Ngày 2 tháng 1 năm 1985
6 giờ 11 phút chiều
PATTY VẪN ĐANG LẨM BẨM những lời xin lỗi trong khi Lou Cates đẩy cô ra khỏi cửa, trong chốc lát, cô đã ở ngoài bậc cửa, giữa tiết trời buốt giá, hai mắt chớp chớp liên hồi. Giữa hai lần chớp mắt, trước khi cô có thể nói ra một từ nào đó, cánh cửa lại mở ra. Bước ra ngoài là một người đàn ông ngoài 50 tuổi. Ông ta đóng cánh cửa phía sau lưng, và giờ tất cả họ đều đứng trước hiên nhà: Patty, Libby, Diane và người đàn ông với mái tóc hoa râm chải ngược về phía sau. Ông ta vừa nhìn Patty vừa đưa tay lên vuốt mái tóc bóng lộn, chiếc nhẫn Claddagh đặc trưng của xứ Ireland tỏa ra ánh sáng lấp lánh.
“Cô là Patty Day?” Hơi thở đầy vị cà phê của ông ta phảng phất trong không khí lạnh lẽo.
“Tôi là Patty Day, mẹ của cháu Ben Day.”
“Chúng tôi ghé qua để tìm hiểu nguyên nhân của chuyện này.” Diane nói chen vào. “Chúng tôi đã nghe rất nhiều tin đồn, nhưng chẳng ai thèm quan tâm đến việc nói chuyện thẳng thẳn trước mặt chúng tôi.”
Người đàn ông chống hai tay bên hông, nhìn xuống Libby, sau đó nhanh chóng rời mắt đi. “Tôi là thám tử Jim Collins, phụ trách điều tra vụ này. Tôi tới đây để nói chuyện với những người này và sau đó sẽ liên lạc với cô. Cô đã giúp tôi một đoạn đường đấy. Cô có muốn đi đâu đó nói chuyện không? Ở đây khá lạnh.”
Họ tới quán bánh rán Dunkin’s Donuts gần đường cao tốc, trên hai xe riêng rẽ, Diane đang lẩm bẩm một câu chuyện cười mỉa mai về những tay cảnh sát và bánh rán, rồi sau đó chửi Cates – thậm chí cô ta còn không dành cho chúng ta chút thời gian trong cái ngày chết tiệt này. Khốn kiếp. Bình thường Patty lẽ ra đã nói những lời bênh vực cho Cates: mục đích của Diane và Patty trong chuyến ghé thăm lần này – nói chuyện thẳng thắn và biện hộ cho Ben – khiến nỗi đau của họ khoét sâu hơn. Nhưng nhà Cates không cần đến sự bênh vực ấy.
Thám tử Collins đang đợi họ với ba cốc cà phê và một hộp sữa dành cho Libby.
“Tôi không chắc cô có muốn Libby ăn đồ ngọt không,” ông ta nói, và Patty tự hỏi liệu tay thám tử có nghĩ cô là một bà mẹ tồi nếu cô mua cho Libby một cái bánh rán hay không. Đặc biệt nếu ông ta biết cô đã cho bọn trẻ ăn bánh kếp sáng nay. Từ giờ trở đi, đây sẽ là cuộc sống của mình, cô nghĩ, luôn phải bận tâm đến suy nghĩ của người khác. Nhưng Libby đang dán mặt vào tủ kính đựng bánh ngọt, nhún nhảy hết chân này đến chân khác, nên Patty lục tìm trong túi một ít tiền lẻ và mua chiếc bánh rán phủ kem màu hồng, bọc nó bằng khăn ăn và đưa cho Libby. Cô sẽ không biết phải làm sao nếu từ chối Libby, con bé sẽ nhìn chằm chằm vào những hạt đường với ánh mắt buồn rầu, trong khi họ nói chuyện về tin đồn con trai cô là kẻ cưỡng hiếp trẻ em, đã bán linh hồn cho quỷ dữ. Một lần nữa, Patty lại suýt bật cười. Cô đưa Libby sang chiếc bàn sau lưng họ, dặn con bé ngồi im và ăn bánh trong khi người lớn nói chuyện.
“Gia đình cô đều có tóc đỏ à?” Collins nói. “Cô có phải là người Ireland không?”
Ngay lập tức, Patty nghĩ đến những lần nói chuyện với Len về màu tóc đỏ của mình, rồi cô nghĩ, Mình sẽ mất trang trại, làm sao mình lại quên được việc mình sắp mất trang trại nhỉ?
“Người Đức,” lần thứ hai trong ngày cô nói từ này.
“Cô có vài đứa con nhỏ, phải vậy không?” Collins hỏi.
“Đúng thế, tôi có bốn đứa con.”
“Cùng một cha ư?”
Diane sột soạt ở ghế bên cạnh. “Đương nhiên là cùng một cha rồi!”
“Nhưng cô là bà mẹ đơn thân, phải không?” Collins hỏi tiếp.
“Phải, chúng tôi đã ly hôn,” Patty cố gắng tỏ vẻ nghiêm túc của một người vợ theo đạo.
“Chúng ta phải làm gì với những chuyện xảy ra với Ben?” Diane cắt ngang, cúi người về phía trước. “Tiện thể, tôi là chị gái của Patty, tôi chăm sóc lũ trẻ và coi chúng như con.”
Patty cau mày, thám tử Collins nhìn cô.
“Chúng ta nên bắt đầu chuyện này một cách lịch sự,” Collins nói. “Bởi còn phải ngồi với nhau nhiều trước khi chuyện này được làm sáng tỏ. Những lời cáo buộc chống lại con trai cô đang rất được chú ý, và cực kỳ nghiêm trọng, cô Day ạ. Tới thời điểm này, đã có bốn cô bé nói rằng Ben đã chạm vào vùng kín của chúng, và bắt chúng phải sờ mó cậu ta. Rằng cậu ta đã đưa chúng tới một vùng nông trại nào đó và thực hiện… những nghi thức liên quan đến việc hiến tế quỷ dữ.” Ông ta đã nói những từ này – nghi thức hiến tế quỷ dữ – theo cách những người không biết gì về ô tô lặp lại lời của anh thợ máy: Đó là một cái bơm nhiên liệu hỏng.
“Ben thậm chí còn chẳng có xe hơi,” Patty lí nhí trong mồm những từ hầu như chẳng ai nghe thấy.
“Sự khác biệt về tuổi tác giữa một cậu bé 15 tuổi và một cô bé 11 tuổi chỉ là bốn năm, nhưng đó là những năm vô cùng quan trọng,” Collins nói tiếp. “Chúng tôi sẽ xem cậu ta là một tội phạm nguy hiểm nếu những lời cáo buộc là chính xác. Và thật ra, chúng tôi cần nói chuyện không chỉ với Ben, mà với cả những cô con gái của cô nữa.”
“Ben là một cậu bé ngoan,” Patty nói, và cảm thấy chán ghét vì giọng mình quá yếu ớt và ủ rũ. “Mọi người đều yêu quý thằng bé.”
“Ở trường, mọi người nghĩ gì về cậu ta?” Collins hỏi.
“Sao cơ?”
“Cậu ta có được xem là một đứa bé bình thường không?”
“Thằng bé có rất nhiều bạn,” Patty lầm bầm.
“Tôi không nghĩ vậy, thưa cô,” Collins nói. “Theo những gì chúng tôi biết thì cậu ta không có nhiều bạn, và có vẻ lúc nào cũng thui thủi một mình.”
“Vậy điều đó thì chứng minh được gì?” Diane gắt gỏng nói.
“Nó chẳng chứng minh được điều gì, thưa cô…?”
“Krause.”
“Nó chẳng chứng minh được điều gì, thưa cô Krause. Nhưng sự thật này, cùng với việc thiếu vắng sự dạy dỗ của người cha, sẽ khiến tôi tin rằng cậu ta có thể bị ảnh hưởng bởi, chỉ giả dụ thôi, tác động tiêu cực. Ma túy, rượu, những người lỗ mãng thô bạo, và có nhiều vấn đề rắc rối.”
“Thằng bé không giao du với những kẻ phạm tội, nếu đó là những gì ông lo lắng.” Patty nói.
“Vậy cô hãy kể tên một vài người bạn của cậu ta,” Collins nói. “Kể tên những đứa cậu ta thường đi chơi cùng. Kể tên những người đã đi cùng cậu ta vào tuần trước.”
Patty ngồi đó, lưỡi cứng đờ trong miệng, sau đó cô lắc đầu, khoanh tay đặt lên bàn gần vết sô cô la đông cứng ai đó đã làm rớt xuống. Rốt cuộc, bản chất của cô đang bị phơi bày: một phụ nữ không thể kiểm soát được cuộc sống, luôn sống trong cảnh tạm bợ, nợ nần, thiếu ngủ, nản chí, trong khi cô nên chú ý đến Ben nhiều hơn, khích lệ thằng bé chọn lựa một thú vui hoặc tham gia một câu lạc bộ nào đó, chứ không phải thầm biết ơn khi thằng bé khóa mình trong phòng hoặc biến mất vào buổi tối vì biết rằng sẽ đỡ đi một đứa phải lo lắng.
“Vậy là có những kẽ hở trong việc nuôi dạy con cái,” Collins nói, như thể ông ta đã biết trước cái kết của câu chuyện.
“Chúng tôi muốn có một luật sư trước khi xảy ra thêm bất cứ việc gì, trước khi ông nói chuyện với những đứa trẻ,” Diane cắt ngang.
“Thật ra thì, cô Day à,” Collins nói, thậm chí chẳng thèm nhìn Diane, “với ba cô con gái ở nhà, nếu là cô, tôi sẽ muốn biết sự thật hơn ai hết. Hành vi kiểu này không tự biến mất. Nếu chuyện này là sự thật, thẳng thắn mà nói, tôi cho rằng con gái cô có thể là nạn nhân đầu tiên của cậu ta.”
Patty quay đầu lại nhìn Libby, cô bé đang ngồi liếm láp phần kem phủ trên chiếc bánh rán. Cô nghĩ tới việc Libby thường bám riết lấy Ben, nghĩ về những việc nhà lũ trẻ đã tự làm cùng nhau. Thỉnh thoảng, sau một ngày làm việc ở chuồng gia súc với Ben, lũ trẻ quay trở về nhà với vẻ mặt bực bội, mếu máo. Nhưng… gì chứ? Chúng chỉ là những cô bé mệt mỏi và cáu kỉnh thôi. Cô muốn hắt cốc cà phê vào mặt Collins.
“Cho phép tôi nói thẳng,” Collins nói, giọng vỗ về. “Tôi không thể tưởng tượng được một người mẹ sẽ cảm thấy… khủng khiếp thế nào khi nghe được những chuyện này. Nhưng tôi có thể nói với cô một điều, đây là thông tin của nhà tâm lý học đã nói chuyện trực tiếp với từng bé gái một, và tôi có thể nhắc lại cho cô những điều mà anh ta đã nói. Đó là, những cô bé này đang kể những điều mà một học sinh lớp 5 sẽ không biết trừ phi chúng thực sự đã xảy ra: vấn đề về tình dục. Anh ấy nói đó là những kịch bản cưỡng bức kinh điển. Hẳn cô biết vụ McMartin chứ?”
Patty lờ mờ nhớ lại. Một trường mầm non ở California, toàn bộ giáo viên đã bị xét xử vì tôn thờ quỷ dữ và quấy rối những đứa trẻ. Cô vẫn nhớ bản tin tối hôm đó chiếu một ngôi nhà xinh xắn tràn ánh nắng, sau đó dòng chữ màu đen Ác Mộng Trường Mầm Non hiện ngang qua màn hình.
“Sùng bái Sa-tăng không phải là việc hiếm gặp, tôi e là vậy,” Collins nói. “Nó đã thâm nhập rộng khắp vào cộng đồng, và những kẻ sùng bái quỷ dữ thường nhắm tới những thanh niên trẻ, rồi lôi kéo họ vào nhóm. Và một phần của việc hiến tế quỷ dữ là… cưỡng bức trẻ em.”
“Ông có bằng chứng không?” Diane tiếp lời Collins. “Bất kỳ bằng chứng nào khác ngoài những cô bé 11 tuổi này không? Ông cũng có con phải không? Ông có biết trí tưởng tượng của chúng phong phú như thế nào không – toàn bộ cuộc sống của chúng là tưởng tượng ra những câu chuyện. Ông có nhân chứng nào có thể xác minh những lời nói dối này không, ngoài một đám trẻ nhỏ và một gã tâm lý học biết-tuốt đến từ đại học Harvard, kẻ đã khiến tất cả mờ mắt?”
“Chà, bằng chứng cho việc này. Những cô bé đều nói rằng Ben đã lấy quần lót của chúng để làm vật kỷ niệm bệnh hoạn hay đại loại như vậy,” Collins nói với Patty. “Nếu cô để chúng tôi khám nhà, chúng ta có thể bắt đầu làm sáng tỏ điều này.”
“Chúng ta cần nói chuyện với luật sư trước khi ông ta làm điều đó,” Diane lầm bầm với Patty.
Collins uống một ngụm cà phê và cố gắng kìm chế để không ợ lên, lấy tay đấm ngực và nhìn Libby qua vai Patty, cười buồn bã. Ông ta có cái mũi đỏ của một con sâu rượu.
“Ngay lúc này chúng ta cần phải bình tĩnh. Chúng tôi sẽ nói chuyện với những người có liên quan,” Collins nói, vẫn không thèm để ý đến Diane. “Chiều nay, chúng tôi đã nói chuyện với một vài giáo viên ở trường trung học và trường tiểu học của Ben, những gì nghe được không khiến chúng tôi cảm thấy thoải mái hơn, cô Day ạ. Một giáo viên, cô Darksilver phải không nhỉ?”
Ông ta nhìn Patty chờ xác nhận, và Patty gật đầu. Cô Darksilver luôn yêu quý Ben, thằng bé là một trong những học sinh cô đặc biệt yêu quý.
“Chỉ mới sáng nay, cô ấy đã trông thấy con trai cô nhòm ngó thùng đồ của Krissi Cates. Trong trường tiểu học. Ngay giữa kỳ nghỉ Giáng sinh. Điều này khiến tôi băn khoăn, và,” Collins nhìn sâu vào Patty, hướng những viền mắt màu hồng về phía cô. “Cô Darksilver nói, rõ ràng cậu ta đang bị kích thích.”
“Ý ông là sao?” Diane cắn cảu.
“Cậu ta đã ở trong trạng thái cương cứng. Trong thùng đồ của Krissi, chúng tôi đã tìm thấy một mẩu thư có tính chất khiêu dâm. Cô Day à, trong các cuộc phỏng vấn của chúng tôi, con trai cô luôn được miêu tả là một kẻ bị xa lánh, lủi thủi một mình. Kỳ cục làm sao. Cậu ta còn được xem như một quả bom hẹn giờ. Có những giáo viên thực sự sợ hãi cậu ta.”
“Sợ hãi sao?” Patty lặp lại. “Làm sao họ lại sợ hãi một đứa bé 15 tuổi kia chứ?”
“Cô không biết chúng tôi tìm được thứ gì trong tủ đồ của cậu ta đâu.”
HỌ ĐÃ TÌM THẤY GÌ trong tủ đồ của Ben? Patty nghĩ Collins sẽ nói đó là ma túy, hay những cuốn tạp chí khiêu dâm, hoặc nhẹ nhàng hơn là pháo cấm. Đó là điều cô hy vọng về rắc rối của Ben: hàng tá những quả pháo Roman nằm trong ba lô chỉ chực nổ tung. Đó là những gì cô có thể nghĩ tới.
Ngay cả khi Collins rào trước – chuyện này thực sự kinh khủng, cô Day ạ, tôi muốn cô chuẩn bị tinh thần – Patty cũng chỉ hình dung ra được một khẩu súng. Ben rất mê súng, luôn luôn như vậy, cũng giống như giai đoạn thằng bé mê máy bay hay xe trộn bê tông, chỉ khác là sở thích đối với súng vẫn được Ben duy trì. Nó được dùng trong việc mà cô và thằng bé thường làm cùng nhau – đã từng làm cùng nhau – đó là đi săn. Có thể Ben đã mang nó đến trường để khoe. Khẩu Colt Peacemaker. Khẩu súng ưa thích của thằng bé. Ben không được phép lấy súng nếu không có sự cho phép của cô, nhưng nếu thằng bé đã lấy, thì họ sẽ đối phó với chuyện này. Vậy nên đó hãy là một khẩu súng.
Collins hắng giọng và nói thấp giọng khiến họ phải hơi nhoài người lắng nghe. “Chúng tôi đã tìm thấy… phần còn lại… trong tủ đồ của con trai cô. Những bộ phận trên cơ thể. Lúc đầu chúng tôi nghĩ đó là một phần cơ thể của trẻ em, nhưng có vẻ đó là xác động vật. Những bộ phận sinh sản của giống cái được đựng trong một chiếc hộp nhựa, có thể là của chó hoặc mèo. Cô có bị mất chó hay mèo không?”
Patty vẫn còn choáng váng trước phát hiện mà họ đã nghĩ rằng Ben có thể giấu một phần cơ thể của em bé trong tủ đồ của nó. Rằng họ nghĩ Ben là một đứa biến thái đến mức có thể sát hại trẻ em như phỏng đoán đầu tiên của họ. Ngay lúc này, khi nhìn xuống những hạt đường phủ trên bánh rán, cô xác định rằng con trai mình sẽ phải ngồi tù. Nếu họ tin rằng con trai cô đồi bại đến thế, thì thằng bé sẽ chẳng còn cơ hội nào nữa.
“Không, chúng tôi chẳng mất con thú nuôi nào cả.”
“Gia đình chúng tôi là những thợ săn, những người nông dân,” Diane nói. “Lũ động vật luôn ở quanh chúng tôi, giống như quần áo mặc trên người vậy. Không quá ngạc nhiên nếu thằng bé có một thứ gì đó từ chúng.”
“Thật vậy ư? Cô cũng giữ một phần cơ thể của những động vật đã chết trong nhà mình sao?” Lần đầu tiên Collins nhìn thẳng vào Diane, ánh mắt giận dữ trong chốc lát.
“Có luật nào cấm điều này không?” Diane gắt lại.
“Một trong những nghi thức của đám tín đồ quỷ dữ tiến hành là hiến tế động vật, cô Day à,” Collins nói. “Tôi chắc cô đã từng nghe về việc những con gia súc bị xẻ thịt ở gần Lawrence. Chúng tôi nghĩ chuyện đó có liên hệ chặt chẽ với vụ dính líu đến những bé gái.”
Mặt Patty lạnh băng. Thế là xong, mọi chuyện đã xong. “Ông muốn tôi làm gì?” Cô hỏi.
“Tôi sẽ theo cô về nhà để chúng ta có thể nói chuyện với con trai cô, được chứ?” Collins nói, trở nên trìu mến, giọng ông ta lên cao, nhẹ như giọng trẻ con. Patty nhận thấy Diane đang siết chặt hai tay bên cạnh cô.
“Thằng bé không có nhà. Chúng tôi đang cố đi tìm nó đây.”
“Chúng tôi thực sự cần nói chuyện với Ben, cô Day ạ. Cô nghĩ có thể tìm thấy cậu ta ở đâu?”
“Chúng tôi không biết thằng bé ở đâu,” Diane chen ngang. “Chúng tôi cũng giống như ông thôi.”
“Có phải các ông sẽ bắt giữ thằng bé?” Patty hỏi.
“Chúng tôi không thể làm gì cho tới khi nói chuyện được với cậu ta, và càng sớm thì chuyện này càng nhanh được sáng tỏ.”
“Đó không phải một câu trả lời,” Diane nói.
“Đó là điều duy nhất tôi có thể nói được lúc này, thưa quý cô.”
“Điều đó đồng nghĩa với câu trả lời có,” Diane nói, và lần đầu tiên cô cụp mắt xuống.
Collins đứng lên và đi về phía Libby trong những phút cuối của cuộc trao đổi, giờ thì ông ta đang ngồi xổm bên cạnh cô bé, chào trìu mến.
Diane giật tay ông ta, “Không, hãy để con bé được yên.”
Collins cau mày nhìn chị. “Tôi chỉ đang cố giúp đỡ thôi. Cô không muốn biết liệu Libby có ổn không hay sao?”
“Chúng tôi biết Libby vẫn ổn.”
“Sao cô không để cô bé nói với tôi điều đó. Hoặc chúng ta có thể nhờ Trung Tâm Bảo Vệ Trẻ Em…”
“Cứ thử xem,” Diane nói, đứng chắn trước mặt ông ta. Patty vẫn đang ngồi nguyên ở ghế, quyết lờ đi tất cả những việc này. Cô nghe thấy Diane và Collins cãi nhau ở phía sau, nhưng chỉ ngồi đó nhìn người phụ nữ phía sau quầy pha thêm một ấm cà phê nữa, cố gắng hướng mọi sự quan tâm tới cà phê. Nhưng chỉ được vài giây thì Diane đã kéo Patty và Libby – miệng đang vương vãi vụn bánh – ra khỏi nhà hàng.
TRÊN ĐƯỜNG VỀ NHÀ, Patty muốn trào nước mắt, nhưng cô muốn đợi cho tới khi Diane đi khỏi. Diane để Patty lái xe, nói rằng lúc này sự tập trung chú ý sẽ tốt cho cô. Trên cả đoạn đường, Diane luôn phải nhắc việc sang số bởi cô không thể tập trung nổi. Sao em không đi số ba, P? Chị nghĩ giờ cần phải về số hai. Libby ngồi ở ghế sau chẳng nói câu gì, chỉ co ro, chống cằm xuống đầu gối.
“Sắp có chuyện gì xấu xảy ra phải không ạ?” Cuối cùng Libby cũng hỏi.
“Không, con yêu ạ.”
“Nhưng dường như có chuyện rất tệ sắp xảy ra.”
Patty lại cảm thấy một cơn hoảng loạn ập tới: Chuyện quái gì xảy ra với cô vậy, sao lại lôi một đứa trẻ 7 tuổi vào những chuyện như thế này? Là một người mẹ, lẽ ra cô không nên làm điều này. Là một người mẹ, lẽ ra cô không nên nuôi dạy Ben như vậy – qua loa và phó mặc cho số phận – nếu thế đã không xảy ra chuyện.
Ngay lúc này, cô thực sự cần phải về nhà, lên giường đắp chăn, để có cảm giác an toàn. Theo kế hoạch, Patty sẽ đợi cho tới khi Ben về – thằng bé phải về nhà, ngay lúc này – và Diane sẽ ra ngoài để kiểm chứng lại những tin đồn. Chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra, người ta sẽ đứng về phía nào, và Ben đang đàn đúm với những đứa chết tiệt nào.
Họ đánh xe vào nhà và thấy bên cạnh chiếc Cavalier của Patty là một chiếc xe khác − chiếc xe thể thao một chỗ ngồi áng chừng đã chục năm tuổi, bám đầy bùn đất.
“Ai vậy nhỉ?” Diane hỏi.
“Em không biết.” Cô buồn thảm nói. Patty biết dù đó là ai, họ cũng chỉ mang đến tin tức không tốt lành gì.
Họ mở cửa trước và thấy hơi nóng từ trong nhà phả ra. Máy điều nhiệt chắc phải chỉnh đến gần 30 độ. Thứ đầu tiên họ trông thấy là một hộp ca cao không đóng nắp trên bàn ăn, loại có những viên kẹo dẻo, một vệt bột ca cao vãi tới tận bếp. Sau đó Patty nghe thấy một tiếng cười khò khè và nhận ra Runner đang ngồi trên sàn nhà, nhấm nháp sô cô la nóng cùng mấy cô con gái đang ngồi trong lòng hắn. Tivi đang phát chương trình thế giới động vật, hai đứa nhỏ kêu ré lên và ôm lấy tay hắn khi một con cá sấu châu Mỹ vùng lên mặt nước đớp một con gì đó có sừng.
Hắn từ từ nhìn lên, như thể cô là nhân viên giao hàng. “Chào Patty, lâu lắm không gặp em.”
“Chúng tôi đang phải giải quyết chuyện gia đình,” Diane cắt ngang. “Cậu nên về nhà thì hơn.”
Trong suốt những tuần Runner trở lại sống với họ, hắn và Diane đã cãi nhau vài lần – chị gào lên và hắn nạt lại. Chị không phải là chồng cô ấy, Diane. Hắn ra nhà xe, uống đến say mèm và ném quả bóng chày cũ vào tường hàng giờ đồng hồ. Diane không hề muốn Runner quay trở về.
“Được rồi, D. Chị cứ tiếp tục đi. Khoảng một tiếng nữa gọi lại cho em, và kể tình hình mọi chuyện, được không?”
Diane giận dữ nhìn Runner, làu bàu gì đó trong cổ họng rồi lừ lừ bước đi, đóng sập cánh cửa sau lưng.
Michelle nói, “Trời ạ! Bác bị sao vậy?” và làm mặt cười với cha, kẻ phản bội bé nhỏ. Mái tóc nâu của con bé trở nên rối bù vì những cái xoa đầu của Runner. Runner luôn kỳ quặc khi ở bên lũ trẻ, âu yếm một cách thái quá, nhưng không phải theo kiểu với người lớn. Hắn thích véo và búng vào người chúng để gây sự chú ý. Khi bọn trẻ đang xem tivi thì đột nhiên hắn cúi xuống và cấu mạnh vào chúng. Dù là đứa nào cũng sẽ nhìn hắn mắt rưng rưng, trề môi bất bình, hắn sẽ cười và nói, “Gì thế?” hoặc “Cha chỉ muốn gọi con thôi mà. Xin chào!” Và khi đi với bọn trẻ, Runner sẽ đi sau vài bước, hai mắt nghiêng nghiêng nhìn chúng. Điều này luôn nhắc cô nhớ đến một con chó sói già rình mò theo sau con mồi, lờn vờn một vài dặm trước khi tấn công.
“Cha đã làm mì ống cho chúng con,” Debby nói. “Cha sẽ ở đây ăn tối.”
“Con biết là không được cho bất cứ ai vào nhà trong lúc mẹ đi vắng cơ mà,” Patty nói, lau bột ca cao vãi trên sàn bằng một chiếc khăn đã bốc mùi.
Michelle đảo mắt, rồi tựa vào vai Runner. “Trời ơi, mẹ, đó là cha mà.”
Mọi chuyện có lẽ sẽ dễ dàng hơn nếu Runner đã chết. Hắn rất ít khi thăm nom lũ trẻ, và hầu như chẳng giúp gì được cho chúng. Nếu hắn chết đi, mọi chuyện sẽ chỉ tốt hơn mà thôi. Hắn sống ở đâu đó bên ngoài, thỉnh thoảng lại bất chợt về nhà với những ý tưởng, kế hoạch hoặc mệnh lệnh mà lũ trẻ thường làm theo. Bởi một lẽ – cha chúng đã nói thế.
Cô muốn chửi mắng Runner ngay lúc này. Nói cho hắn biết về con trai hắn và bộ sưu tập ghê tởm trong tủ đồ của nó. Nghĩ đến việc Ben đã cắt và giữ lại một phần xác chết động vật khiến cổ họng cô thắt lại. Vấn đề liên quan đến con bé nhà Cates và những cô bé gái là một sự nhầm lẫn có thể kết thúc tốt đẹp hoặc cũng có thể không. Nhưng Patty không thể nghĩ ra lý do gì cho việc cất giữ xác động vật, dù cô rất giỏi trong việc viện cớ. Cô không lo lắng về những gì Collins nói, rằng Ben có thể đã quấy rối những đứa em gái. Cô đã xem xét rất kỹ điều này dọc đường về nhà, lật đi lật lại vấn đề, suy xét từng ngóc ngách nhỏ nhất của vấn đề, tỉ mỉ và thấu đáo. Và cô không còn băn khoăn gì nữa: Ben sẽ không bao giờ làm vậy.
Nhưng cô biết con trai mình thực sự có sở thích làm tổn thương kẻ khác. Đó là thời điểm thằng bé dùng xẻng đập nát những con chuột, hai hàm răng nghiến lại, mồ hôi chảy ròng ròng trên má. Cô biết thằng bé đã cảm thấy chút thỏa mãn từ việc đó. Ben thường tỏ ra rất thô lỗ với lũ em. Đôi khi, những tiếng cười khúc khích chuyển thành tiếng la hét, cô vòng qua góc nhà và thấy thằng bé đang vặn tay Michelle ra đằng sau, và từ từ, từ từ kéo lên, hoặc túm lấy tay Debby thật chặt và vặn. Những gì được xem là trêu đùa sẽ ngày càng trở nên điên loạn hơn, thằng bé vặn cho tới khi thấy xuất hiện những đốm tụ máu đỏ lựng, rồi nhe răng cười. Cô có thể thấy Ben đang trở nên giống hệt Runner khi chơi với lũ trẻ: bị kích thích cao độ và thô bạo.
“Cha con cần phải đi.”
“Gì vậy, Patty, thậm chí không có nổi một lời chào trước khi đá anh ra ngoài hay sao? Thôi nào, hãy nói chuyện đi, anh có một ý tưởng kinh doanh cho em đây.”
“Tôi chẳng còn gì để kinh doanh cả, Runner,” cô nói. “Tôi trắng tay rồi.”
“Em không trắng tay như mình nói đâu,” hắn liếc mắt đểu cáng, xoay chiếc mũ lưỡi trai trên mái tóc xơ cứng của hắn về phía sau. Runner định nói vẻ khôi hài, nhưng khi thốt ra, nó lại mang tính đe dọa, như thể nếu biết điều thì tốt hơn hết cô không nên khánh kiệt vậy.
Hắn đặt phịch hai đứa nhỏ xuống sàn và bước về phía cô, đứng quá gần như mọi khi, mồ hôi sặc mùi bia toát ra khiến chiếc sơ-mi dài tay dính chặt vào ngực hắn.
“Không phải em vừa mới bán máy cày đấy sao, Patty? Vern Evelee nói với anh rằng em đã bán nó.”
“Và tất cả số tiền ấy đã hết rồi, Runner. Cứ vào tay tôi thì tiền sẽ bốc hơi mà chưa kịp nóng túi.” Cô vờ như muốn sắp xếp lại đống thư và hắn đứng chặn ngay trước mặt.
“Anh cần em giúp một chuyện. Anh chỉ cần đủ tiền để tới Texas.”
Dĩ nhiên là Runner muốn tới một nơi ấm áp trong mùa đông, đi lu lịch một mình như dân du mục hết mùa này đến mùa khác như hắn đã từng làm, đó quả là một sự lăng mạ đối với Patty, đối với trang trại và sự gắn bó của cô với mảnh đất duy nhất trên thế giới này. Hắn làm việc và tiêu tiền vào những thứ vô bổ: câu lạc bộ đánh gôn với hình dung rằng một ngày nào đó hắn sẽ có thể chơi gôn, hay một dàn âm thanh mà hắn chẳng hề thích thú. Giờ thì hắn đang dự định cuốn gói đến Texas. Cô và Diane đã lái xe tới vịnh Gulf hồi cô vào trung học. Đó là lần duy nhất Patty được đi du lịch đâu đó. Chính vị mặn mòi trong không khí đã quyến luyến cô, theo cách có thể khiến bạn mút một sợi tóc và thèm rỏ dãi. Bằng cách nào đó, Runner sẽ kiếm được tiền, và trải qua những ngày còn lại của mùa đông năm nay tại một quán rượu rẻ tiền nào gần bờ biển, nhấm nháp một cốc bia trong khi con trai hắn phải ngồi tù. Patty không có đủ tiền thuê luật sư cho Ben. Cô luôn đau đáu về điều đó.
“Tôi không thể giúp gì, Runner. Rất tiếc.”
Cô cố gắng hướng hắn về phía cửa, nhưng thay vì thế, hắn đẩy cô dần vào bếp, hơi thở bốc mùi khó chịu của hắn khiến cô quay mặt đi.
“Thôi nào, Patty, em muốn anh phải van xin hay sao? Anh thực sự thấy tù túng ở nơi đây. Đó là vấn đề sống còn. Anh phải thoát khỏi cái thị trấn Dodge chết tiệt này. Em biết là anh sẽ không đòi hỏi điều gì hơn. Giống như, anh sẽ bị giết chết tối nay nếu không thể bới ra tiền. Chỉ cần đưa anh 800 đô-la thôi.”
Con số khiến cô bật cười. Phải chăng hắn nghĩ đó chỉ là số tiền lẻ? Hắn không thể nhìn xung quanh để thấy họ nghèo đói thế nào hay sao, bọn trẻ ăn mặc phong phanh giữa mùa đông lạnh giá, tủ đá trong bếp chất đống những miếng thịt rẻ tiền, miếng nào cũng được dán hạn sử dụng từ đời tám hoánh nào rồi. Đó là cuộc sống của họ hiện giờ: một ngôi nhà quá hạn.
“Tôi chẳng có chút tiền nào đâu, Runner.”
Hắn nhìn chằm chằm vào cô, tay chắn ngang cửa để cô không thể đi qua.
“Em có đồ trang sức, phải không? Em vẫn còn chiếc nhẫn mà anh tặng.”
“Runner, làm ơn đi, Ben đang gặp rắc rối, chuyện lớn đấy, giờ tôi đang phải giải quyết rất nhiều việc. Hãy quay lại vào lúc khác đi, được không?”
“Ben đã làm chuyện quái quỷ gì thế?”
“Có vài rắc rối ở trường, và trong thành phố, nó rất nghiêm trọng, tôi nghĩ thằng bé có thể sẽ cần đến luật sư, nên tôi phải vét tất cả tiền để cứu thằng bé và…”
“Vậy em thực sự có tiền.”
“Runner, tôi không có.”
“Ít nhất hãy đưa cho anh chiếc nhẫn.”
“Tôi không còn nhẫn.”
Những đứa nhỏ đang vờ xem tivi, nhưng khi nghe thấy họ ngày càng to tiếng thì Michelle, Michelle tọc mạch, đã ngoái đầu lại và công khai nhìn thẳng vào họ.
“Hãy đưa tôi chiếc nhẫn, Patty.” Hắn chìa tay ra như thể cô đang đeo nó trên tay, chiếc nhẫn đính hôn bằng vàng giả rẻ tiền mà thậm chí từ năm 17 tuổi cô đã biết nó thật mỏng manh và đáng xấu hổ. Hắn tặng cô chiếc nhẫn đó ba tháng sau ngày cầu hôn. Phải mất tới ba tháng hắn mới nhấc được mông tới một cửa hàng rẻ tiền, mua một chiếc nhẫn hàng mã và trao cho cô sau vài ba vại bia. Anh sẽ yêu em mãi mãi, em yêu à, hắn nói. Ngay sau đó, cô biết Runner sẽ rời bỏ cô, hắn không phải một người đàn ông có thể nương tựa, không phải người đàn ông cô thực sự yêu. Thế nhưng cô vẫn mang thai thêm ba lần nữa, bởi hắn không thích dùng bao cao su, và thật phiền hà khi lúc nào cô cũng phải cằn nhằn việc đó.
“Runner, anh không nhớ chiếc nhẫn đó sao. Nó chỉ đáng giá 10 đô-la, chẳng giúp được gì cho anh đâu.”
“Giờ cô đang chê bai chiếc nhẫn khốn kiếp đó có phải không?”
“Tin tôi đi, nếu đáng giá tôi đã đem nó đi cầm từ lâu rồi.”
Họ đứng đối mặt, Runner đang thở phì phò như một con lừa giận dữ, hai tay run lên. Hắn tóm chặt cánh tay cô rồi bỏ xuống với nỗ lực kiềm chế lớn đến nỗi ria mép hắn cũng rung lên.
“Cô sẽ phải hối hận về điều này, Patty.”
“Tôi đã hối hận rồi, Runner, trong suốt những năm qua.”
Hắn quay đi, áo khoác quệt gói ca cao xuống sàn nhà khiến thứ bột màu nâu vương vãi khắp chân hắn. “Tạm biệt các cô gái, mẹ các con là đồ… KHỐN KIẾP!” Hắn đá phăng một chiếc ghế đẩu trong bếp khiến nó lao vào phòng khách. Tất cả đứng im thin thít trong khi Runner giận dữ đi vòng quanh, Patty phân vân không biết có nên chạy đi lấy khẩu súng săn, hoặc vớ lấy con dao bếp hay không, từng giây từng phút cô thầm cầu nguyện cho hắn rời khỏi đây.
“Cám ơn vì đã chẳng cho tôi THỨ KHỐN KIẾP nào hết,” hắn sầm sầm lao ra phía cửa trước, đẩy thật mạnh khiến cánh cửa đập vào bức tường phía sau và bật ngược trở lại. Hắn dùng chân đá mở ra lần nữa, rồi nắm lấy nó đập vào tường, sức mạnh của hắn khiến cánh cửa đập đi đập lại nhiều lần.
Sau đó Runner bỏ đi, chiếc xe rít lên dọc lối rẽ vào nhà, Patty lấy khẩu súng săn ra, nạp đạn, và đặt trên lò sưởi cùng một vài viên đạn. Để đề phòng.