyle, cứ một phút hắn lại chun mũi một lần. Bên ngoài phòng khách, một cậu bé khoảng 15 tuổi, tròn trịa nhưng không được bệ vệ như mẹ cậu, bước xuống từ cầu thang trải thảm. Cậu mặc quần kaki và áo kín cổ, lơ đãng nhìn vào phòng, một tay mân mê mặt thắt lưng.
Magda nhìn thằng bé nhưng không giới thiệu. Thay vào đó, cô ta nói, “Ned, vào bếp và pha thêm cà phê đi.” Thằng bé lừ lừ đi qua đám đông phụ nữ, mắt nhìn chằm chằm vào một điểm nào đó trên tường.
Magda kéo tôi vào phòng, tôi vờ ho để cô ta buông tay ra. Cô ta sắp xếp tôi ngồi giữa hai người phụ nữ trên ghế sofa. Tôi không thích ngồi giữa, bởi cánh tay họ sẽ chạm vào tôi còn đầu gối sẽ quẹt vào ống quần tôi. Tôi dịch người để không bị chìm trong đống gối tựa, nhưng vì quá nhỏ bé nên cuối cùng trông tôi vẫn giống một đứa bé lọt thỏm trên chiếc ghế đệm căng phồng trong một bộ phim hoạt hình nào đó.
“Libby, tôi là Katryn. Tôi rất tiếc vì những mất mát của cô,” một trong hai người phụ nữ giàu có ngồi cạnh nói, cúi đầu xuống nhìn tôi, mùi nước hoa sộc lên nồng nặc.
“Xin chào, Katherine.” Tôi tự hỏi tới bao giờ người ta sẽ thôi thương tiếc trước sự ra đi của một người dưng nước lã nhỉ? Tôi đoán là không bao giờ.
“Là Kate-ryn,” cô ta ngọt ngào nói, chiếc ghim cài hoa bằng vàng rung rung. Còn một cách khác nữa để nhận biết những người phụ nữ giàu có: Sau khi giới thiệu tên mình, họ sẽ lập tức giải thích rõ thêm để người ta không nhầm với một cái tên nào khác. A-lee-see-a, không phải là Al-eesh-a, hay Deb-or-ah, không phải Debra. Tôi chẳng nói gì. Ở bên kia phòng, Lyle đang nghiêng đầu, nói chuyện khá thân mật với một người phụ nữ lớn tuổi. Tôi hình dung ra hơi thở ấm nóng của bà ta đang phả vào hốc tai bé tí của hắn. Tất cả mọi người đều đang nói chuyện và nhìn tôi, thì thầm và nhìn tôi.
“Chúng ta tiếp tục chương trình được chưa?” Tôi vỗ tay và nói. Điều này có vẻ thô lỗ nhưng tôi chẳng việc gì phải chờ đợi cả.
“Được thôi, Libby… Ned, con mang cà phê ra đây được chưa?” Magda bắt đầu mở màn. “Chúng tôi có mặt ở đây để nói chuyện về cha cô, nghi phạm hàng đầu trong vụ án mạng mà anh trai cô đã đi tù oan.”
“Phải rồi. Vụ án mạng của gia đình tôi.”
Magda tỏ vẻ mất kiên nhẫn, khó chịu bởi tôi sẽ khẳng định quyền lợi đối với gia đình mình.
“Nhưng trước hết,” Magda nói tiếp, “chúng tôi muốn chia sẻ với cô một vài câu chuyện về anh trai cô, người mà tất cả chúng tôi đều yêu quý.”
Một người phụ nữ mảnh khảnh khoảng 50 tuổi với mái tóc nghiêm túc đứng lên. “Tôi là Gladys. Tôi đã gặp Ben trong một đợt đi làm từ thiện cách đây ba năm. Cậu ấy đã thay đổi cuộc đời tôi. Tôi từng viết thư cho rất nhiều tù nhân,” – nghe tới đây, tôi tỏ vẻ giễu cợt và bà ta nhìn thấy – “Tôi viết thư cho các tù nhân bởi với tôi, đó là hành động cao thượng của một người tốt bụng, yêu thương những người không được nhận được tình yêu thương. Tôi chắc mọi người ở đây đã từng xem bộ phim Người Chết Hành Động. Tôi bắt đầu viết thư cho Ben, và nhận thấy sự thuần khiết, thiện lương tỏa sáng qua những lá thư của cậu ấy. Ben là vàng trong lửa, và tôi yêu cách cậu ấy khiến tôi cười – khiến tôi cười – khi nói về những thứ kinh khủng mà cậu ấy phải chịu đựng mỗi ngày.”
Ai nấy đều bàn tán thêm một câu gì đó: Cậu ấy rất hài hước… đúng thế… cậu ấy thật tuyệt vời. Ned xuất hiện cùng một bình cà phê và bắt đầu rót đầy những chiếc cốc nhựa đang chìa ra, những quý bà chỉ đưa tay ra hiệu dừng rót mà không buồn nhìn cậu ta.
Một cô gái trẻ trạc tuổi Lyle đứng dậy, run run nói. “Em là Alison. Em biết tới Ben qua mẹ em, bà không thể tới đây hôm nay…”
“Chemo, cô ấy bị ung thư buồng trứng,” Katryn thì thầm.
“…Nhưng cả em và mẹ đều có chung một cảm nhận, rằng sứ mệnh của bà chưa kết thúc trên trái đất này chừng nào Ben vẫn còn trong tù.” Một vài tiếng vỗ tay lác đác. “Và thật sự, thật sự thì,” nói đến đây, sự run rẩy của cô gái đã chuyển thành những giọt nước mắt, “anh ấy quá tốt! Và toàn bộ chuyện này thật vô lý. Em không thể tưởng tượng được rằng chúng ta sống trong một thế giới mà người tốt như Ben lại bị… giam giữ chẳng vì lý do gì.”
Tôi nghiến chặt răng, cảm thấy chuyện này đang đi chệch hướng.
“Ta nghĩ cháu cần phải xem xét lại toàn bộ chuyện này,” bà già đeo cây thánh giá có thân hình to béo trông có vẻ kém thân thiện nhất lên tiếng. Bà ta không thèm đứng lên, đảo mắt nhìn một lượt. “Cháu cần phải sửa lại những sai lầm của mình, cũng giống như bất kỳ ai khác. Ta rất tiếc vì sự mất mát của gia đình cháu, và cũng rất tiếc vì những gì cháu phải trải qua, nhưng đã đến lúc cháu phải trưởng thành hơn và sửa chữa mọi sai lầm.”
Tôi không thấy ai gật đầu trước bài diễn thuyết ngắn gọn này của bà ta, nhưng tất cả đều có vẻ đồng tình đến mức dường như phải có tiếng hưởng ứng phát ra, tiếng mm-hmm không vết tích, như nghe tiếng đường ray kêu khi tàu còn cách xa hàng dặm, nhưng đang xình xịch lao về phía bạn. Tôi liếc nhìn Lyle, và hắn đảo mắt một cách kín đáo.
Magda bước ra giữa lối đi, khệnh khạng như một người hùng biện trong cuộc vận động tranh cử. “Libby, chúng tôi bỏ qua cho cô vụ việc sai trái này. Chúng tôi tin chính cha cô đã gây ra tội ác khủng khiếp đó. Chúng tôi có động cơ, có thời cơ, có… rất nhiều bằng chứng quan trọng,” cô ta nói, dùng tất cả những biệt ngữ ngành luật có thể dùng. “Động cơ là: Hai tuần trước khi xảy ra vụ án, mẹ cô, Patricia Day đâm đơn kiện cha cô vì không chịu đưa tiền trợ cấp nuôi con. Đây là lần đầu tiên, Ronald “Runner” Day bị cáo buộc về nghĩa vụ trợ cấp cho gia đình. Và cùng lúc đó, thói ham mê cá độ đã khiến ông ta mắc món nợ vài ngàn đô. Loại bỏ gia đình cô trong lúc đó sẽ giúp ích cho ông ta rất nhiều về mặt tài chính – ông ta tính giết tất cả mọi người và hưởng toàn bộ phần tài sản mẹ cô di chúc lại. Nhưng khi tới nhà cô thì Ben đi vắng, còn cô thì trốn thoát mất. Ông ta đã giết những người còn lại.”
Tôi hình dung Runner đang thở nặng nề, lăm lăm khẩu súng săn, chiếc mũ cao bồi bẩn thỉu hất ngược ra sau khi ngắm bắn mẹ tôi bằng khẩu súng 10 ly. Tôi lại nghe thấy âm thanh đó vang lên trong đầu mỗi khi nghĩ về đêm hôm ấy, và cố tưởng tượng nó phát ra từ mồm Runner.
“Những sợi vải ở nhà cô được tìm thấy trong túp lều của Runner, dù bằng chứng này đã liên tục bị bác bỏ vì ông ta đã từng dọn về nhà cô trong mùa hè năm đó, nhưng đó vẫn là một bằng chứng khả thi. Chẳng có tí máu hay da của nạn nhân nào dính trên người Ben cả, dù bên công tố đã nhắc rất nhiều đến bằng chứng rằng máu của Ben được tìm thấy trong nhà.”
“Nà-yyy? Thế cạo râu không được phép chảy máu à?” Người đàn bà đeo thánh giá cáu kỉnh nói.
Đám đông cười hưởng ứng một cách nghiêm túc.
“Cuối cùng, phần tôi hứng thú nhất, Libby à, là thời cơ. Như cô đã biết rồi đấy, một người bạn gái của cha cô tên là Peggy Bannion đã làm chứng cho ông ta tại thời điểm đó. Và để cô không cảm thấy xấu hổ khi phải sửa chữa một sai lầm, tôi sẽ nói với cô rằng Peggy đang trong quá trình lật lại chứng cứ ngoại phạm đó. Ngay cả khi cô ấy có thể sẽ bị kết án lên tới 5 năm tù giam.”
“Cô ấy sẽ không phải ngồi tù,” Katryn vui vẻ nói. “Chúng tôi sẽ không để điều đó xảy ra.”
Mọi người tán thưởng khi người phụ nữ thon thả mặc quần jeans đứng lên. Cô ta để tóc ngắn quăn gợn sóng và đã lốm đốm hoa râm, hai mắt nhỏ và nhạt màu như những đồng xu lẻ bỏ trong ví quá lâu. Cô ta nhìn tôi, sau đó quay đi, vân vê viên đá quá khổ màu xanh dương trên sợi dây chuyền, rất tiệp màu với chiếc áo len. Tôi hình dung ra cô ta đang đứng trước một tấm gương ố ở nhà, tận hưởng cảm giác sung sướng hiếm hoi khi chiếc vòng cổ phối màu hợp với chiếc áo len.
Tôi nhìn chằm chằm vào bạn gái của cha tôi – vị khách đặc biệt của Magda – và quyết tâm không chớp mắt.
“Tôi chỉ muốn cám ơn mọi người vì đã hỗ trợ tôi trong suốt những tháng qua,” cô ta bắt đầu lên tiếng, giọng nói lạo xạo. “Runner Day đã lợi dụng tôi như lợi dụng những người khác. Tôi chắc chắn là cô rõ điều này.” Phải mất vài giây tôi mới nhận ra cô ta đang nói chuyện với mình. Tôi gật đầu, nhưng ngay sau đó lại thấy hối tiếc.
“Hãy kể cho chúng tôi nghe câu chuyện của cô đi, Peggy,” Magda nói. Hẳn Magda đã xem rất nhiều chương trình của Oprah bởi tôi nhận thấy giọng nói cô ta khá uyển chuyển nhưng không ấm áp chút nào.
“Sự thật đằng sau câu chuyện là thế này. Đêm ngày 2 tháng 1, tôi đã nấu bữa tối cho Runner ở túp lều của ông ta. Có món xào thập cẩm ăn kèm với cơm, và đi liền với Runner, tất nhiên là có rất nhiều bia. Ông ta uống bia Mickey’s Big Mouths, bạn phải giật nắp chai ra, nhưng chúng thường tạo ra những rìa nhọn trông giống như càng cua và Runner luôn bị xước da vì chúng. Cô có nhớ điều đó không, Libby? Ông ta luôn bị chúng làm chảy máu.”
“Chuyện gì xảy ra sau bữa tối?” Lyle nói chen vào. Tôi đợi hắn nhìn sang và nhận nụ cười tán thành của tôi nhưng hắn không làm vậy.
“Chúng tôi, ờ, đã quan hệ với nhau. Sau đó hết bia nên Runner đi ra ngoài để mua thêm. Tôi nghĩ lúc đó khoảng 8 giờ tối vì tôi đang xem chương trình The Fall Guy, dù nó được phát lại và khá chán.”
“Cô ấy xem The Fall Guy kìa,” Magda nói giọng lanh lảnh. “Trớ trêu thật đấy.”
Peggy ngây người nhìn cô ta.
“Dù sao thì Runner đã đi khỏi nhà và không quay lại, và, các cô biết đấy, lúc đó là mùa đông, nên tôi nhanh chóng ngủ thiếp đi. Lúc tôi tỉnh giấc thì ông ta đã về nhà, không có đồng hồ nên tôi không biết lúc đó là mấy giờ. Nhưng chắc chắn phải là nửa đêm, đã rất muộn, bởi tôi thức giấc luôn từ lúc đó, sau đó đi vệ sinh và trời bắt đầu sáng cùng lắm là một vài tiếng sau đó.”
Lúc người phụ nữ này đi vệ sinh, sau đó quay trở lại giường, bước qua đống máy móc, mái chèo và ruột tivi mà Runner lúc nào cũng nói sẽ sửa, có thể bị vấp ngón chân và cảm thấy bực bội, thì tôi đang bò lồm cồm trong tuyết lạnh để quay về ngôi nhà ngập máu, quay về với gia đình đã chết của tôi. Cô ta khiến tôi cảm thấy khó chịu.
“Chúa giúp tôi, cảnh sát đã tới vào buổi sáng, hỏi Runner rằng ông ta đã ở đâu trong khoảng thời gian từ 12 giờ đêm đến 5 giờ sáng, sau đó hỏi cả tôi để xác nhận lại. Suốt cả buổi, ông ta chỉ khăng khăng nói rằng: Tôi ở nhà từ sớm, tôi đã về nhà trước nửa đêm. Tuy không nghĩ Runner ở nhà vào giờ đó, nhưng tôi đã hùa theo. Tôi chỉ hùa theo lời ông ta mà thôi.”
“Chà, cô đã sai lầm trong chuyện đó!” Cô gái tóc nâu đang bế con nói.
“Tôi đã không nghe tin gì về ông ta cả năm nay rồi.”
“Vậy vẫn còn khá hơn tôi,” tôi nói và biết mình đã lỡ lời. Tôi tự hỏi liệu người phụ nữ này có giữ bí mật rằng Runner liên lạc với cô ta ngày một nhiều dần. Cứ ba tháng lại gọi điện một lần thay vì tám tháng. “Và như tôi đã nói,” Peggy nói tiếp, “trên tay Runner có ba vết xước, nhưng tôi không chắc đó là vết xước do nắp chai bia gây ra hay không. Tôi không thể nhớ liệu ông ta có bị xước tay trước khi rời đi vào tối hôm đó, hay là ai đó đã cào tay ông ta.”
“Chỉ một nạn nhân duy nhất, Michelle Day, có mẩu da ở dưới móng tay. Điều này là hợp lý, vì cô bé bị bóp cổ nên có thể tiếp xúc với hung thủ,” Lyle nói. Tất cả chúng tôi im lặng một lúc, tiếng thủ thỉ của đứa bé ngày càng lớn hơn và chuyển dần thành tiếng hét. “Không may là mẩu da ấy đã bị thất lạc trước khi tới được phòng giám định.”
Tôi hình dung ra Runner láu cá với hai mắt trợn trừng đang lao vào Michelle, đẩy chị ngã xuống đệm, và chị Michelle rướn cổ lên để thở, cố gắng đẩy tay ông ta ra, để lại một vết xước khá rõ trên mu bàn tay đầy dầu ngày càng siết chặt cổ chị…
“Và đó là toàn bộ câu chuyện,” Peggy kết thúc với hai tay mở rộng, theo kiểu của một diễn viên hài đang muốn hỏi tôi nên làm gì đây?
“Ned, chúng ta đã sẵn sàng cho món tráng miệng rồi đấy,” Magda gọi với vào trong bếp, và Ned vội vã bước vào, rụt rè bưng một khay bánh quy nhân thạch, vụn bánh vẫn còn dính trên mép cậu ta.
“Chúa ơi, Ned, đừng có ăn bánh của tao chứ!” Magda càu nhàu, nhìn chằm chằm vào khay bánh.
“Con ăn có hai cái.”
“Hai cái đầu mày.” Magda châm một điếu rút ra từ bao thuốc méo mó. “Ra cửa hàng đi, tao cần thêm thuốc lá, và cả bánh quy nữa.”
“Nhưng Jenna lấy xe rồi.”
“Đi bộ đi cho khỏe người.”
Rõ ràng những người phụ nữ này có ý định ở đây cả đêm, nhưng tôi thì không. Tôi nhìn về phía gần cửa, và dán mắt vào chiếc đĩa bằng đồng tráng men đựng kẹo, nó quá đẹp để dành cho Magda. Tôi trượt nó bỏ vào túi trong lúc Lyle đang thỏa thuận gì đó với Madga, cô ta vừa lật sổ séc vừa hỏi Cô ấy sẽ làm việc này ư? Đã tìm ra ông ta chưa? Cô ấy có thực sự tin vậy không? Mỗi lần tôi chớp mắt, Peggy lại len tới gần tôi hơn – một ván cờ kệch cỡm. Trước khi tôi kịp đi ra phòng vệ sinh thì cô ta đã đứng ngay cạnh.
“Trông cô chẳng giống Runner tí nào,” cô ta nói và nheo mắt nhìn tôi. “Có lẽ chỉ giống cái mũi.”
“Tôi giống mẹ.”
Peggy tỏ vẻ ngạc nhiên.
“Cô sống với ông ấy được bao lâu?” Tôi gạn hỏi.
“Lúc ở lúc không. Phải. Ý tôi là tôi có nhiều bạn trai, và lúc ở với người này, lúc ở với người kia. Nhưng ông ấy biết cách quay lại và khiến tôi cảm thấy như đó là một phần trong kế hoạch. Tôi không biết. Tôi ước mình gặp được một tay kế toán hay ai đó tương tự. Tôi không biết phải đi đâu để tìm những người đàn ông tử tế. Trong suốt cuộc đời tôi. Ý tôi là, phải đi đâu bây giờ?”
Có vẻ cô ta sẽ hỏi thăm một địa danh nào đó, một thành phố đặc biệt mà tất cả kế toán và chuyên gia bảo hiểm đều tập trung ở đó.
“Cô vẫn sống ở Kinnakee ư?”
Cô ta gật đầu.
“Tôi sẽ rời khỏi nơi đó, cho một khởi đầu mới.”