Hiện tại
SỰ ÍCH KỶ TỒN TẠI BÊN TRONG TÔI, hiển hiện rõ ràng như một phần cơ thể. Cứ thử rạch bụng tôi mà xem, thứ máu thịt đen đúa đó có thể trượt xuống sàn để bạn mặc sức giẫm đạp. Đó là máu của nhà Day, và có điều gì đó không ổn. Tôi chưa bao giờ là một cô bé ngoan và ngày càng tệ hơn sau vụ thảm sát. Cô bé Libby Mồ Côi đã lớn lên trong sự ủ rũ với một cơ thể xanh xao gầy còm, bị đùn đẩy giữa đám bà con họ xa – những người anh em họ, cô bác, và cả những người mà tôi hầu như không biết – bị mắc kẹt trong các ngôi nhà lưu động xập xệ hoặc tầng trệt mục nát khắp vùng Kansas. Tôi đến trường trong những bộ quần áo mặc lại của mấy bà chị đã mất: Những chiếc sơ-mi ố vàng dưới cánh tay, đũng quần rộng thùng thình, thắt lưng cũ sờn được thắt ở nút trong cùng. Trong những tấm ảnh của lớp, tóc tôi luôn xoăn tít – những chiếc cặp gài hờ trên tóc chẳng khác nào vật thể lơ lửng trên không bị vướng vào một mớ dây dợ lộn xộn rối rắm, và tôi lúc nào cũng có bọng mắt – giống đôi mắt của một kẻ luôn say xỉn. Một đường cong miễn cưỡng có thể sẽ xuất hiện trên môi khi tôi cười. Chỉ là có thể thôi.
Hồi bé tôi chẳng đáng yêu gì cho cam, và lớn lên thì lại càng khó ưa. Nếu vẽ tâm hồn tôi, hẳn đó sẽ là một mẩu giấy nguệch ngoạc những chiếc răng nanh.
THÁNG BA ẨM ƯỚT VÀ Ủ DỘT, tôi nằm trên giường và nghĩ về việc tự sát – một sở thích của tôi. Cơn mơ màng giữa một chiều nhàn nhã: Khẩu súng, miệng tôi, một tiếng nổ lớn và đầu tôi giật lên, máu bắn khắp tường. Vương vãi, tung tóe. Người ta sẽ hỏi, “Cô ấy muốn chôn hay hỏa thiêu? Những ai sẽ đến dự đám tang?” Và chẳng ai biết câu trả lời. Dù ai đến dự lễ tang của tôi thì họ cũng chỉ cúi nhìn xuống vai và chân nhau cho hết phút mặc niệm, rồi sau đó sẽ có người nhanh nhẹn mang ra một ấm cà phê giữa tiếng nói chuyện ồn ào. Vị cà phê mới hợp với cái chết đột ngột làm sao!
Tôi thò một chân ra khỏi chăn nhưng không thể nhấc nổi xuống giường. Có lẽ tôi bị trầm cảm. Hẳn chứng bệnh này đã theo tôi được khoảng 24 năm rồi. Tôi cảm nhận được một phiên bản tốt hơn của mình ở đâu đó – ẩn sau lá gan hay dính vào lá lách bên trong cơ thể còi cọc như trẻ con của tôi – một Libby đang thúc giục tôi đứng dậy, làm gì đó, trưởng thành lên và tiến về phía trước. Tuy nhiên, cái xấu luôn thắng cuộc. Khi tôi lên bảy, anh trai tôi đã sát hại cả gia đình. Mẹ và hai chị gái đã ra đi: những tiếng nổ, những nhát chém và những tiếng kêu nghẹn. Tôi gần như không biết phải làm gì sau đó, chẳng còn ai trông đợi điều gì ở tôi cả.
Bước qua tuổi 18, tôi được nhận món tiền 321.374 đô-la. Đó là số tiền quyên góp được từ những nhà hảo tâm biết đến câu chuyện bi thảm của tôi và những nhà cải cách hăng hái đã dành tình cảm cho tôi. Tôi đã nghe cụm từ này khá nhiều lần và mỗi lần như vậy, tôi lại hình dung ra những trái tim nguệch ngoạc có cánh đang bay về một trong những ngôi nhà thời thơ ấu khốn nạn của mình, và cô gái bé nhỏ là tôi đang đứng ở cửa sổ, vẫy tay và tóm lấy từng trái tim sáng ngời, những tờ tiền màu xanh rơi xuống đầu tôi, cảm ơn, ngàn lần cảm ơn! Khi tôi còn nhỏ, số tiền từ thiện được giữ trong một tài khoản ngân hàng, vào thời điểm đó, tài khoản chỉ tăng lên sau khoảng ba hoặc bốn năm một lần khi có một tạp chí hoặc đài phát thanh nào đó cập nhật tin tức về tôi. Ngày Mới của Libby Bé Nhỏ: Nạn nhân duy nhất còn sống sót sau Vụ Tàn Sát trên Thảo Nguyên trở thành Cây Cà Dược 10 tuổi. (Kèm theo hình ảnh của tôi với những bím tóc lôi thôi đứng bên ngoài chiếc xe moóc của bác Diane trên bãi cỏ đầy những con sóc túi cáu kỉnh. Đôi bắp chân to của bác Diane lộ ra bên dưới chiếc váy hiếm hoi của bác, đứng trên bãi cỏ vàng đằng sau tôi.) Tuổi 16 Ngọt Ngào của Cô Bé Day Dũng Cảm! (Hình ảnh tôi, vẫn bé nhỏ, khuôn mặt sáng lên bởi những cây nến sinh nhật, chiếc váy bó sát bộ ngực cỡ D trên thân hình nhỏ xíu của tôi, thật lố lăng và khiêu gợi.)
Tôi đã sống nhờ số tiền đó trong hơn mười ba năm, nhưng nó cũng sắp cạn. Chiều hôm đó, tôi có một cuộc gặp để xác định chính xác mình còn bao nhiêu tiền. Mỗi năm một lần, người quản lý số tiền này − một tay giám đốc ngân hàng má đỏ lựng và nét mặt bình thản tên là Jim Jeffreys, nhất định hẹn tôi đi ăn trưa, mà theo như lời ông ta thì đây là một buổi “kiểm tra”. Chúng tôi sẽ ăn gì đó trong khoảng 20 đô-la và nói chuyện về cuộc sống của tôi – dù gì ông ta cũng đã biết tôi khá lâu. Còn tôi hầu như chẳng biết gì về Jim Jeffreys, và cũng chưa bao giờ hỏi, tôi luôn nhìn nhận mọi thứ dưới con mắt của một đứa trẻ: hãy tỏ ra lịch sự, nhưng chỉ vừa đủ thôi cho xong chuyện. Những câu trả lời cộc lốc và những tiếng thở dài mệt mỏi. (Tôi ngờ rằng Jim Jeffreys phải là tín đồ mộ đạo Cơ Đốc – ở ông ta có sự kiên nhẫn và lạc quan của một người tin vào sự tồn tại, che chở của Chúa Giê-su). Khoảng tám hoặc chín tháng nữa tôi mới đến hạn “kiểm tra”, nhưng Jim Jeffreys đã thúc giục, để lại những lời nhắn trên điện thoại với giọng lạnh lùng nghiêm túc, rằng ông ta đã làm tất cả những gì có thể để kéo dài “tuổi thọ của quỹ tài trợ”, nhưng đã đến lúc phải tính đến “những bước tiếp theo”.
Sự nhỏ nhen trong tôi lại xuất hiện: Tôi lập tức nghĩ tới một con bé khác trên mặt báo, Jamie Gì Đó, cũng mất gia đình trong năm 1985 như tôi. Mặt con bé bị bỏng trong một trận hỏa hoạn đã lấy đi tính mạng của cả gia đình do chính cha nó gây nên. Mỗi lần tới cây ATM rút tiền, tôi lại nghĩ về con bé Jamie đó, sẽ thế nào nếu nó không cướp đi tiếng tăm của tôi? Tôi sẽ được gấp đôi số tiền mình có. Con bé Jamie Sao Cũng Được có lẽ đang ở trong một trung tâm thương mại nào đó với số tiền của tôi, mua những chiếc túi xách cùng đồ trang sức lộng lẫy, và trang điểm trong một cửa hàng mỹ phẩm để che đi khuôn mặt đầy sẹo sáng bóng. Thật kinh khủng khi nghĩ về điều này. Ít nhất thì tôi cũng biết như vậy.
Cuối cùng tôi cũng nhấc được người ra khỏi giường cùng với tiếng kêu than và tha thẩn ra phía trước nhà. Tôi thuê một ngôi nhà gạch nhỏ nằm trong một dãy các ngôi nhà khác, tất cả đều nằm trên một con dốc lớn nhìn ra những bãi chăn thả gia súc trước kia của thành phố Kansas. Thành phố Kansas thuộc bang Missouri chứ không thuộc tiểu bang Kansas.
Khu vực nơi tôi đang sống thậm chí còn không có tên, hoàn toàn chẳng được ai biết tới. Nó được gọi là Đâu Đó Đằng Kia. Một khu vực kỳ quặc với mức sống dưới chuẩn, tù túng, đầy rẫy đường cùng ngõ cụt và những điều khốn kiếp. Sống cùng dãy nhà là những người già đã ở đây từ khi chúng được xây. Những bà lão vẫn ngồi hàng giờ bên cửa sổ và ngó ra ngoài với vẻ mặt mặt đờ đẫn, ủ dột. Đôi khi, họ tiến tới xe hơi của mình bằng những bước chân chậm chạp và cẩn trọng của người già, điều đó khiến tôi cảm thấy tội lỗi, như thể nhắc nhở nên chạy tới giúp một tay. Nhưng họ sẽ chẳng thích điều đó. Họ là những người già chẳng mấy thân thiện, cáu kỉnh, kín kẽ, không xem người mới đến là tôi như hàng xóm của mình. Cả vùng lầm rầm tiếng kêu ca phàn nàn. Phía này là tiếng mỉa mai khinh khỉnh của họ, đằng kia, cách đây hai nhà là tiếng chó sủa suốt ngày và hú thâu đêm, bạn chẳng hề nhận ra chuỗi âm thanh không ngừng nghỉ đó đang khiến mình phát điên cho đến khi chúng dừng lại trong chốc lát rồi lại tiếp tục vang lên. Âm thanh dễ chịu duy nhất trong vùng khiến tôi thức giấc vào buổi sáng là tiếng líu lo của bọn trẻ chập chững biết đi. Đám nhóc tì với khuôn mặt có ngấn tròn bầu bĩnh, cùng nắm tay vào sợi dây thừng dài mà người lớn dẫn đi, lẫm chẫm tới một nhà trẻ nào đó còn xa hơn cả khu ổ chuột phía sau nhà tôi. Chúng diễu hành như bầy chim cánh cụt ngang qua nhà tôi vào mỗi sáng, nhưng tôi chưa từng một lần thấy chúng quay trở lại. Hẳn lũ nhóc đã chập chững bước vòng quanh thế giới và trở lại đúng giờ vào buổi sáng để đi ngang qua cửa sổ nhà tôi. Cho dù câu chuyện là thế nào chăng nữa, tôi cũng cảm thấy mình đã gắn bó với chúng. Có ba bé gái và một bé trai, tất cả đều tỏ vẻ rất thích những chiếc áo khoác đỏ – và mỗi lần không nhìn thấy chúng, khi ngủ nướng, tôi thực sự thấy buồn. Buồn chán. Đó là điều mà mẹ tôi sẽ nói, không phải từ gì đó kịch tính như trầm cảm. Tôi đã mang những nỗi buồn trong mình suốt hai mươi tư năm qua.
TÔI MẶC VÁY và áo sơ-mi để tới chỗ hẹn, cảm thấy mình quá đỗi còi cọc, quần áo dành cho những cô gái trưởng thành chưa bao giờ vừa vặn với tôi. Tôi cao 1m50, thực ra là 1m46, nhưng cứ làm tròn lên thế. Đã sao nào! Tôi đã 31 tuổi, nhưng người ta vẫn thường nói với tôi bằng cái giọng ngâm nga như thể đang nói chuyện với trẻ con vậy.
Tôi đi thẳng xuống con dốc um tùm cỏ dại, lũ chó nhà hàng xóm lại bắt đầu sủa nhặng lên. Vỉa hè gần chỗ xe tôi đỗ có những mảnh xương vỡ của hai con chim non, mỏ và cánh bẹp dí khiến chúng trông giống loài bò sát. Chúng đã nằm đây cả năm trời và tôi không thể không nhìn mỗi lần lên xe. Chúng tôi cần một cơn lũ lớn để cuốn trôi tất cả chúng đi.
Trên bậc thềm ngôi nhà bên kia đường, hai bà già đang nói chuyện với nhau, chẳng thèm để ý đến tôi. Tôi không biết tên ai trong số họ. Nếu một trong hai người đó chết đi, thì tôi sẽ chẳng thể nói được những câu đại loại như, “Bà Zalinsky đáng thương đã qua đời.” Thay vào đó, tôi sẽ nói, “Thế là mụ khọm già đáng ghét bên kia đường đã nghẻo.”
Giống như một bóng ma trẻ con, tôi trèo vào chiếc xe cỡ trung vô danh, phần lớn được làm bằng nhựa của mình. Tôi vẫn đợi một gã nào đó từ đại lý xuất hiện và nói với tôi điều hiển nhiên rằng: “Thật buồn cười. Thực sự chiếc xe này không thể lái được đâu. Chúng tôi đùa ấy mà.” Tôi phóng chiếc xe đồ chơi mất mười phút vào thành phố để gặp Jim Jeffreys, đánh xe vào bãi đỗ của nhà hàng bít-tết muộn hai mươi phút, biết rằng ông ta sẽ mỉm cười hoàn toàn thân thiện và chẳng nói gì về sự chậm trễ của tôi.
Tôi phải gọi điện cho Jim Jeffreys trước khi đến để ông ta có thể ra ngoài rước tôi vào. Nhà hàng bít-tết khá ngon xây theo lối kiến trúc Kansas cổ này được bao quanh bởi những tòa nhà trống huếch khiến ông ta thấp thỏm, như thể có một đội quân chuyên cưỡng hiếp đang núp sẵn bên trong trực chờ tôi đến. Jim Jeffreys sẽ không trở thành Người Để Những Điều Tệ Hại Xảy Ra với Libby Day. Chẳng điều gì có thể làm hại tới CÔ BÉ DAY DŨNG CẢM, CÔ GÁI NHỎ CHỊU NHIỀU MẤT MÁT, cô bé đáng thương 7 tuổi với mái tóc đỏ và đôi mắt xanh to tròn, người sống sót duy nhất trong VỤ THẢM SÁT TRÊN THẢO NGUYÊN, VỤ TÀN SÁT KINH HOÀNG Ở KANSAS, LỄ HIẾN TẾ QUỶ SA-TĂNG TRONG NGÔI NHÀ NÔNG TRẠI. Mẹ và hai chị gái của tôi, tất cả đều bị Ben giết chết. Chỉ còn duy nhất một người sống sót và tôi đã chỉ điểm anh là kẻ giết người. Tôi − cô em gái bé nhỏ đã mang người anh trai tôn thờ quỷ dữ ra trước ánh sáng công lý. Câu chuyện của tôi đã trở thành một sự kiện lớn trên mặt báo. Tờ Enquirer đã đăng tấm ảnh tôi đẫm nước mắt lên trang nhất với tiêu đề KHUÔN MẶT THIÊN THẦN.
Tôi ngó vào gương chiếu hậu, nhận thấy mặt mình vẫn trẻ con như hồi nào. Những đốm tàn nhang đã mờ đi, hàm răng đều hơn, nhưng mũi thì vẫn hếch, và đôi mắt tròn xoe như mắt mèo con. Giờ tôi đã nhuộm tóc sang màu vàng bạch kim, nhưng phần chân tóc màu đỏ mọc lộ ra khiến da đầu tôi như đang chảy máu, đặc biệt là dưới ánh nắng xế chiều. Trông nó thật kinh khủng. Tôi châm một điếu thuốc. Đã mấy tháng nay tôi không hút, và chợt nhớ ra: Mình cần làm một điếu. Tôi là như vậy đấy, chẳng gắn bó với một điều gì.
“Đi thôi, Day Bé Nhỏ,” tôi nói lớn. Đó là cách tôi tự gọi mình mỗi khi cảm thấy chán ghét.
Tôi ra khỏi xe và làn khói theo chân tôi hướng về phía nhà hàng. Tôi cầm điếu thuốc bằng tay phải để không phải nhìn vào bàn tay trái cụt một ngón của mình. Trời đã gần tối, những đám mây lững lờ trôi ngang qua bầu trời tựa một đàn trâu, và mặt trời lặn xuống lưng chừng chỉ vừa đủ hắt ánh hồng lên vạn vật. Phía dòng sông, giữa các làn đường cao tốc dốc thoải uốn lượn, những nhà máy gạo cũ bị bỏ hoang, ám muội đen và đứng trơ trọi.
Tôi đi ngang qua bãi đỗ xe một mình, giẫm lên những vụn thủy tinh. Tôi không bị tấn công. Dù gì cũng mới hơn năm giờ chiều một chút. Jim Jeffreys luôn giữ thói quen ăn sớm, tuyệt vời làm sao!
Khi tôi bước vào, ông ta đang ngồi ở quầy bar nhấm nháp thứ đồ uống có ga nào đó, và việc đầu tiên ông ta làm, đúng như tôi đoán, là móc điện thoại từ trong túi áo khoác ra và nhìn chằm chằm như thể nó đã phản bội ông ta.
“Cháu có gọi cho chú không?” Ông ta cau mày hỏi.
“Không, cháu quên mất,” tôi nói dối.
Sau đó ông ta cười. “Quên rồi thì thôi. Dù sao chú cũng mừng vì cháu đã ở đây, cháu yêu ạ. Cháu đã sẵn sàng đi thẳng vào chuyện chưa?”
Ông ta bỏ 2 đô-la lên quầy, rồi dẫn tôi tới một chiếc sofa bọc da đỏ, lớp mút màu vàng lộ ra ở những chỗ vỏ bọc bị rạn. Các mẩu da nứt cọ vào chân khi tôi trượt vào chỗ ngồi. Mùi khói thuốc lá tỏa ra nồng nặc từ những tấm đệm lưng.
Jim Jeffreys chưa bao giờ uống rượu trước mặt tôi, cũng chưa từng hỏi xem tôi có muốn một ly hay không, nhưng khi người phục vụ tới, tôi đã gọi một ly vang đỏ và quan sát ông ta đang cố không tỏ ra ngạc nhiên, hoặc thất vọng, hay bất kỳ điều gì không giống Jim Jeffreys. Cô dùng loại vang đỏ nào? Tay phục vụ hỏi và tôi không biết phải nói sao, thật vậy – tôi không thể nhớ nổi tên của các loại vang đỏ hay vang trắng, hay phần tên mà người ta sẽ nói khi gọi rượu, vậy nên tôi chỉ đáp House. Jim Jeffreys gọi một phần thịt nướng, còn tôi gọi khoai tây bỏ lò nhồi thịt muối và pho-mát, sau đó tay phục vụ rời đi và Jim Jeffreys thở dài rồi nói. “Libby, chúng ta đang cùng nhau bước vào một giai đoạn hoàn toàn mới và khác biệt.”
“Vậy còn lại bao nhiêu ạ?” Tôi hỏi, và trong đầu thầm nghĩ hãy nói mười nghìn hãy nói mười nghìn đi.
“Cháu đã đọc những báo cáo mà chú gửi chưa?”
“Thỉnh thoảng cháu có đọc,” tôi lại nói dối. Tôi thích nhận thư nhưng không hề đọc chúng, những bản báo cáo hẳn đang chất đống đâu đó trong nhà tôi.
“Cháu có nghe tin nhắn thoại của chú chứ?”
“Cháu nghĩ điện thoại của chú bị hỏng rồi. Cháu chỉ nghe được tiếng có tiếng không.” Tôi chỉ nghe vừa đủ để biết mình đang gặp rắc rối. Thường thì tôi chỉ thấy hứng thú với câu đầu tiên của Jim Jeffreys, mà lần nào cũng bắt đầu bằng: Chú là Jim Jeffreys bạn cháu đây, Libby…
Jim Jeffreys đan hai tay vào nhau và trề môi. “Còn 982 đô-la và 12 xu trong quỹ. Như lần trước chú đã nói, nếu cháu có một công việc chính thức nào đó thì chúng ta có thể duy trì được số tiền trong tài khoản một cách ổn định, nhưng…” Ông ta buông tay, vẻ mặt nhăn nhó. “Mọi việc đã không đi theo hướng đó.”
“Vậy còn cuốn sách thì sao, nó không...?”
“Chú rất tiếc, Libby, cuốn sách không mang gì thêm về cả. Năm nào chú cũng nói với cháu về điều này. Đó không phải là lỗi của cháu nhưng cuốn sách … Không, chẳng có gì hết.”
Cách đây vài năm, để khai thác sinh nhật lần thứ 25 của tôi, một nhà xuất bản chuyên về những cuốn sách vượt lên chính mình đã đề nghị tôi viết về việc chế ngự “những bóng ma của quá khứ.” Mặc dù chẳng chế ngự được nhiều thứ đến vậy, nhưng tôi vẫn nhận lời, và nói chuyện qua điện thoại với một người phụ nữ tại New Jersey, cô ta đã chấp bút cho đứa con tinh thần của tôi. Cuốn sách ra mắt vào dịp Giáng sinh năm 2002, bìa sách in hình tôi với vẻ mặt kiêu hãnh cùng kiểu tóc bờm xờm không thích hợp. Cuốn sách có tựa đề Day của Ngày Mới! Đừng Chỉ Sống Sót Với Nỗi Đau Thời Thơ Ấu – Hãy Vượt Qua Nó! cùng một vài tấm hình của tôi và gia đình đã mất, được in xen kẽ giữa 200 trang của món cháo tư duy tích cực đầy ủy mị đó. Tôi được trả 8.000 đô-la, và một vài nhóm người đồng cảnh đã mời tôi tới diễn thuyết. Tôi đã bay đến Toledo để gặp những người lâm vào cảnh mồ côi từ nhỏ, tới Tulsa tham dự buổi họp mặt đặc biệt của những cô cậu mới lớn có mẹ bị bố giết chết. Tôi đã ký sách cho những đứa trẻ khiếm khuyết về mặt trí tuệ, chúng hỏi tôi những câu ngứa tai kiểu như mẹ chị có làm bánh nướng không. Tôi đã ký sách cho những người già nghèo khổ nhìn chằm chằm tôi qua cặp kính hai tròng, hơi thở phả ra mùi cà phê cháy và dịch vị dạ dày. Tôi đề tặng “Hãy Bắt Đầu Một Ngày Mới!” hoặc “Ngày Mới Đang Chờ Đón!” Thật may mắn khi họ của tôi lại mang đến cách chơi chữ này. Những người tới gặp tôi luôn mang dáng vẻ tuyệt vọng và kiệt sức, bối rối đứng gần tôi trong một nhóm người lèo tèo. Luôn là những nhóm nhỏ lẻ. Nhưng khi nhận ra mình chẳng được lợi gì từ những việc này, tôi đã từ chối đi tới bất kỳ nơi nào nữa. Dù sao cuốn sách cũng đã tạo được tiếng vang.
“Lẽ ra nó phải mang lại nhiều tiền hơn,” tôi lầm bầm. Tôi thực sự rất muốn kiếm tiền từ cuốn sách, theo lối suy nghĩ ám ảnh kiểu trẻ con – rằng nếu tôi thực sự muốn thì điều đó sẽ xảy ra. Điều đó chắc chắn phải xảy ra.
“Chú biết.” Đó là những lời duy nhất mà Jim Jeffreys có thể nói về việc này sau sáu năm. Ông ta lặng yên nhìn tôi uống rượu. “Nhưng Libby, việc này mang đến cho cháu một trang mới thực sự thú vị trong cuộc đời. Ý chú là cháu muốn làm điều gì khi trưởng thành?”
Điều này tưởng chừng sẽ rất thú vị, nhưng thực tế nó lại làm tôi phát điên. Tôi không muốn làm điều gì cả, thật quá sức vớ vẩn.
“Vậy là không còn chút tiền nào sao?”
Jim Jeffreys buồn bã lắc đầu và bắt đầu rắc muối lên miếng thịt nướng vừa được mang ra, phần máu đọng xung quanh có màu đỏ tươi như nước Kool-Aid.
“Vậy còn những đợt quyên góp mới thì sao – sắp tới ngày giỗ lần thứ 25 rồi.” Một cơn tức giận khác lại sôi lên bởi ông ta đã khiến tôi phải nói ra điều này thành lời. Ben đã bắt đầu vụ sát hại vào khoảng 2 giờ sáng ngày 3 tháng 1 năm 1985. Thời gian đó đã gắn liền với cái chết thảm khốc của gia đình chúng tôi, và giờ đây tôi đang trông chờ vào ngày giỗ đó. Ai lại đi nói ra những điều như thế? Tại sao tài khoản của tôi lại không có lấy nổi 5000 đô-la chứ?
Một lần nữa, ông ta lại lắc đầu. “Không có nữa đâu, Libby à. Giờ cháu bao nhiêu nào, 32 tuổi? Cháu là một phụ nữ trưởng thành rồi. Mọi người đã chuyển hướng rồi. Họ muốn giúp những cô bé khác, không phải…”
“Không phải cháu.”
“Chú e là như vậy.”
“Mọi người đã chuyển hướng? Thật sao?” Tôi cảm thấy hụt hẫng như bị bỏ rơi, cảm giác mà tôi thường thấy khi còn nhỏ, lúc một người bác hoặc anh chị họ nào đó lần lượt bỏ tôi tại nhà của một người họ hàng khác: Em hết trách nhiệm rồi, chị trông nó một thời gian đi. Và người họ hàng này sẽ thực sự đối tốt với tôi trong khoảng một tuần đầu, cố gắng vật lộn với đứa nhỏ mồm miệng cay độc như tôi, và sau đó… thường là lỗi của tôi. Thật ra đó không phải hội chứng tự kết tội về mình. Tôi đã xịt keo tạo kiểu tóc Aqua Net lên khắp phòng một người chị họ rồi châm lửa đốt. Bác Diane, người giám hộ, bà bác đáng kính của tôi đã năm lần bảy lượt gửi tôi đi rồi lại đón tôi về trước khi bà đóng sập cánh cửa trước mặt tôi mãi mãi. Tôi đã làm nhiều việc rất tồi tệ với người phụ nữ đó.
“Libby à, chú e là luôn có những vụ án mạng mới,” Jim Jeffreys nói giọng đều đều. “Chuyện gì cũng chỉ khiến người ta chú ý một thời gian thôi. Cháu thử nghĩ xem họ đang phấn khích với Lisette Stephens như thế nào.”
Lisette Stephens là một cô gái xinh xắn da ngăm 25 tuổi, biến mất trên đường trở về nhà từ bữa tối mừng lễ Tạ ơn của gia đình cô. Người ta đã lục khắp thành phố Kansas để tìm kiếm – lúc nào bật thời sự lên cũng thấy bức hình cô ta đang mỉm cười. Vụ việc đã lan rộng khắp cả nước từ đầu tháng 2. Trong vòng một tháng, chẳng có tiến triển gì trong nỗ lực tìm kiếm. Lisette Stephens đã chết, giờ thì ai cũng biết điều đó, nhưng chẳng ai muốn là người đầu tiên nói toạc ra.
“Nhưng,” Jim Jeffreys nói tiếp, “chú nghĩ mọi người sẽ vẫn muốn nghe tin cháu đang sống tốt.”
“Tuyệt vời.”
“Thế cháu nghĩ sao về việc học đại học?” Ông ta cắn một miếng thịt lớn.
“Không.”
“Vậy nếu chúng ta gắng thu xếp cho cháu một công việc văn phòng nào đó, như lưu trữ tài liệu hay đại loại như vậy thì sao?”
“Không.” Tôi thu người lại, phớt lờ đĩa thức ăn và khuôn mặt lộ rõ vẻ cau có. Đó lại là một từ của mẹ tôi: cau có. Có nghĩa là buồn theo cách khiến người khác cảm thấy khó chịu. Buồn một cách hung hãn.
“Thôi nào, sao cháu không dành ra một tuần để suy nghĩ về việc này?” Ông ta ngấu nghiến miếng thịt, vội vã nâng lên hạ xuống chiếc dĩa. Jim Jeffreys muốn rời đi. Ông ta đã xong việc ở đây.
ÔNG TA BỎ LẠI TÔI cùng với ba lá thư và nụ cười ra vẻ lạc quan. Ba lá thư, tất cả đều trông như những tờ giấy lộn. Jim Jeffreys đã từng đưa tận tay tôi những hộp thư căng phồng, hầu hết là những bức thư kèm theo các tấm séc bên trong. Tôi sẽ ký séc rồi chuyển cho ông ta và sau đó nhà tài trợ sẽ nhận được một bức thư với chữ viết tay vuông vắn của tôi. “Cảm ơn sự đóng góp của bạn. Chính những người như bạn đã giúp tôi có một tương lai tươi sáng hơn. Bạn bạn, Libby Day.” Tôi thực sự đã viết “bạn bạn” thay vì “bạn của bạn”, một lỗi chính tả mà Jim Jeffreys cho rằng sẽ khiến mọi người cảm thấy mủi lòng.
Nhưng giờ không còn những hộp thư như vậy nữa, tôi bị bỏ lại cùng vẻn vẹn ba lá thư và cả buổi tối để giết thời gian. Tôi trở về nhà, không nhận ra mình quên bật đèn xe cho tới khi một vài chiếc xe nháy đèn pha về phía tôi. Thành phố Kansas mờ tối dần trong ánh sáng phía chân trời hắt lại từ đằng đông, những tòa nhà khiêm tốn như trong trò cờ tỷ phú Monopoly nằm rải rác, cột phát sóng mọc lên khắp nơi. Tôi cố gắng tưởng tượng ra những việc mình có thể làm để kiếm tiền. Những công việc dành cho người trưởng thành. Tôi hình dung mình đội chiếc mũ y tá, tay cầm nhiệt kế; rồi trong bộ đồng phục cảnh sát màu xanh gọn gàng, dẫn một đứa trẻ qua đường; hay một bà nội trợ đeo chuỗi vòng ngọc trai và mặc chiếc tạp dề hoa lá cành, đang chẩn bị bữa tối cho đức lang quân. Mày thật kém cỏi, tôi nghĩ. Ý tưởng của mày về tuổi trưởng thành vẫn chỉ đến từ những cuốn truyện tranh mà thôi. Và thậm chí ngay cả khi đang tự nhủ thế này, tôi vẫn thấy mình đang viết những chữ cái ABC lên bảng trước bao ánh mắt tò mò và thích thú của bọn học sinh lớp một.
Tôi cố gắng nghĩ ra những công việc thực tế hơn – công việc nào đó liên quan đến máy tính. Nhập dữ liệu chẳng hạn, đó cũng là một công việc đúng không? Hay dịch vụ khách hàng, cũng được đấy chứ? Tôi đã từng xem bộ phim về một người phụ nữ kiếm sống bằng cách dắt chó đi dạo, mặc áo khoác mỏng và áo len, tay lúc nào cũng ôm những bông hoa, còn những chú chó thì giàu tình cảm và đáng yêu. Tuy nhiên, tôi lại không thích chó, chúng thường làm tôi sợ. Cuối cùng, tôi nghĩ tới công việc nông trại. Các thế hệ trong gia đình tôi đã làm nông dân cả trăm năm rồi, tính đến đời mẹ tôi, cho tới khi Ben giết chết bà. Sau đó trang trại đã bị bán đi.
Dù sao tôi cũng không biết làm những công việc ở nông trại như thế nào. Tôi vẫn nhớ mọi ký ức về nơi ấy: Ben lội qua vũng bùn lạnh lẽo, đẩy đám bê đang chắn đường; đôi bàn tay thô ráp của mẹ đang gieo những hạt kê màu anh đào, một ngày nào đó sẽ lớn thành cây cao lương; Michelle và Debby hét lên the thé khi nhảy trên đống cỏ khô trong nhà kho. “Ngứa quá!” Debby lúc nào cũng kêu ca nhưng rồi vẫn tiếp tục nhảy. Tôi chưa bao giờ giữ tâm trí mình chìm lâu trong những hồi tưởng như thế. Tôi đã gán cho những ký ức đó cái tên như thể chúng là một nơi đặc biệt nguy hiểm: Vùng tối. Nán lại quá lâu với hình ảnh mẹ tôi đang hì hục sửa tạm chiếc máy pha cà phê vô dụng đáng nguyền rủa, hay Michelle nhảy múa trong chiếc áo ngủ bằng len, tất ống kéo lên tận đầu gối, sẽ khiến đầu óc tôi rơi vào Vùng tối. Những vệt máu đỏ tươi bắn tung tóe trong màn đêm. Những nhát rìu chắc chắn, nhịp nhàng vung lên như thể đang chặt gỗ. Tiếng súng nổ ở hành lang hẹp. Tiếng kêu khóc ai oán hoảng sợ của mẹ tôi trong lúc bà cố bảo vệ những đứa con khi đã bị bắn nát một nửa đầu.
Một trợ lý hành chính sẽ làm gì nhỉ? Tôi tự hỏi.
Tôi dừng xe trước nhà, bước xuống đoạn vỉa hè có khắc dòng chữ “Jimmy Yêu Tina” trên mặt bê-tông có niên đại hàng chục năm trước. Đôi khi, tôi chợt hình dung về cặp đôi này: Jimmy là một vận động viên bóng chày xoàng xĩnh, còn Tina là một bà nội trợ ở Pittsburgh đang phải vật lộn với căn bệnh ung thư. Cũng có thể anh ta là một tay lính cứu hỏa đã ly hôn, cô ta là một luật sư đã chết đuối tại vùng duyên hải Vịnh Mexico vào năm ngoái. Hay cô ta là giáo viên, còn anh ta đã chết vì chứng phình động mạch ở tuổi 20. Đó là một trò chơi trí tuệ hấp dẫn, dù có đôi phần rùng rợn. Tôi có thói quen giết chết ít nhất một trong số họ.
Nhìn lên căn nhà thuê của mình và tự hỏi liệu mái nhà có bị nghiêng không. Nếu toàn bộ căn nhà đổ sập xuống thì cũng chẳng mất mát gì nhiều. Tôi không có gì đáng giá ngoài con mèo già Buck, nó có thể chịu đựng được tôi. Bước lên bậc cửa cong vênh và ẩm ướt, tiếng meo meo tức giận vọng ra từ trong nhà khiến tôi nhận ra cả ngày hôm nay vẫn chưa cho nó ăn. Tôi mở cửa và con mèo già bước về phía tôi, chậm chạp và cà nhắc như một chiếc xe cà tàng hỏng bánh. Không còn chút thức ăn cho mèo nào – thứ đã được liệt vào danh sách việc phải làm cả tuần nay – tôi ra tủ lạnh lấy vài lát pho-mát Thụy Sỹ cứng và ném cho nó. Sau đó, tôi ngồi xuống mở ba chiếc phong bì, ngón tay sặc mùi sữa lên men.
Tôi chưa bao giờ đọc quá một lá thư đầu tiên.
Cô Day thân mến,
Dường như cô không có website riêng, nên tôi hy vọng bức thư này sẽ đến được tay cô. Tôi đã từng đọc và vẫn luôn theo sát câu chuyện của cô trong những năm qua, tôi rất muốn biết tình trạng của cô lúc này cũng như những dự định mà cô sẽ theo đuổi. Liệu cô có còn xuất hiện nữa không? Nhóm của tôi sẵn sàng trả 500 đô-la chỉ để cô xuất hiện. Xin hãy liên hệ lại và tôi sẽ sẵn lòng cung cấp thêm thông tin cho cô.
Thân mến,
Lyle Wirth
Tái bút: Đây là thư mời cộng tác hợp pháp.
Họ muốn tôi múa cột? Hay đóng phim khiêu dâm? Quay lại thời điểm cuốn sách được xuất bản, đáng chú ý nhất trong mục những bức ảnh về Day Bé Nhỏ Đang Trưởng Thành là ảnh chụp tôi 17 tuổi với bộ ngực đẫy đà, căng tràn trong chiếc áo lót đặc trưng của những người da trắng khốn khổ. Kết quả là tôi nhận được vài lời gạ gẫm từ các tạp chí ảnh khỏa thân, nhưng không tạp chí nào đưa ra khoản tiền đủ hấp dẫn khiến tôi phải đắn đo suy nghĩ. Và thậm chí giờ đây, 500 đô-la cũng chẳng mấy thuyết phục, nếu những gã kia muốn tôi khỏa thân. Nhưng biết đâu – suy nghĩ tích cực lên nào, Day Bé Nhỏ! – đây thực sự là lời mời hợp pháp từ một đám người buồn khổ nào đó đang cần tôi xuất hiện và cho họ lý do để trải lòng. 500 đô-la đổi lấy một vài giờ tỏ vẻ đồng cảm là một phi vụ khá ổn.
Bức thư được đánh máy, ngoại trừ số điện thoại ở cuối thư được viết tay khá ấn tượng. Tôi bấm số và hy vọng hộp thư thoại trả lời. Nhưng không, tôi chẳng nghe thấy tín hiệu gì nữa, vậy là có người đã nhấc máy nhưng không nói gì. Tôi thấy ngượng, như thể đang gọi ai đó giữa một bữa tiệc mà tôi không được mời.
Ba giây sau, một giọng nam cất tiếng. “Xin chào?”
“Chào, có phải anh là Lyle Wirth không?” Buck đang dụi vào chân tôi, ngóng chờ thêm thức ăn.
“Ai đó?” Xung quanh hắn im lặng như tờ. Như thể đang ở dưới đáy một hố sâu vậy.
“Tôi là Libby Day. Anh đã viết thư cho tôi.”
“Ôi Chúa ơi! Là thật chứ, Libby Day? Chị đang ở đâu vậy? Chị có trong thành phố không?”
“Thành phố nào?”
Gã đàn ông – hoặc một tên nhóc, nghe giọng vẫn còn trẻ – rú lên với ai đó sau lưng hắn, “Liên lạc thành công rồi” và rì rầm vào điện thoại.
“Kansas? Chị sống ở Kansas, đúng không? Libby?”
Tôi đang định dập máy thì hắn bắt đầu réo lên trong ống nghe A lô-ôôô-ô? A lô-ôôô-ô? như thể tôi là đứa trẻ lơ đãng ngồi trong lớp mà tâm hồn treo ngược cành cây vậy. Thế nên tôi đáp lại đúng là tôi sống ở Kansas và hắn muốn gì. Lyle buông một chuỗi heheheh, điệu cười như thể muốn nói bạn sẽ không tin nổi đâu nhưng...
“Vâng, như những gì đã viết, em muốn bàn với chị về một buổi gặp mặt. Có thể chứ?”
“Để làm gì?”
“Em là thành viên của một câu lạc bộ đặc biệt… sẽ có một buổi họp mặt diễn ra tại đây vào tuần tới, và…”
“Đó là câu lạc bộ kiểu gì?”
“Nó hơi khác biệt một chút. Là một loại câu lạc bộ ngầm…”
Tôi không nói gì, để mặc cho hắn ba hoa. Sau màn chào hỏi xuất sắc ấy, tôi cảm thấy hắn không được thoải mái. Tốt thôi.
“Ôi khỉ thật, không thể giải thích hết qua điện thoại được. Em có thể, uhm, mời chị một ly cà phê không?”
“Đã quá muộn để uống cà phê vào lúc này,” tôi nói và nhận ngay ra ý hắn không phải tối nay, mà có thể là một hôm nào đó trong tuần này, rồi tôi lại nghĩ không biết mình phải làm gì để giết thời gian trong bốn, năm tiếng đồng hồ sắp tới.
“Vậy thì bia nhé? Hay rượu?” Hắn hỏi.
“Khi nào?”
Một khoảng lặng. “Tối nay?”
Tôi ngừng một thoáng. “Được thôi.”
LYLE WIRTH trông giống một kẻ giết người hàng loạt, có khả năng hắn không đến một mình. Nếu ai đó có ý định chặt nhỏ gái bán dâm hoặc làm thịt những kẻ bỏ trốn thì phải cố tỏ ra bình thường. Hắn đang ngồi cạnh chiếc bàn chơi bài cáu bẩn nằm giữa quán Tấm Lưới Sắt của Tim-Clark, một quán rượu chui ẩm thấp gắn liền với khu chợ trời. Tim-Clark nổi tiếng với các món nướng, và giờ đang được tu sửa để trở nên sang trọng hơn, khách hàng ở đây gồm nhiều thành phần, từ những người thủ cựu tóc hoa râm cho đến các anh chàng bảnh bao đầu tóc bóng mượt, mặc quần jeans bó sát. Lyle chẳng thuộc loại nào cả: hắn trạc tuổi đôi mươi, mái tóc xám lượn sóng bôi quá nhiều gel giữ nếp ở những chỗ không cần thiết khiến tóc hắn nửa xù nửa bóng lộn. Hắn đeo một cặp kính không dây, mặc áo khoác gió ôm sát cùng quần jeans bó, nhưng không theo kiểu phong cách, mà chỉ đơn thuần là bó chặt. Ở hắn có những nét quá thanh tú. Cánh đàn ông không nên có môi hồng như vậy.
Hắn bắt ánh mắt tôi khi tôi tiến về phía hắn, những không nhận ra ngay, chỉ lơ đãng ngắm như thể tôi là một quý cô lạ hoắc nào đó. Chỉ khi tôi đã đi gần tới bàn thì hắn mới ngớ ra: những đốm tàn nhang, khung xương nhỏ nhắn, chiếc mũi hếch sẽ càng hếch lên mỗi khi ai đó nhìn tôi lâu.
“Libby!” Hắn mở lời, rồi như nhận ra vậy quá suồng sã, hắn nói thêm “Day!” và đứng dậy, kéo ra một chiếc ghế gập, rồi như thể tiếc rẻ phép lịch sự với phụ nữ, hắn quay trở lại chỗ ngồi. “Tóc chị màu vàng.”
“Phải.” Tôi ghét ai bắt đầu cuộc trò chuyện bằng những điều hiển nhiên – còn gì để nói với những điều như thế? Hôm nay trời nóng quá. Ừ, nóng thật. Tôi nhìn quanh để ra hiệu gọi đồ uống. Một cô phục vụ mặc váy ngắn với mái tóc quyến rũ đang quay lưng về phía chúng tôi. Tôi gõ tay xuống bàn cho tới khi cô ta quay lại, chìa khuôn mặt ít nhất cũng phải 70 tuổi về phía tôi, lớp phấn trang điểm được trát dày bự lên đôi má nhăn nheo, những đường gân tím nổi rõ trên hai bàn tay. Đâu đó trên cơ thể bà ta kẽo kẹt kêu lên khi cúi xuống nghe tôi gọi đồ, và khịt mũi khi tôi chỉ gọi một cốc bia PBR.
“Món thịt ức ở đây rất ngon,” Lyle gợi ý. Nhưng hắn cũng chẳng gọi món ấy, chỉ nhấm nháp nốt phần còn lại của thứ đồ uống có màu trắng sữa nào đó.
Tôi không ăn thịt, kể từ khi chứng kiến gia đình mình bị băm thành nhiều mảnh – tôi vẫn đang gắng gạt Jim Jeffreys và miếng bít-tết dai ngoách của ông ta ra khỏi đầu. Tôi nhún vai nói không, đợi cốc bia của mình và ngắm nhìn xung quanh như một vị khách du lịch. Móng tay của Lyle rất bẩn, đó là điều đầu tiên tôi để ý thấy. Mái tóc giả màu đen của bà phục vụ già đã để lộ ra những sợi tóc trắng dính ở cổ. Bà ta hơi vén chúng vào trong khi túm lấy gói khoai tây chiên đang sôi xèo xèo dưới đèn hồng ngoại. Ở bàn bên, một gã béo đang ngồi một mình, ăn món giẻ sườn và ngắm nghía món đồ vừa mua được từ chợ trời: một chiếc bình cổ vô giá trị có hình người cá. Những ngón tay của gã để lại vết mỡ trên ngực nàng tiên cá.
Bà phục vụ chẳng nói chẳng rằng đặt cộp cốc bia trước mặt tôi, sau đó ngúng nguẩy đi về phía gã béo và gọi hắn là Anh yêu.
“Vậy các cậu làm gì với câu lạc bộ của mình?” Tôi gợi chuyện.
Lyle đỏ mặt, đầu gối hắn bồn chồn cựa quậy dưới bàn.
“Chị biết có những gã quản lý đội bóng ảo, hoặc sưu tập các quân bài bóng chày chứ?” Tôi gật đầu. Hắn cười một cách kỳ quặc rồi nói tiếp. “Còn phụ nữ thì hay đọc các tạp chí lá cải và họ biết mọi thứ về một vài anh chàng diễn viên nào đó như con họ tên gì, họ lớn lên ở thành phố nào.”
Tôi thận trọng cúi nhẹ, một cái gật đầu cảnh giác.
“Đại khái là như vậy đấy, nhưng nó… bọn em gọi nó là câu lạc bộ Kill.”
Tôi nhấp một ngụm bia, hơi ga sộc lên mũi.
“Nó không quái đản như tên gọi đâu.”
“Nghe cực kỳ quái đản đấy.”
“Chị có biết những người thích các điều bí ẩn chứ? Hoặc nghiện các trang nhật ký tội phạm có thật ấy? Câu lạc bộ này gồm một nhóm những người như thế. Mỗi thành viên đều có những ám ảnh riêng về các vụ giết người: Laci Peterson, Jeffreys MacDonald, Lizzie Borden… chị cùng gia đình. Ý em là chị và gia đình chị là mối quan tâm lớn đối với câu lạc bộ. Rất lớn.” Hắn ta thấy tôi nhăn mặt, rồi nói tiếp. “Những gì đã xảy ra đúng là một bi kịch. Và anh trai chị đã phải ngồi tù, bao lâu nhỉ, 25 năm đúng không?”
“Đừng tiếc thương cho Ben, anh ta đã giết cả nhà tôi.”
“Heh. Phải rồi.” Hắn mút một viên đá màu trắng đục. “Vậy, đã bao giờ chị nói chuyện với anh ấy về chuyện đó chưa?”
Cơn phẫn nộ bùng lên trong tôi. Nhiều người một mực cho rằng Ben vô tội. Họ đã gửi vào hòm thư của tôi những mẩu báo viết về Ben mà tôi chẳng bao giờ đọc, tôi thường ném chúng đi ngay khi nhìn thấy ảnh của anh ta – mái tóc đỏ xõa ngang vai, cắt theo kiểu Chúa Giê-su để hợp với khuôn mặt hiền lành rạng rỡ của anh ta. Xấp xỉ 40. Tôi chưa từng đến trại giam thăm anh mình, chưa từng một lần trong suốt những năm qua. Trại giam hiện giờ mà anh ta đang ở, khá tiện đường, nằm ngay vùng ngoại ô của thành phố quê hương chúng tôi – Kinnakee, Kansas – nơi anh ta thực hiện hành vi giết người. Nhưng tôi chẳng hề tiếc nhớ đến nó.
Hầu hết các tín đồ của Ben đều là phụ nữ. Tai to, răng dài, tóc xoăn và mặc quần âu, môi mím chặt và đeo hình thánh giá. Thỉnh thoảng họ xuất hiện trên bậc cửa trước nhà tôi với đôi mắt sáng quắc, nói rằng lời khai của tôi là không đúng, rằng tôi chỉ mới 7 tuổi nên đã mất bình tĩnh, bị ép buộc và nói dối khi tuyên thệ anh trai tôi là kẻ giết người. Họ thường gào thét vào mặt tôi, và luôn kèm theo rất nhiều nước miếng. Một vài người thậm chí còn tát tôi. Điều này chỉ khiến họ ít có sức thuyết phục với tôi hơn: Một phụ nữ bị kích động với khuôn mặt đỏ bừng rất dễ bị coi khinh, và tôi luôn tìm ra lý do để khinh thường họ.
Nếu đối tốt với tôi hơn, có thể họ đã thuyết phục được tôi.
“Không, tôi không nói chuyện với Ben. Nếu cậu gặp tôi để hỏi về chuyện đó thì tôi không có hứng thú.”
“Không, không. Không phải vậy. Chị chỉ vừa mới tới, đó chỉ là những câu hỏi xã giao mà thôi. Chị thực sự không nghĩ về đêm hôm đó sao?”
Vùng tối.
“Không.”
“Chị có thể biết được thêm điều gì đó thú vị. Có một vài người quan tâm... những chuyên gia, những người hiểu rõ vụ này hơn cả các tay thám tử. Đâu có khó khăn quá đâu.”
“Vậy ra đây là nhóm người muốn thuyết phục tôi rằng Ben vô tội.”
“Vâng… có lẽ là vậy. Hoặc chị có thể thuyết phục họ điều ngược lại.” Tôi ngửi thấy mùi hợm hĩnh. Hắn tựa lưng vào ghế, hai vai căng ra, vẻ phấn kích.
“Tôi muốn 1.000 đô-la.”
“Em có thể đưa chị 700.”
Tôi nhìn xung quanh gian phòng thêm lần nữa, hơi lưỡng lự. Tôi sẽ lấy bất cứ số tiền nào mà Lyle Wirth đưa, bởi nếu không, tôi sẽ sớm phải kiếm một công việc thực sự. Mà tôi lại không đủ khả năng làm điều đó. Tôi không thể là một nhân viên mẫn cán suốt năm ngày trong tuần được. Từ thứ hai đến thứ sáu ư? Tôi thậm chí còn không ra khỏi giường suốt năm ngày liền – tôi vẫn thường quên ăn suốt năm ngày liên tiếp. Có mặt ở nơi làm việc trong suốt tám tiếng – tám tiếng đồng hồ dài dằng dặc không ở nhà – là điều không thể.
“750 cũng được.” Tôi nói.
“Tuyệt vời. Rất nhiều người sưu tập sẽ tới dự đấy, vậy nên chị hãy mang tất cả những món đồ mà chị có… uhm, những đồ vật từ thời thơ ấu mà có thể chị sẽ muốn bán. Chị có thể kiếm được 2.000 đô-la dễ như trở bàn tay. Đặc biệt là những lá thư. Càng riêng tư càng tốt. Bất cứ thứ gì có đề ngày tháng gần với vụ giết người. Ngày 3 tháng 2 năm 1985.” Hắn ngâm nga như thể thường xuyên nhắc đến nó. “Bất cứ thứ gì từ mẹ chị. Mọi người cực kỳ… hứng thú với mẹ chị.”
Con người luôn là thế. Bọn họ vẫn luôn muốn biết: Người phụ nữ bị chính con trai mình rứt ruột đẻ ra sát hại là người như thế nào?