Bóng Ma Ký Ức

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3. Libby Day

❊ ❊ ❊

Hiện tại

NĂM NGÀY SAU HÔM UỐNG BIA với Lyle, tôi lái xe từ nhà xuống con dốc, rồi xuôi về khu công nghiệp West Bottoms nằm ở phía tây Kansas. Vùng này từng phát triển rất thịnh vượng thời còn tồn tại những bãi chăn thả gia súc, rồi nhiều thập kỷ trôi qua, nó trở thành thái cực đối nghịch với sự thịnh vượng. Giờ đây, tất cả những gì còn lại chỉ là các tòa nhà cao tầng bằng gạch im lìm, gắn biển tên của những công ty đã không còn tồn tại: Raftery Kho Lạnh, Thịt bò London, Dannhauser Niềm tin cho gia súc. Một vài dãy được cải tạo thành khu nhà ma chuyên biệt, hoạt động vào mùa Halloween: những chiếc cầu trượt năm tầng, các lâu đài ma cà rồng cùng đám thanh niên say xỉn giấu bia trong những chiếc áo khoác truyền thống của trường.

Đầu tháng 3, vùng này vô cùng vắng vẻ, hiu quạnh. Khi lái xe qua những con phố im lìm, thảng hoặc mới thấy ai đó ra vào một tòa nhà nhưng tôi không biết họ làm gì trong đó. Gần sông Missouri, sự vắng vẻ đã chuyển sang hoang vắng đến rợn người, một đống đổ nát hoang tàn.

Tôi cảm thấy hơi bất an khi đỗ xe trước tòa nhà bốn tầng gắn biển Tallman Corporation. Đây là một trong những lúc tôi ước mình có nhiều bạn hơn. Hoặc, ít nhất là vài người thôi cũng được. Tôi sẽ rủ ai đó đi cùng, hoặc không cũng nên có ai đó chờ tin tôi. Như thường lệ, tôi đã để lại một thông báo trên cầu thang trong nhà, giải thích mình đang ở đâu và kèm theo bức thư của Lyle. Nếu tôi mất tích, cảnh sát sẽ có manh mối để điều tra. Đương nhiên, nếu có một người bạn, có thể cô ấy sẽ nói với tôi rằng, Không đời nào mình lại để cậu làm chuyện này, bạn thân mến à, với giọng che chở theo kiểu đám phụ nữ vẫn thường nói với nhau.

Hoặc cũng có thể không. Vụ tàn sát đã vĩnh viễn biến tôi thành một kẻ luôn trong trạng thái mất cân bằng trước những quyết định kiểu này. Tôi cho rằng mọi điều xấu xa trên thế giới này đều có thể xảy ra, bởi chúng đã thực sự xảy ra rồi. Nhưng rốt cuộc, ai dám chắc tôi, Libby Day, lại không có khả năng gặp nguy hiểm sau tất cả những biến cố kia? Chẳng phải sự an toàn của tôi là một điều mặc nhiên, một con số thống kê không đổi và sáng lóa sao? Tôi không thể quyết định được, vậy nên tôi chuyển từ cảnh giác một cách thái quá (lúc nào cũng bật đèn đi ngủ, khẩu súng lục phòng thân cũ của mẹ tôi luôn đặt trên chiếc bàn cạnh giường) sang thiếu thận trọng một cách nực cười (liều mạng tìm đến câu lạc bộ Kill trong một tòa nhà bỏ hoang).

Tôi đi bốt cao gót để mình có thể nhỉnh thêm vài phân, chiếc bên phải rộng hơn nhiều so với chiếc còn lại bởi bàn chân bị tật của tôi. Tôi muốn bẻ gãy toàn bộ xương trên cơ thể để có thể thả lỏng. Tôi quá căng thẳng. Răng tôi đang nghiến lại. Không ai nên khát tiền đến mức này. Những ngày vừa qua, tôi đã cố gắng soi rọi những điều mà tôi đang làm dưới thứ ánh sáng vô hại, và trong những tia sáng chớp nhoáng đó, tôi đã tự biến mình trở thành một thứ gì đó cao quý. Những người này rất hứng thú với gia đình chúng tôi, còn tôi thì tự hào về gia đình mình, và cho phép những kẻ xa lạ ấy biết thêm những thông tin mà lẽ ra họ sẽ không biết. Và nếu họ muốn trả tiền, tôi sẽ nhận, đâu có chuyện tiền dâng tận miệng mà không nhận chứ.

Nhưng thực ra, tôi chẳng hề tự hào về gia đình mình. Không một ai thích gia đình Day cả. Cha tôi, Runner Day, là một kẻ điên, một con sâu rượu và hung tợn theo cách không mấy ấn tượng – một gã đàn ông nhỏ thó chuyên chơi trò đánh lén. Mẹ tôi có bốn đứa con mà bà không thể chăm sóc tử tế nổi. Những đứa trẻ của một trang trại vỡ nợ, bần cùng, người ngợm hôi hám và rất mực tinh quái, luôn xuất hiện ở trường trong tình trạng túng thiếu: bỏ bữa sáng, quần áo rách rưới, thò lò mũi xanh và lúc nào cũng bị viêm họng cấp tính. Tôi và hai cô chị là nguyên nhân gây ra ít nhất bốn dịch chấy rận trong khoảng thời gian ngắn ngủi ở trường. Gia đình Day

Bẩn Thỉu.

Và giờ đây, sau hơn 20 năm, tôi vẫn đang trong tình trạng túng quẫn. Đặc biệt là tiền. Trong túi sau quần jeans của tôi có một bức thư ngắn mà Michelle đã viết cho tôi một tháng trước vụ thảm sát. Chị ấy đã xé tờ giấy từ một cuốn sổ lò xo, phần mép được cắt cẩn thận, sau đó tỉ mỉ gấp lại thành hình một mũi tên. Bức thư nói về những điều thông thường trong suy nghĩ của một học sinh lớp 4 như Michelle: cậu nam sinh trong lớp, hay giáo viên của cậu, chiếc quần jeans thiết kế xấu hoắc mà đứa con gái hư hỏng nào đó nhận được trong ngày sinh nhật. Chúng rất tẻ nhạt, chẳng có gì đáng để nhớ – tôi có những chiếc hộp đựng đầy các mẩu giấy như vậy, chúng được tôi đóng vào thùng, mang theo mỗi khi chuyển nhà và chưa bao giờ mở ra cho đến tận bây giờ. Tôi sẽ có 200 đô-la cho tờ giấy đó. Trong tôi nhanh chóng ngập tràn niềm vui sướng háo hức đầy tội lỗi khi nghĩ về tất cả những thứ vớ vẩn khác mà tôi có thể bán, những bức thư, những tấm ảnh, và cả đống giấy vụn tôi đã không vo viên quẳng đi. Tôi ra khỏi xe, hít một hơi, rồi xoay khớp cổ.

Tiết trời buổi tối khá lạnh, thoảng chút không khí dễ chịu của mùa xuân. Mặt trăng to lớn màu vàng treo trên bầu trời hệt như một chiếc đèn lồng.

Tôi bước lên những bậc thang bằng đá bám đầy đất, những chiếc lá bẩn thỉu lạo xạo dưới đế giày, một thứ âm thanh rệu rã và nghe không ổn chút nào. Cánh cửa được làm bằng một tấm thép dày và nặng. Tôi gõ cửa, chờ đợi, rồi gõ thêm ba tiếng nữa, đứng trơ trọi dưới ánh trăng như một diễn viên tạp kỹ đang bị chất vấn. Tôi đang định rút điện thoại gọi cho Lyle thì cánh cửa bật mở, một gã cao ráo có khuôn mặt dài nhìn tôi một lượt từ đầu đến chân.

“Gì vậy?”

“Cho hỏi Lyle Wirth có đây không?”

“Sao Lyle Wirth phải ở đây chứ?” Hắn nghiêm túc nói. Ra vẻ chất vấn, căn vặn tôi.

“Mẹ kiếp,” tôi thốt lên và quay đi, cảm thấy mình như một con ngốc. Tôi đi được ba bước thì thằng nhãi đó gọi với lại.

“Chết tiệt, đợi đã nào, đừng nóng.”

Nhưng từ khi sinh ra tôi đã nóng tính như vậy rồi. Tôi có thể hình dung mình được sinh ra từ một tử cung oằn èo và lệch lạc. Tôi không phải người kiên nhẫn gì cho cam. Mẹ kiếp có thể không nằm trong vốn từ thường trực trên môi tôi, nhưng cũng gần ngay đấy. Trên chót lưỡi.

Tôi dừng lại trên cầu thang, chân trên chân dưới đang định bước xuống.

“Nghe này, tôi biết Lyle Wirth, rất rõ là đằng khác,” hắn nói. “Chị nằm trong danh sách khách mời hay gì nhỉ?”

“Không biết. Tôi là Libby Day.”

Hắn há hốc mồm – rồi ngậm lại kèm theo tiếng chép miệng đầy nước bọt, và ném về phía tôi cái nhìn dò xét như Lyle đã từng làm.

“Tóc chị màu vàng.”

Tôi nhướn mày nhìn hắn.

“Vào đi, em sẽ dẫn đường cho chị,” hắn nói và mở rộng cửa. “Thôi nào, em sẽ không cắn chị đâu.”

Có vài câu còn khiến tôi bực mình hơn cả Em sẽ không cắn chị đâu. Điều duy nhất khiến tôi phát điên nhanh hơn là khi một gã đàn ông mặt phèn phẹt nào đó say xỉn trong quán rượu nhìn thấy tôi đang cố gắng lách qua hắn và sủa: Cười lên nào, chuyện này đâu tệ đến thế. Ồ phải, thực sự nó có thể tệ đến thế đấy, thật nực cười.

Tôi quay đầu lại, đảo mắt nhìn gã canh cửa, bước đi cực kỳ chậm khiến hắn phải tựa vào cánh cửa để chúng không khép lại. Đồ khốn.

Tôi bước vào một tiền sảnh hầm hố, được trang trí với trụ đèn vỡ bằng đồng thau có hình giống bông lúa mì. Căn phòng cao khoảng 12 mét. Trần nhà từng được trang trí bằng những tấm bích họa – những hình ảnh sứt sẹo, không rõ ràng của lũ trẻ vùng nông thôn đang cuốc xới. Một cô bé, khuôn mặt giờ đã biến mất, dường như đang cầm một sợi dây. Hay một con rắn nhỉ? Toàn bộ góc phía tây của trần nhà đã bị lở tróc loang lổ: nơi cây sồi trong bức họa lẽ ra nở bung trên thảm lá mùa hè xanh biếc giờ được thay thế bởi một khoảng trời đêm xanh thẳm. Tôi có thể thấy ánh trăng, nhưng không trông thấy mặt trăng đâu cả. Khu tiền sảnh vẫn tối om không một ánh điện, nhưng tôi vẫn có thể nhận thấy một đống rác đã được gom lại trong góc phòng. Bọn họ đã đuổi đám người vô gia cư đi, mang tới một chiếc chổi và cố gắng dọn dẹp nơi này sạch sẽ hơn. Dù vậy, mùi nước tiểu vẫn khai nồng. Một chiếc bao cao su không biết từ thời tám hoánh nào dính chặt trên tường như một sợi mỳ spaghetti.

“Các cậu không thể bỏ tiền thuê một chỗ… như sảnh chiêu đãi chẳng hạn?” Tôi lầm bầm. Bên dưới nền đá hoa vọng lên những tiếng kêu rền. Rõ ràng mọi hoạt động đang diễn ra ở dưới hầm.

“Thực ra không hẳn là một hội nghị chào mừng đâu,” gã trai nói. Hắn có gương mặt non choẹt, đẫy đà, đầy những nốt ruồi và đeo một chiếc khuyên tai gắn đá ngọc lam tí hon mà tôi luôn cho rằng nó thuộc về những kẻ cuồng trò Ngục tối và Rồng, chuyên nuôi chồn sương và nghĩ rằng các mánh ảo thuật thật tuyệt vời. “Thêm nữa, tòa nhà này cũng có một không khí… nhất định nào đó. Năm 1953, một trong những gã thuộc tập đoàn Tallman đã tự bắn vỡ sọ hắn tại đây.”

“Tuyệt.”

Chúng tôi đứng nhìn nhau, đường nét trên khuôn mặt hắn biến đổi trong bóng tối lờ mờ. Tôi không thể nhìn rõ đường xuống cầu thang. Dãy thang cuốn phía bên trái hẳn là đã hỏng, các bậc thang mờ xỉn nằm bất động giữa hai tầng nhà. Tôi hình dung một đám nhân viên ma trong những bộ áo khoác công sở đang kiên nhẫn chờ đợi để bắt đầu di chuyển trở lại.

“Vậy… chúng ta có đi đâu không?”

“À, có chứ. Nghe này, em chỉ muốn nói rằng… em rất tiếc trước mất mát của chị. Thậm chí cho tới tận bây giờ, sau tất cả những gì đã trải qua… em vẫn không thể tưởng tượng được. Những chuyện đã xảy ra cứ như truyện trinh thám của Edgar Allan Poe vậy.”

“Tôi cố gắng không nghĩ về nó quá nhiều,” tôi đáp lại bằng câu trả lời sáo rỗng.

Gã trai bật cười. “Vậy thì chị đến nhầm chỗ rồi.”

Hắn dẫn tôi rẽ qua khúc quanh và đi xuống một hành lang của dãy văn phòng trước kia. Tôi bước lạo xạo trên những mảnh thủy tinh vỡ vụn, ngó vào từng phòng mỗi khi đi qua: trống không, trống không, một chiếc xe đẩy mua hàng, những đống phân, dấu tích còn sót lại của một đống lửa đã nguội lạnh từ lâu, và một gã vô gia cư tay cầm chai bia, hớn hở nói Xin chào!

“Đó là Jimmy,” hắn nói. “Ông ta cũng được lắm, nên chúng tôi cho ở đây.”

Tử tế làm sao, tôi nghĩ bụng, nhưng chỉ gật đầu với Jimmy. Chúng tôi đi tới một cánh cửa nặng nề, khi nó được mở ra, tôi bị tra tấn bởi tiếng ồn ào huyên náo. Dưới tầng hầm phát ra âm thanh ầm ĩ của đàn organ và nhạc rock điên loạn cùng tiếng người sa sả cố gắng hét vào mặt nhau.

“Mời chị,” hắn nói. Tôi không nhúc nhích. Tôi không thích người khác đi phía sau mình. “Hoặc em có thể… ờ, lối này.”

Tôi nghĩ đến việc rút lui ngay lúc này, nhưng nỗi tức giận lại trào lên trong tôi khi hình dung ra tên nhãi này, kẻ tung hứng chết tiệt của lễ hội Phục Hưng, sẽ đi xuống và nói với lũ bạn của hắn rằng: Chị ta choáng nên chạy mất dép rồi! Cả đám sẽ rú lên cười và cảm thấy hả hê. Chị ta thật sự khác so với những gì tao đã nghĩ. Vừa nói hắn vừa giơ tay ngang thắt lưng để chỉ ra tôi thấp bé đến thế nào. Mẹ kiếp mẹ kiếp mẹ kiếp, tôi lẩm bẩm và tiếp tục đi theo hắn.

Chúng tôi đi xuống một tầng nữa, tới một cánh cửa dán đầy tờ rơi. Quầy 22: Kho tài liệu vụ án Lizzie Borden. Đồ sưu tập được bán hoặc trao đổi. Quầy 28: Karla Brown – Bàn về những Vết Cắn. Quầy 14: Đóng kịch – Thẩm vấn Casey Anthony! Quầy 15: Những Trò Ngược Đãi Khủng Khiếp của Tom – Hiện đang phục vụ trong nhà hàng Jonestown Punch và Sweet Fanny Adams!

Sau đó tôi thấy một tờ bướm màu xanh đầy bụi có ảnh mình dán ở một góc: Bàn về Ngày Tồi Tệ! Vụ Thảm Sát trong Ngôi Nhà Nông Trại ở Kinnakee, Kansas − Mổ Xẻ Vụ Án cùng một VỊ KHÁCH vô cùng Đặc Biệt!!!

Một lần nữa, tôi lại cân nhắc tới việc rời khỏi đây, nhưng cánh cửa đã bật mở và tôi bị kéo vào một tầng hầm ẩm ướt, kín bưng không cửa sổ cùng đám đông khoảng hai trăm người, ai nấy đều ngả nghiêng dựa vào nhau, khoác vai và hét vào tai nhau. Trước kia khi còn đi học, chúng tôi từng được xem một đoạn phim về nạn dịch châu chấu tấn công vùng Trung Đông, và đó là những gì lóe lên trong đầu tôi lúc này: những đôi mắt trợn tròn nhìn tôi, mồm lép bép, cánh tay và khuỷu tay đặt nghiêng. Căn phòng được bài trí cho giống một cuộc gặp gỡ trao đổi, chia thành các dãy quầy bằng những tấm hàng rào mắt cáo rẻ tiền. Mỗi quầy là một vụ án giết người khác nhau. Mới nhìn qua tôi ước chừng được khoảng bốn mươi quầy. Một chiếc máy phát điện chỉ vừa đủ để thắp sáng đám bóng đèn được giăng mắc khắp phòng, lô nhô không đều nhau hắt ánh sáng lên các khuôn mặt ở những góc ghê rợn, một bữa tiệc của những bí ẩn đằng sau cái chết.

Phía bên kia phòng, Lyle đã nhìn thấy tôi và bắt đầu đi xuyên qua đám đông, lách vai tiến tới, đập tay chào hỏi những người dọc lối đi. Dường như hắn nắm vai trò quan trọng trong đám người này – ai cũng muốn chạm vào hoặc nói với hắn một điều gì đó. Hắn cúi người xuống cho một gã thì thầm vào tai, rồi khi đứng thẳng lên, đầu hắn va vào một bóng đèn khiến mọi người xung quanh bật cười, khuôn mặt họ chập chờn lúc tối lúc sáng khi bóng đèn xoay tròn như còi hú xe cảnh sát. Những khuôn mặt nam giới. Chỉ có vài người phụ nữ trong toàn bộ căn phòng – tôi có thể trông thấy bốn người, tất cả đều đeo kính và thô kệch. Mấy gã đàn ông cũng chẳng hấp dẫn chút nào. Vài anh chàng râu tóc xồm xoàm có vẻ ngoài như các vị giáo sư, những người giống tuýp ông bố nhà quê tẻ nhạt, và một lượng kha khá những gã trai trẻ ở độ tuổi 20 tóc xấu mù, đeo cặp kính dày như mọt sách, họ khiến tôi nhớ đến Lyle và tên nhãi đã dẫn tôi xuống cầu thang. Đám người này chẳng có gì đặc biệt, ngoài sự ngạo mạn tỏ vẻ hiểu biết. Hãy gọi nó là thứ nước dưỡng da AP sau khi cạo râu.

Lyle tới chỗ tôi, một gã đứng sau lưng hắn cười nhăn nhở, dò xét như thể tôi là bạn gái mới của hắn vậy. Lyle lắc đầu phân trần. “Xin lỗi, Libby. Em nghĩ Kenny phải gọi điện báo khi chị đến để em tự mình đưa chị xuống.” Hắn trừng mắt nhìn Kenny đang đứng sau tôi, gã này nhún vai rồi bỏ đi. Lyle dẫn tôi vào giữa đám đông, đặt một ngón tay sau vai tôi đầy quyết đoán. Vài người đang mặc trang phục hóa trang. Một gã đàn ông mặc áo gi-lê tối màu và đội chiếc mũ chóp cao màu đen chen qua tôi, để lại mùi hương và một tràng cười. Lyle đảo mắt nhìn tôi và nói, “Frederick Baker đồng bóng. Mấy năm nay, bọn em đã cố gạt những người đóng vai ra ngoài, nhưng… quá nhiều người đang tham gia trò này.

“Tôi không biết điều này có ý nghĩa gì,” tôi nói và lo mình sắp mất thăng bằng. Bị những khuỷu tay và bả vai huých vào người, tôi lùi về phía sau một vài bước. “Nghiêm túc mà nói tôi chả hiểu chuyện quái quỷ gì đang diễn ra ở đây.”

Lyle thở dài vẻ sốt ruột, rồi nhìn đồng hồ đeo tay. “Nghe này, buổi họp của chúng ta sẽ chỉ bắt đầu vào lúc nửa đêm. Chị có muốn em đưa đi một vòng và giải thích rõ hơn không?”

“Tôi muốn tiền của mình.”

Hắn ta cắn môi và lôi ra một chiếc phong bì từ túi quần sau, dúi vào tay tôi rồi nghiêng người ghé vào tai bảo tôi để sau hãy đếm. Phong bì có vẻ dày, và tôi bình tĩnh hơn một chút.

“Em sẽ dẫn chị đi một vòng.” Bọn tôi đi vòng quanh căn phòng, những chiếc quầy chật hẹp san sát ở hai bên, đống hàng rào thép ấy nhắc tôi nhớ về những khu nhà ổ chuột tồi tàn. Lyle lại đặt một ngón tay lên vai tôi, giục tiến về phía trước. “Câu lạc bộ Kill − mà tiện thể, đừng giáo huấn, bọn em biết cái tên đó không hay, chỉ là bí quá thôi. Tuy nhiên, hằng năm câu lạc bộ Kill đều tổ chức một buổi họp mặt lớn diễn ra tại đây, Kansas City, KC, Kill Club… Như em đã nói, về cơ bản sự kiện này dành cho những tay cuồng phá án, và những người đam mê các vụ thảm sát nổi tiếng. Tất cả, từ Fanny Adams cho tới…”

“Fanny Adams là ai?” Tôi cắt ngang, và nhận ra rằng mình đang ghen tị. Tôi cứ nghĩ mình là người đặc biệt ở đây.

“Đó là một bé gái 8 tuổi, bị giết và băm thành nhiều mảnh ở Anh vào năm 1867. Gã mà chúng ta vừa đi qua ấy, với chiếc mũ chóp cao cùng các phụ kiện khác, anh ta đang đóng vai hung thủ − Frederick Baker.”

“Thật là bệnh hoạn.” Vậy con bé đó đã mãi mãi ra đi. Cũng tốt. Sẽ không còn ai cạnh tranh với tôi.

“Đó là một vụ giết người khá nổi tiếng.” Hắn thấy tôi nhăn nhó. “Em đã nói rồi, đó là những vụ chẳng mấy hay ho. Ý em là, hầu hết các vụ giết người đều đã được điều tra làm rõ, chẳng còn bí ẩn thực sự nào bên trong. Với em, tất cả chỉ là việc phá án mà thôi. Ở đây có cả những gã trước kia từng là cảnh sát hoặc luật sư…”

“Có vai nào dành cho… vụ của tôi không? Gia đình tôi, có ai đóng vai ở đây không?” Một gã cao to lực lưỡng với mái tóc nổi bật và con búp bê căng phồng mặc chiếc váy đỏ dừng lại giữa đám đông, gần sát mặt tôi nhưng vẫn không để ý. Những ngón tay bằng nhựa của con búp bê cọ vào má tôi. Một gã nào đó phía sau tôi hét lên Scott và Amber! Tôi đẩy hắn ra, cố gắng nhìn lướt qua đám đông để tìm xem có ai mặc giống mẹ tôi, giống Ben, hay một tên khốn đội tóc giả màu đỏ nào đó đang vung rìu không. Tay tôi nắm chặt lại thành nắm đấm.

“Không, đương nhiên là không rồi,” Lyle nói. “Không đời nào, Libby, em sẽ không bao giờ để điều đó xảy ra, đóng vai… nhà chị. Không.”

“Tại sao tất cả hội viên đều là đàn ông?” Trong một quầy gần đó, hai gã béo mặc áo phông polo đang quát nạt nhau về vài vụ sát hại trẻ em ở vùng đông nam Missouri.

“Không phải toàn bộ đều là đàn ông,” Lyle biện hộ. “Ý em là hầu hết những người phá án là đàn ông, chị sẽ thấy điều tương tự ở một cuộc thi ô chữ. Những người phụ nữ chỉ tới để kết nối, trao đổi mà thôi. Họ thảo luận về việc tại sao họ lại đồng cảm với những nạn nhân – bởi họ từng có một ông chồng bạo lực hoặc điều gì đó tương tự – uống cà phê, và mua một tấm ảnh cũ. Tuy nhiên, chúng ta phải cảnh giác hơn bởi đôi khi họ trở nên… quan tâm một cách thái quá.”

“Phải, tốt hơn hết là đừng tỏ ra nhân đạo với những chuyện này,” tôi đáp. Tôi − một kẻ đạo đức giả khốn nạn.

Ơn Chúa, Lyle không để ý những gì tôi vừa nói. “Như lúc này đây, tất cả họ đều bị ám ảnh bởi vụ việc của Lisette Stephens.” Hắn ra hiệu về phía sau lưng, nơi một đám phụ nữ đang xúm lại châu đầu quanh một chiếc máy tính như gà mổ thóc. Tôi đi qua Lyle tới quầy đó. Tất cả đang xem một đoạn phim về Lisette. Lisette và những cô bạn cùng học. Lisette và con chó của cô ta. Lisette và cô chị gái rất giống cô ta.

“Thấy những gì em muốn nói chưa?” Lyle hỏi. “Họ không điều tra mà chỉ đứng xem những thứ họ có thể tìm thấy trên mạng khi ở nhà.”

Vấn đề của Lisette là chẳng có manh mối gì để điều tra cả: Cô ta không có bạn trai, không có chồng, không có những đồng nghiệp khó chịu, cũng chẳng kẻ có tiền án tiền sự nào từng làm công việc sửa chữa trong nhà cô ta. Chỉ đơn thuần biến mất mà không có lý do nào hết, ngoại trừ việc cô ta rất xinh đẹp, thuộc kiểu con gái gây được sự chú ý của người khác, giới truyền thông đặc biệt quan tâm tới việc cô ta mất tích.

Tôi chen vào cạnh đống áo len chui đầu nằm bên dưới tấm biển sắt có ghi dòng chữ Đưa Lisette Về Nhà. 25 đô-la. Tuy nhiên, đám này tỏ ra hứng thú hơn với chiếc máy tính xách tay. Họ nhấp chuột vào các diễn đàn chuyên đề, người ta thường đính kèm ảnh cùng những tin nhắn, tuy nhiên các tấm ảnh này không liên quan chút nào. Dòng chữ “Chúng tôi yêu bạn, Lisette, chúng tôi biết bạn sẽ trở về,” hiện lên cùng với tấm ảnh ba người phụ nữ trung niên ở bãi biển. “Mong bình yên và tình yêu thương sẽ đến với gia đình cô trong lúc khó khăn này,” kế bên tấm ảnh chụp chú chó Labradoodle của người nào đó. Đám phụ nữ quay trở lại trang chủ, và bức ảnh mà giới truyền thông yêu thích nhất hiện ra: Lisette và mẹ cô, hai người đang ôm nhau, má kề má nở nụ cười rạng rỡ.

Tôi nhún vai, cố gắng xua đi những lo ngại của mình về Lisette, cô gái mà tôi không quen biết, và đấu tranh với lòng đố kỵ một lần nữa lại dâng lên trong tôi. Trong tất cả những vụ giết người này, tôi muốn quầy của nhà Day phải to nhất. Đó là ánh sáng của tình yêu thương: Những người thân đã mất của tôi phải là nhất. Trong đầu tôi lại hiện lên hình ảnh của mẹ với mái tóc đỏ buộc đuôi gà phía sau, đang giúp tôi tháo đôi giày mùa đông mỏng manh, rồi chà xát từng ngón chân một. Làm ấm ngón cái. Làm ấm ngón út. Trong ký ức này, tôi có thể ngửi thấy mùi bánh mì phết bơ, nhưng tôi không chắc đó có phải là bánh mì bơ hay không. Trong ký ức này, tôi vẫn còn đủ các ngón chân.

Tôi rùng mình thật mạnh, giống như một chú mèo.

“Ồ, ai đó khiến chị sởn tóc gáy sao?” Lyle nói rồi nhận ra sự mỉa mai trong đó.

“Vậy còn gì nữa không?” Chúng tôi tới gần một đám đông đứng chen chúc trước quầy ghi dòng chữ Bob’s Bizarre Bazaar, được quản lý bởi một gã đeo bộ ria giả quá cỡ màu đen đang sụp soạp ăn súp. Bốn hộp sọ nằm thẳng hàng trên một tấm ván sau lưng hắn cùng tấm biển đề Bốn Người Cuối Cùng. Gã này đang hét lên gọi để Lyle giới thiệu gã với người bạn bé nhỏ. Lyle vẫy tay ra hiệu với gã, cố gắng kéo tôi xuyên qua đám đông hỗn độn, rồi thì thầm người đóng vai vào tai tôi.

“Bob Berdella,” Lyle nói với gã, cách gọi đùa đầy ngụ ý, “đây là Libby Day, cả gia đình chị ấy… là nạn nhân của Cuộc Thảm Sát Trong Ngôi Nhà Nông Trại ở Kinnakee, Kansas. Gia đình Day.”

Gã này vươn người qua chiếc bàn về phía tôi, một mẩu bánh hamburger dính đầy nước dãi bám hờ trên răng hắn. “Nếu cô có một thằng nhỏ trong quần, thì hẳn giờ này cô đã bị nghiền thành từng mảnh trong thùng rác của tôi,” gã nói rồi nhe răng cười. “Từng mẩu, từng mẩu tí hon.”

Gã vỗ mạnh vào người tôi. Tôi không chủ tâm lùi người về phía sau, rồi lảo đảo tiến về phía Bob, giơ nắm đấm đầy phẫn nộ như vẫn thường làm mỗi khi hoảng sợ. Định nhằm thẳng mặt, đấm gã chảy máu mũi rồi tát vào tảng thịt đỏ ngầu trên mặt gã, sau đó bồi thêm một quả đấm nữa. Nhưng trước khi tôi có thể xông tới thì Bob đã đẩy chiếc ghế về phía sau, giơ hai tay lên và càu nhàu với Lyle chứ không phải với tôi, này anh bạn, tôi chỉ đùa thôi, không làm hại đến ai hết. Gã thậm chí còn không thèm nhìn tôi khi nói lời xin lỗi, như thể tôi là một đứa trẻ con. Trong lúc gã lầm bầm với Lyle, tôi lao đến. Nắm đấm không mấy chính xác, nên tôi đã giáng thêm cho gã một cái tát mạnh vào cằm, theo cách mà bạn phạt một con chó con.

“Mẹ kiếp, đồ chó chết.”

Sau đó Lyle cắt ngang, thì thầm vài câu xin lỗi rồi dẫn tôi đi, hai tay tôi vẫn nắm chặt, quai hàm nghiến lại. Tôi dùng giày đá vào bàn của Bob khi bước đi, vừa đủ để chiếc bàn lắc mạnh, hất đổ món súp của gã xuống sàn nhà. Giờ tôi thấy tiếc vì không đấm với được qua mặt bàn. Còn gì xấu hổ hơn việc một phụ nữ thấp bé không thể giáng một cú đấm ra trò cơ chứ. Tôi bị nhấc đi, hai chân giãy giụa trên không. Ngoái về phía sau thấy gã ta vẫn đứng đó, hai tay buông thõng, cằm đỏ lựng, cố gắng xác định xem mình đang cảm thấy hối lỗi hay tức giận.

“Được rồi, đó không phải trận tay bo đầu tiên tại câu lạc bộ Kill, nhưng có thể là trận đấu kỳ quặc nhất,” Lyle nói.

“Tôi không thích bị đe dọa.”

“Anh ta không thực sự… em biết, em biết,” Lyle càu nhàu. “Như em đã từng nói, đến một lúc nào đó mấy gã đóng vai này sẽ tách ra và chỉ còn lại những người điều tra nghiêm túc. Chị sẽ thích những người trong nhóm của bọn em, nhóm nhà Day.”

“Đó là nhóm nhà Day, hay nhóm Cuộc Thảm Sát Trong Ngôi Nhà Nông Trại Ở Kinnakee, Kansas?” Tôi cằn nhằn.

“À, đúng vậy, đó là cách gọi của bọn em.” Hắn cố len người qua một đám đông khác đang tạo thành nút thắt cổ chai giữa lối đi chật hẹp, chen tới đi cạnh tôi. Mặt tôi chỉ cách lưng một người đàn ông mặc chiếc sơ-mi hồ cứng màu xanh da trời chừng chục phân. Tôi dán mắt vào nếp gấp hoàn hảo giữa lưng áo. Ai đó với cái bụng bự của gã hề đang đẩy tôi từ phía sau.

“Không hiểu sao mọi người đều đề cập tới Sa-tăng,” tôi nói. “Vụ Thảm Sát của Quỷ Sa-tăng trong Ngôi Nhà Nông Trại. Cuộc Tàn Sát của Quỷ Sa-tăng ở Kansas.”

“Vâng, nhưng do không thực sự tin vào điều đó, nên bọn em cố gắng không ám chỉ gì đến ác quỷ. Xin thứ lỗi!” Hắn nói với đám đông, và lách về phía trước.

“Vậy ra đó là vấn đề tên gọi,” tôi châm chọc, mắt vẫn dán vào chiếc áo sơ-mi màu xanh. Chúng tôi chen qua góc quanh, tới một không gian mở thoáng đãng hơn.

“Chị có muốn xem thêm các nhóm khác không?” Hắn chỉ ngay vào một nhóm người ở Quầy 31 phía bên trái: những mái tóc được cắt qua loa, vài bộ ria mép, và rất nhiều áo sơ-mi kín cổ. Họ đang tranh luận khá căng thẳng nhưng không hề to tiếng. “Những gã này thực sự khá thú vị,” Lyle nói. “Bọn họ nghĩ mình đã tìm ra được một kẻ giết người hàng loạt. Tên này đã đi qua các bang – Missouri, Kansas, hay Oklahoma – và thực hiện các vụ giết người. Nạn nhân là những người đàn ông trong gia đình, hoặc đôi khi là những người già bị mắc nợ quá nhiều, thẻ tín dụng vượt ngưỡng, thế chấp dưới chuẩn và không còn lối thoát.”

“Hắn giết người bởi nạn nhân không biết cách kiếm tiền ư?” Tôi hỏi.

“Không, không. Họ nghĩ rằng hắn ta giống như một Kevorkian dành cho những người vỡ nợ và có số tiền bảo hiểm nhân thọ kha khá. Họ gọi hắn là Thiên Thần của Con Nợ.”

Một trong những thành viên của Quầy 31, một gã trẻ tuổi với chiếc cằm nhọn và hàm răng chìa cả lên môi, đang nghe lỏm và hí hửng quay sang Lyle. “Chúng tôi nghĩ mình đã tìm thấy Thiên thần ở Iowa vào tháng trước: một anh chàng sống trong căn McMansion cùng với bốn đứa con, đã có một tai nạn xe trượt tuyết hoàn hảo như trong tranh đúng vào thời điểm thực sự thích hợp. Rất giống với một vụ vào năm ngoái. Kinh tế ấy mà anh bạn.”

Tên nhãi vẫn tiếp tục nói, muốn kéo chúng tôi vào trong quầy dán đầy bản đồ, lịch và những mẩu tin tức, một đống hạt thập cẩm được rắc khắp bàn, đám người bốc từng nắm to, bánh quy và đậu phộng bắn ra ngoài, rơi xuống những đôi giày thể thao. Tôi lắc đầu với Lyle và gợi ý đi ra chỗ khác để thay đổi không khí. Bước ra ngoài lối đi, tôi hít một hơi không khí thoáng đãng và nhìn vào đồng hồ đeo tay.

“Phải rồi,” Lyle nói. “Còn nhiều thứ để tìm hiểu. Tiếp tục nào. Em nghĩ chị sẽ đánh giá cao về nhóm bọn em. Nghiêm túc hơn rất nhiều. Nhìn kìa, đã có người ở đó rồi.” Hắn chỉ tay về phía một quầy trong góc khá gọn gàng, nơi một phụ nữ to béo tóc búi đang nhấm nháp cà phê trong chiếc cốc nhựa to bằng cái bình, và hai gã trung niên râu tóc gọn gàng đang lướt nhìn khắp căn phòng, hai tay chống hông, không hề để ý tới người phụ nữ. Trông có vẻ giống cớm. Đằng sau họ, một gã hói già hơn đang ngồi khom người bên chiếc bàn chơi bài, viết những ghi chú lên một tập giấy nhớ, trong khi một cậu nhóc trạc tuổi sinh viên ngó qua vai gã hói để đọc những dòng chữ trên giấy. Vài người đàn ông chẳng có gì nổi bật túm tụm ở phía sau, lật giở những trang giấy kẹp trong hồ sơ hoặc chỉ lảng vảng quanh đó.

“Đó, lại có thêm phụ nữ nhé,” Lyle nói với giọng đắc thắng và chỉ vào người phụ nữ tóc búi. “Chị muốn qua đó ngay bây giờ, hay muốn đợi để tạo một bất ngờ lớn?”

“Bây giờ luôn cũng được.”

“Đây là một nhóm sắc sảo, những người quan tâm nghiêm túc. Chị sẽ thích họ cho mà xem, em cá là chị có thể biết được thêm vài điều từ họ.”

Tôi hắng giọng và đi theo Lyle qua đó. Người phụ nữ ngẩng lên đầu tiên, nheo mắt lại nhìn tôi sau đó mở to. Cô ta đang cầm một tập hồ sơ tự làm trên đó dán tấm ảnh chụp tôi với chiếc vòng cổ có những trái tim bằng vàng mà ai đó đã gửi tặng qua thư hồi tôi học trung học. Dường như người phụ nữ đó muốn đưa cho tôi tập hồ sơ – cô ta cầm nó như đang cầm một kịch bản vậy – nhưng tôi không giơ tay ra đón lấy. Tôi để ý thấy cô ta đã vẽ những chiếc sừng quỷ lên đầu tôi.

Lyle đặt một tay lên vai tôi, sau đó lại bỏ xuống. “Xin chào mọi người. Vị khách đặc biệt của chúng ta đã tới, và cô ấy là ngôi sao của Hội Nghị Kill năm nay – Libby Day.”

Một vài đôi lông mày nhướn lên, những cái gật đầu tán thưởng, một trong hai gã trông giống cớm hét lên, Chúa ơi. Hắn định đập tay ăn mừng với Lyle nhưng chợt nghĩ lại: cánh tay hắn cứng đờ trong tư thế chào của Đảng quốc xã. Gã đàn ông lớn tuổi hơn rời mắt khỏi tôi và ghi chép nhiều hơn. Tôi cảm thấy lo lắng cho thời điểm mình sẽ phải phát biểu – thay vào đó, tôi lầm bầm một tiếng chào chua chát và ngồi vào bàn.

Vẫn là những chào đón, những câu hỏi như thường lệ. Đúng, tôi sống ở thành phố Kansas. Không, tôi vẫn đang thất nghiệp. Không, tôi không có liên lạc gì với Ben. Phải, anh ta viết thư cho tôi vài lần một năm, nhưng tôi luôn ném thẳng vào thùng rác. Không, tôi chẳng hề tò mò xem anh ta viết gì. Vâng, tôi sẵn sàng bán lá thư tiếp theo mà tôi nhận được.

“Được rồi,” cuối cùng Lyle cũng oang oang cắt ngang. “Ở đây, ngay trước mặt các bạn là nhân vật mấu chốt trong vụ án nhà Day, một nhân chứng sống. Vậy tại sao chúng ta không chuyển sang những câu hỏi thực tế hơn nhỉ?”

“Tôi có một câu hỏi thực tế đây,” một trong hai gã trông giống cớm lên tiếng. Hắn nhếch mép cười, rồi quay trở về chỗ ngồi. “Cô có thấy phiền không nếu tôi hỏi vài chuyện ngoài rìa?”

Hắn ta thực sự mong tôi trả lời không thấy phiền.

“Tại sao cô lại làm chứng rằng Ben là hung thủ đã giết hại gia đình cô?”

“Bởi vì anh ta đã làm vậy.” Tôi nói. “Tôi đã ở đó.”

“Lúc đó cô đang trốn, cô gái yêu quý ạ. Không đời nào cô thấy được những gì mà cô đã nói, nếu thế thì cô cũng đã chết rồi.”

“Tôi đã thấy những gì tôi thấy,” tôi bắt đầu, theo cách mà tôi luôn nói.

“Chết tiệt. Cô chỉ thấy những gì họ bảo cô phải thấy mà thôi, bởi cô là một cô bé ngoan đang sợ hãi cần sự giúp đỡ. Việc khởi tố đã làm cô cực kỳ rối trí. Họ đã lợi dụng cô để đạt được mục tiêu sớm nhất. Tác phẩm của những tay cảnh sát lười biếng nhất mà tôi từng thấy.”

“Tôi đã ở trong nhà…”

“Phải rồi, nhưng cô giải thích thế nào về những phát súng đã lấy mạng mẹ cô?” Hắn hỏi ngay tức thì, nhoài người chống khuỷu tay lên bàn. “Trên tay Ben không hề có mùi thuốc súng…”

“Nào nào các vị,” gã đàn ông lớn tuổi hơn cắt ngang, vẫy vẫy bàn tay thô kệch nhăn nheo. “Và các quý cô,” ông ta vừa ngọt xớt nói thêm, vừa gật đầu chào tôi và người phụ nữ tóc búi. “Chúng ta thậm chí còn chưa trình bày những bằng chứng của vụ này. Phải có nghi thức hẳn hoi chứ, nếu không thì chẳng khác nào một buổi tán gẫu trên mạng. Khi có một vị khách như cô Libby Day ở đây, chúng ta cần đảm bảo chắc chắn rằng mọi người phải thống nhất quan điểm.”

Không ai phản đối mặc dù vẫn có những tiếng càu nhàu, rồi ông ta liếm môi, kiểm tra cặp kính hai tròng và hắng giọng. Gã này cũng có tiếng nói đấy, nhưng không được mạnh mẽ cho lắm. Tôi có thể hình dung ông ta ở nhà một mình, đứng bên kệ bếp ăn những miếng mứt đào đóng hộp và hút si-rô chùn chụt, bắt đầu đọc lại những gì đã viết trong các mẩu ghi chú.

“Bằng chứng: Khoảng 2 giờ sáng ngày 3 tháng 1 năm 1985, một người hoặc một nhóm người đã giết chết ba thành viên nhà Day tại ngôi nhà nông trại của họ ở Kinnakee, Kansas. Những người bị giết bao gồm Michelle Day, 10 tuổi; Debby Day, 9 tuổi, và người chủ gia đình Patty Day, 32 tuổi. Nguyên nhân tử vong: Michelle Day chết vì bị siết cổ, Debby Day chết vì những nhát rìu, còn Patty Day chết vì hai phát súng, những vết rìu và những vết chém rất sâu từ con dao săn Bowie.”

Tôi thấy máu dồn lên hai tai, và tự nhủ rằng những gì mình đang nghe chẳng có gì mới hết. Chẳng có gì đáng để hoảng sợ. Tôi chưa bao giờ thực sự lắng nghe những chi tiết về vụ sát hại. Tôi để cho những lời nói đi vào tai này và ra khỏi tai kia, như một bệnh nhân ung thư hoảng loạn đang nghe những thuật ngữ được mã hóa và chẳng hiểu gì ngoài việc biết đó là một tin cực xấu.

“Bằng chứng,” ông ta tiếp tục. “Cô con út, Libby Day, 7 tuổi, đang ở nhà vào thời điểm đó và đã trốn thoát khỏi nhóm hoặc kẻ giết người kia thông qua cửa sổ trong phòng người mẹ.

“Bằng chứng: Con trai cả, Benjamin Day, khai rằng vào đêm xảy ra vụ án, cậu ta đang ngủ tại nhà một người hàng xóm sau khi cãi nhau với mẹ. Cậu ta không đưa ra được bất kỳ chứng cứ ngoại phạm nào khác và không hợp tác với cảnh sát. Kết quả là Ben đã bị bắt và bị kết tội, chủ yếu dựa trên những tin đồn từ phía công chúng rằng cậu ta có dính líu tới việc tôn thờ Sa-tăng – những bức tường trong nhà được vẽ đầy những biểu tượng và khẩu hiệu liên quan đến việc sùng bái ác quỷ. Bằng máu của mẹ cậu.”

Ông ta dừng lại để tăng phần kịch tính, mắt hướng về phía đám đông, rồi quay trở lại những mẩu ghi chú.

“Chứng cứ quan trọng hơn cả là việc cô em gái may mắn thoát chết, Libby, đứng ra làm chứng đã nhìn thấy cậu ta giết người. Bất chấp những lời khai không rõ ràng và độ tuổi của Libby, Ben Day vẫn bị kết tội. Phán quyết này còn được đưa ra bất chấp cả việc thiếu vật chứng một cách đáng kinh ngạc. Chúng ta tụ họp tại đây để khám phá những khả năng khác và thảo luận các căn cứ của vụ án này. Tôi nghĩ điều chúng ta có thể tán thành ở đây chính là việc lần theo dấu vết của vụ án dựa theo những sự kiện xảy ra trong ngày 2 tháng 1 năm 1985. Mọi thứ trở nên tồi tệ trong một ngày duy nhất – không có ý chơi chữ ở đây.” Những tiếng cười rì rầm, những cái nhìn tội lỗi hướng về phía tôi. “Khi cả nhà Day thức dậy vào buổi sáng, chẳng có dấu hiệu gì cho thấy một cuộc sát hại sẽ xảy đến với họ. Có điều gì đó thực sự không ổn vào ngày hôm ấy.”

Một phần bức ảnh chụp hiện trường vụ án trượt ra khỏi tập hồ sơ của gã: một bên chân bụ bẫm dính đầy máu và một phần chiếc váy ngủ màu hoa oải hương. Debby. Thấy tôi nhìn chằm chằm vào bức ảnh, gã ta liền nhét lại nó vào trong, như thể muốn nói đó không phải là việc của tôi.

“Tôi nghĩ nhìn chung chúng ta đều đồng ý rằng Runner Day đã làm việc này,” người phụ nữ to béo nói trong khi đang lục tìm thứ gì đó trong ví, mớ khăn giấy lòi ra bên ngoài.

Tôi giật mình khi nghe thấy tên của cha. Runner Day. Ông già khốn khổ.

“Phải vậy không?” Cô ta tiếp tục. “Ông ta tới chỗ Patty, cố gắng đe dọa để moi tiền, nhưng vẫn như mọi khi, ông ta chẳng lấy được xu nào và trở nên tức giận, mất kiểm soát. Ý tôi là, gã này khá điên rồ, đúng không?”

Người phụ nữ lấy ra một lọ thuốc, đổ hai viên aspirin ra theo cách những diễn viên trong phim vẫn thường làm với một cú giật nắp mạnh mẽ và dứt khoát. Sau đó, cô ta nhìn tôi và chờ đợi sự xác nhận.

“Phải, tôi nghĩ vậy. Tôi không nhớ rõ lắm về ông ấy. Họ ly hôn khi tôi chỉ khoảng 2 tuổi. Sau đó, chúng tôi không liên lạc gì nhiều. Runner có quay lại sống với chúng tôi một mùa hè ngay trước khi xảy ra vụ thảm sát, nhưng…”

“Bây giờ ông ta ở đâu?”

“Tôi không biết.”

Cô ta đảo mắt nhìn tôi.

“Vậy còn dấu chân của gã to con thì sao?” Một người đàn ông phía sau hỏi. “Cảnh sát chưa bao giờ giải thích tại sao một dấu giày công sở nam vấy máu lại xuất hiện trong một ngôi nhà không có người đàn ông nào đi giày công sở…”

“Đám cảnh sát không bao giờ giải thích gì nhiều,” gã lớn tuổi hơn bắt đầu lên tiếng.

“Cũng giống như vệt máu khô vậy,” Lyle nói thêm. Hắn quay sang tôi. “Có một vệt máu khô trên ga trải giường của Michelle – và nó không giống với máu của bất kỳ ai trong gia đình chị. Không may là những tấm ga này được mua từ cửa hàng của quỹ từ thiện Goodwill, nên công tố viên đã tuyên bố rằng vết máu này có thể của bất kỳ ai.”

Những tấm ga cũ “êm ái”. Đúng vậy. Nhà Day là khách hàng ruột của Goodwill: từ sofa, tivi, đèn bàn, quần jeans, thậm chí chúng tôi còn mua cả rèm cửa ở đó.

“Chị có biết cách nào tìm ra Runner không?” Tên nhóc trẻ tuổi hỏi. “Chị có thể giúp chúng tôi hỏi ông ta một vài câu không?”

“Và tôi vẫn cho rằng rất đáng để hỏi chuyện những người bạn của Ben hồi đó. Cô còn giữ mối quan hệ nào ở Kinnakee không?” Gã đàn ông lớn tuổi hỏi.

Một vài người bắt đầu tranh luận về thói cờ bạc của Runner, những người bạn của Ben và quy trình điều tra qua quýt của

cảnh sát.

“Này,” tôi chen ngang. “Vậy còn Ben? Không có gì để bàn về Ben hay sao?”

“Làm ơn đi, đây là vụ án oan trắng trợn nhất từ trước tới nay,” quý bà to béo lên tiếng. “Và đừng có giả vờ là cô không nghĩ vậy. Trừ phi cô đang muốn bảo vệ cha mình, hoặc quá xấu hổ về những gì đã làm.”

Tôi trừng mắt nhìn cô ta. Có một ít lòng đỏ trứng gà dính trên tóc cô ta. Ai lại ăn trứng vào nửa đêm? Tôi nghĩ. Hay nó đã dính ở đó từ sáng?

“Magda rất quan tâm đến vụ án này, và đặt nhiều tâm huyết vào nỗ lực trả lại tự do cho anh cô,” gã đàn ông lớn tuổi nói với cái nhướn mày của kẻ bề trên.

“Anh ấy là một người đàn ông tuyệt vời,” Magda nói và hất hàm về phía tôi. “Sáng tác thơ và viết nhạc − anh ấy chính là sức mạnh của niềm hy vọng. Cô nên tìm hiểu thêm về anh ấy, Libby, cô thực sự nên làm điều này.”

Magda quệt móng tay qua những tập hồ sơ đặt trên bàn trước mặt cô ta, mỗi tập về một thành viên gia đình Day. Tập dày nhất dán đầy những tấm ảnh của anh trai tôi: Ben với mái tóc đỏ, khuôn mặt trẻ trung, ủ rũ cầm chiếc máy bay đồ chơi; Ben với mái tóc đen và dáng vẻ sợ hãi trong tấm ảnh hồ sơ được chụp sau khi bị bắt giữ; Ben hiện tại, đang ngồi tù, mái tóc đã đỏ trở lại, vẻ mặt thận trọng, miệng hơi hé như thể đang diễn thuyết. Bên cạnh đó là tập hồ sơ của Debby, kèm theo tấm hình duy nhất của chị hóa trang thành dân du mục trong lễ hội Halloween: má hồng, đôi môi đỏ mọng, mái tóc nâu ẩn dưới chiếc khăn màu đỏ của mẹ tôi, chị đánh hông sang một bên tạo dáng quyến rũ. Có thể thấy cánh tay đầy tàn nhang của tôi đang vươn ra chạm vào người chị ở phía bên phải. Đó là một bức ảnh gia đình, mà tôi nghĩ chưa bao giờ được công bố.

“Cô đã lấy nó ở đâu?” Tôi hỏi.

“Ở một nơi nào đó.” Cô ta che tập hồ sơ bằng bàn tay mập ú.

Tôi nhìn xuống bàn, cố kìm nén ý muốn tấn công đang thôi thúc trong người. Bức ảnh chụp thi thể Debby một lần nữa lại trượt ra ngoài tập hồ sơ của gã lớn tuổi. Tôi nhìn thấy phần chân đầy máu, bụng bị chém nát, một cánh tay gần như sắp đứt rời. Tôi chồm người qua bàn và nắm lấy cổ tay gã.

“Cất thứ chết tiệt đó đi,” tôi lầm bầm. Gã đẩy tấm ảnh vào trong rồi cầm khư khư tập hồ sơ như tấm khiên chắn và nháy mắt với tôi.

Giờ thì cả nhóm đang nhìn tôi với ánh mắt tò mò xen lẫn lo ngại, như thể tôi là con thỏ cưng nào đó vừa được phát hiện có thể đã mắc bệnh dại.

“Libby,” Lyle nói với giọng nhẹ nhàng của người dẫn chương trình tọa đàm. “Không ai nghi ngờ việc chị đã ở trong nhà vào thời điểm đó. Cũng không ai phủ nhận việc chị đã vượt qua một thử thách khủng khiếp mà không một đứa trẻ nào đáng phải chịu. Nhưng liệu chị có thực sự trông thấy tận mắt những gì mình từng nói không? Hoặc có khi nào chị đã bị mớm cung không?”

Trong đầu tôi hiện lên hình ảnh Debby đang bới tóc tôi với những ngón tay mũm mĩm hoạt bát, tết theo kiểu xương cá mà chị khăng khăng là khó hơn nhiều so với tết kiểu Pháp, phả vào sau gáy tôi hơi thở ấm nóng đầy mùi xúc xích hun khói và buộc một chiếc ruy-băng màu xanh lá ở đuôi tóc, biến tôi thành một món quà rồi giúp tôi đứng vững trên thành bồn tắm để tôi có thể cầm chiếc gương tay và ngắm phần gáy nhăn nheo của mình trong chiếc gương soi phía trên chậu rửa. Chị Debby là người luôn muốn mọi thứ phải thật xinh xắn.

“Không có bằng chứng nào cho thấy kẻ giết hại gia đình tôi là ai khác ngoài Ben,” tôi nói sau khi tâm trí đã quay trở lại với thế giới của người sống, nơi tôi phải sống dựa vào chính mình. “Thề có Chúa, anh ta thậm chí còn chưa từng nộp đơn kháng cáo. Ben chưa bao giờ cố gắng để thoát khỏi vụ này.” Tôi không có kinh nghiệm về những người bị kết án, nhưng theo những gì tôi biết thì dường như họ luôn kháng cáo, ngay cả khi họ chẳng hề thực tâm làm vậy. Khi hình dung về nhà tù, tôi thường nghĩ tới những bộ áo liền quần màu cam và các tập giấy viết màu vàng. Ben đã tự thú tội hoàn toàn theo quán tính − lời khai của tôi không phải là điều mấu chốt.

“Anh ấy đã có đủ lý do để kháng cáo tám lần,” Magda tuyên bố một cách rõ ràng. Tôi nhận ra cô ta thuộc nhóm những phụ nữ sẽ xuất hiện trên bậc cửa trước nhà và hét vào mặt tôi. Tôi thấy mừng vì không tiết lộ địa chỉ nhà cho Lyle. “Không phản kháng không có nghĩa là anh ấy phạm tội, điều đó chỉ có nghĩa là anh ấy đã mất hy vọng.”

“Vậy sao, cũng tốt thôi.”

Lyle mở to mắt nhìn tôi.

“Ôi Chúa ơi. Chị thực sự nghĩ Ben đã làm việc đó.” Rồi hắn bật cười. Một tiếng bột phát và nhanh chóng dừng lại nhưng hoàn toàn chân thật. “Xin thứ lỗi,” hắn lẩm bẩm.

Chưa ai từng cười nhạo tôi. Mọi thứ tôi nói hay làm đều được nhìn nhận một cách rất nghiêm túc. Không ai chế giễu một nạn nhân. Tôi chưa bao giờ là nạn nhân của sự đùa cợt. Còn giờ thì sao? “Vậy ra, các người đều rất thích thú với những giả thiết của mình,” tôi nói và bật dậy khỏi ghế.

“Ồ, đừng như vậy chứ,” gã giống cớm nói. “Hãy ở lại đây. Hãy thuyết phục chúng tôi.”

“Anh ta chưa từng… nộp… đơn kháng cáo,” tôi nói chậm rãi và chắc chắn theo kiểu của một cô giáo mầm non. “Thế là quá đủ đối với tôi rồi.”

“Vậy thì cô là một con ngốc.”

Tôi giơ ngón tay giữa về phía gã một cách cứng rắn như thể đang cuốc sâu vào vùng đất lạnh. Rồi tôi quay đi, gã nào đó phía sau tôi nói, “Cô ấy vẫn chỉ là một kẻ nói dối bé nhỏ.”

Tôi lao trở lại đám đông, chen dưới những cánh tay cho tới khi ra được chỗ có không khí mát mẻ phía cầu thang, bỏ lại sau lưng những tiếng ồn ào. Chiến thắng duy nhất của tôi trong buổi tối hôm nay là tập tiền trong túi và biết được rằng những người này cũng thảm hại như tôi.

TÔI TRỞ VỀ NHÀ, bật hết đèn lên và leo lên giường với một chai rượu mạnh. Tôi nằm dài trên giường, kiểm tra mẩu thư của chị Michelle mà tôi đã quên chưa bán.

BUỔI TỐI TRÒNG TRÀNH. Như thể thế giới này từng bị chia làm hai, một bên là những người tin rằng Ben vô tội và bên kia là những người cho rằng anh ta là hung thủ. Lúc này đây, mười hai con người xa lạ tại một tầng hầm trong thành phố đã trèo sang phía tin anh ta vô tội, mang theo trong túi đầy những viên gạch, và – bùm! – đó là nơi mà tất cả sức nặng đang dồn về. Magda, Ben, thơ ca và sức mạnh của niềm hy vọng. Những dấu chân, vết máu và người cha Runner điên loạn. Lần đầu tiên kể từ khi Ben bị xét xử, tôi hoàn toàn bị chi phối bởi những người tin rằng tôi đã nghĩ sai về Ben, và điều này cho thấy tôi đã không vượt qua được thách thức này. Tôi với niềm tin bé nhỏ. Nếu là một đêm nào đó trước kia, có thể tôi đã giũ sạch được mọi thứ, giống như tôi vẫn thường làm. Nhưng những gã này quá quả quyết, quá cao ngạo, cứ như thể họ đã tranh luận về tôi vô số lần và quyết định rằng tôi không đáng để chất vấn một cách gay gắt làm gì. Tôi đã tới đó với tâm thế rằng họ sẽ cư xử giống như những người khác vẫn thường làm với tôi: quan tâm, giúp đỡ, hay có thể sẽ giải quyết những rắc rối của tôi. Nhưng thay vì thế, họ đã cười nhạo tôi. Tôi thực sự là người mềm yếu, dễ bị lung lay như vậy sao?

Không. Tôi thực sự đã thấy những gì diễn ra tối hôm đó, tôi nghĩ, suy nghĩ này đóng đinh trong đầu tôi như một câu thần chú. Ngay cả khi điều đó không đúng. Sự thật là tôi đã không nhìn thấy bất cứ điều gì. Thế được chưa? Đúng nghĩa là tôi đã không nhìn thấy gì hết. Tôi chỉ nghe thấy. Tôi chỉ nghe thấy bởi tôi đang trốn trong tủ lúc gia đình bị sát hại, bởi tôi là một đứa trẻ hèn nhát, vô dụng.

ĐÊM ĐÓ, CHÍNH cái đêm hôm ấy. Tôi thức giấc trong bóng đêm căn phòng của ba chị em tôi, trời lạnh đến mức sương giá đọng ngay cả bên trong cửa sổ. Chị Debby thỉnh thoảng vẫn ngủ chung với tôi – chúng tôi thường nằm sát vào nhau cho ấm – và chị luôn thúc mông mình vào bụng tôi, ép tôi vào sát bức tường lạnh lẽo. Tôi mắc chứng mộng du từ khi mới chập chững biết đi, nên không nhớ mình đã bò qua chị Debby, nhưng tôi nhớ chắc chắn là đã nhìn thấy chị Michelle ngủ dưới sàn nhà, hai tay ôm cuốn nhật ký như thường lệ, miệng ngậm một cây bút, mực đen nhỏ xuống cằm cùng với nước dãi. Tôi không phiền khi cố đánh thức, đưa chị quay trở lại giường. Trong ngôi nhà chật hẹp, lạnh giá và ồn ào của chúng tôi, giấc ngủ được tôn trọng một cách nghiêm ngặt, và không ai trong chúng tôi thức dậy mà không phải đấu tranh tư tưởng. Tôi để lại chị Debby trên giường mình rồi mở cửa để nghe những tiếng nói phát ra từ dưới hành lang trong phòng ngủ của Ben – những tiếng thì thào nài nỉ tạo thành tạp âm ồn ào. Những âm thanh phát ra từ những người cố gắng giữ im lặng. Một tia sáng lọt qua khe hở dưới cánh cửa phòng Ben. Tôi quyết định đi tới phòng mẹ, rón rén bước qua hành lang, kéo chăn của bà ra và rúc mình vào sau lưng mẹ. Mùa đông, mẹ tôi mặc những hai chiếc quần dài và một đống áo len khi ngủ – trông bà lúc nào cũng giống thú nhồi bông khổng lồ. Thường thì mẹ sẽ không cử động khi chúng tôi trèo vào giường ngủ chung với bà, nhưng đêm đó tôi nhớ mẹ đã quay phắt sang khiến tôi nghĩ rằng bà đang tức giận. Nhưng không phải, bà quay sang ôm chặt và hôn lên trán tôi. Nói rằng bà yêu tôi. Mẹ hiếm khi nói những lời như vậy với chúng tôi. Đó là lý do tại sao tôi nhớ rõ điều này, hoặc chỉ là ảo tưởng tôi thêm vào để tự an ủi mình sau khi vụ án xảy ra. Nhưng cứ cho là mẹ đã nói rằng bà yêu tôi, và tôi chìm vào giấc ngủ ngay sau đó.

Lần tiếp theo tôi thức giấc, có lẽ khoảng vài phút hoặc vài tiếng sau đó, mẹ tôi đã rời khỏi phòng. Bên ngoài cánh cửa đóng kín ấy, tôi hoàn toàn không thấy gì hết, mẹ tôi đang kêu gào còn Ben thì gầm lên với bà. Có cả giọng của những người khác, chị Debby đang thổn thức và khóc thét lên Mẹ mẹ ơi mẹ ơi chị Michelle và sau đó là tiếng rìu. Thậm chí tôi còn biết điều gì sẽ xảy ra sau đó. Tiếng kim loại vút trong không khí – chính là âm thanh ấy – và sau tiếng chặt là một tiếng huỵch nhẹ rồi tiếng ùng ục và Debby rên rỉ, phát ra âm thanh như đang nghẹt thở. Ben hét lên với mẹ: “Sao bà lại khiến tôi phải làm điều này?” Không một âm thanh nào phát ra từ chị Michelle, điều này thật kỳ lạ bởi chị luôn là người ầm ĩ nhất trong nhà. Mẹ tôi hét lên Chạy! Chạy đi! Đừng! Đừng! Và một tiếng súng vang lên, bà vẫn gào thét nhưng đã không còn hơi sức để cất lên thành lời, chỉ là tiếng kêu rít lên như tiếng một con chim đang đâm đầu vào bức tường ở cuối hành lang.

Tiếng bước chân nặng trịch và đôi chân bé nhỏ của chị Debby đang bỏ chạy, chị vẫn chưa chết, tiến tới phòng của mẹ và tôi chợt nghĩ không, không, đừng tới đây rồi sau đó hành lang rung lên cùng tiếng kéo lê và cào xước trên sàn nhà. Lại thêm những tiếng òng ọc, tiếng nện mạnh theo sau là một tiếng thịch và tiếng rìu chặt chém trong khi mẹ tôi vẫn kêu rít lên thảm thiết. Còn tôi đứng đó, chết lặng trong phòng của mẹ, chỉ biết lắng nghe và tiếng súng nổ váng tai lại một lần nữa vang lên cùng tiếng người đổ huỵch xuống sàn nhà. Tôi, một kẻ hèn nhát, đang hy vọng mọi chuyện sẽ qua đi. Co ro đằng sau cánh cửa tủ, tôi run rẩy dữ dội. Hãy đi đi, đi đi, đi đi. Những tiếng đập cửa rầm rầm, những bước chân dồn dập hơn và một tiếng than khóc, Ben đang thì thào với chính mình, trở nên điên loạn. Rồi sau đó là tiếng kêu khóc, một tiếng kêu khóc thảm thiết của đàn ông và giọng của Ben, tôi biết đó là giọng của Ben, đang hét lên Libby! Libby!

Tôi mở cửa sổ trong phòng ngủ của mẹ và nhảy qua tấm chắn đã gãy, mông tôi đáp xuống mặt đất phủ đầy tuyết chỉ cách cửa sổ chừng một mét, đôi tất ướt sũng ngay lập tức, mái tóc rối tung rối mù. Tôi chạy.

Libby! Tôi ngoái lại nhìn ngôi nhà, chỉ một ánh đèn duy nhất sáng sau ô cửa sổ, mọi thứ khác đều tối đen như mực.

Chân tôi lạnh căm căm khi lội xuống đầm và luồn qua bãi sậy. Dù đang mặc nhiều quần áo giống mẹ, quần dài bên trong lớp váy ngủ, nhưng tôi vẫn run lẩy bẩy, gió tốc váy và thổi hơi lạnh thẳng vào bụng tôi.

Ánh đèn pin chiếu loạn xạ lên những ngọn sậy, rồi lướt qua một bụi cây cách đó không xa, tiếp đến là bãi đất không xa chỗ tôi ngồi. Libby! Vẫn là giọng của Ben. Ben đang săn lùng tôi. Hãy ở nguyên chỗ đó, bé yêu! Cứ ở nguyên đấy! Ánh đèn pin mỗi lúc một gần hơn, tiếng giày lạo xạo trên tuyết, nước mắt tôi lã chã rơi xuống tay áo, cả người rung lên cho tới khi tôi gần như đã sẵn sàng đứng lên và đối mặt thì ánh đèn quay ngoắt đi, tiếng bước chân ra xa dần, chỉ còn tôi ngồi ở đó, chết cóng trong đêm giá lạnh. Ánh đèn trong nhà vụt tắt và tôi vẫn ngồi nguyên tại chỗ.

Nhiều giờ sau đó, khi người tôi đã tê cóng đến không thể đứng dậy nổi. Tôi bò về nhà trong ánh bình minh yếu ớt, chân run lên bần bật, hai tay đông cứng co quắp. Cửa nhà mở rộng, và tôi lê vào trong. Trên sàn nhà bên ngoài gian bếp là một bãi nôn, đậu và cà rốt. Mọi thứ khác đều nhuốm một màu đỏ – những vết bắn trên các bức tường, từng vũng dưới thảm, một chiếc rìu dính đầy máu găm trên tay vịn thành ghế sofa. Tôi thấy mẹ nằm trên sàn nhà trước cửa phòng chị em tôi, phần đỉnh đầu hở một miếng hình tam giác, những nhát rìu bổ xuyên qua bộ đồ ngủ kếch xù của bà, một bên ngực hở ra. Phía trên, những sợi tóc dài màu đỏ dính trên tường cùng máu và óc bà. Chị Debby nằm ngay phía sau, hai mắt mở trừng trừng và một vệt máu chảy dài trên má. Cánh tay chị gần như đứt lìa, chị bị chém bằng nhiều nhát rìu, bụng mở banh ra, buông lơi như miệng người đang ngủ. Tôi gọi Michelle, nhưng biết là chị đã chết. Tôi rón rén bước vào phòng ngủ và thấy chị nằm cuộn tròn trên giường với những con búp bê, cổ bầm tím những vết máu tụ, một chân vẫn đi dép, một mắt mở trừng trừng.

Trên tường là những hình vẽ bằng máu: những ngôi sao năm cánh và các dòng chữ tục tĩu dơ dáy. Quỷ Sa-tăng. Mọi thứ đã bị phá hủy, vỡ nát, tan tành. Những chiếc bình đựng lương thực vỡ vụn, ngũ cốc vương vãi khắp sàn nhà. Một miếng bánh gạo Rice Krispie dính trên vết thương ở ngực mẹ tôi, mọi thứ đều bừa bãi, lộn xộn. Một chiếc giày của chị Michelle treo lủng lẳng trên chiếc quạt trần rẻ tiền.

Tôi tập tễnh bước về phía chiếc điện thoại trong bếp, kéo xuống sàn nhà và bấm số của bác Diane, số điện thoại duy nhất mà tôi thuộc, và khi bác trả lời, tôi hét lên Mọi người chết hết rồi! bằng giọng thảm thiết chói tai. Sau đó tôi len vào khe hở giữa tủ lạnh và lò nướng, chờ bác Diane tới.

Ở bệnh viện, họ cho tôi uống thuốc an thần và cắt bỏ ba ngón chân cùng một nửa ngón áp út đã bị hoại tử vì tê cóng. Từ đó trở đi, tôi vẫn chờ đợi để thoát khỏi cuộc sống này.

TÔI NGỒI BẬT DẬY. Kéo mình ra khỏi suy nghĩ về ngôi nhà đầy tội ác và quay trở lại chiếc giường của tôi. Trong nhiều năm qua, tôi vẫn sống, khỏe mạnh như chó săn vậy, thế nên tôi cần phải có kế hoạch. May mắn và sung sướng biết sao khi bộ óc mưu trí của Day đã đem lại những ý tưởng về sự an toàn cho bản thân. Libby Day Bé Nhỏ đã tìm ra hướng đi cho riêng mình. Đó là bản năng sinh tồn, hay gọi nó đúng với bản chất hơn là: lòng tham.

Những “tín đồ của gia đình Day,” những “người phá án” sẽ không chỉ trả tiền cho những bức thư cũ. Chẳng phải họ đã hỏi tôi Runner đang ở đâu và tôi còn biết những ai trong số bạn bè của Ben hay sao? Họ sẽ trả tiền cho những thông tin mà chỉ tôi mới có. Những gã đó thuộc lòng sơ đồ nhà tôi, lập các tập hồ sơ nhét đầy những tấm ảnh hiện trường, tất cả đều có những giả thiết của riêng mình về hung thủ giết hại gia đình Day. Là những kẻ dị hợm, họ sẽ phải trải qua một khoảng thời gian khó khăn để tiếp cận ai đó và nói chuyện với họ. Còn tôi, tôi có thể làm điều đó thay họ. Cảnh sát sẽ chiều lòng một đứa nhỏ bé đáng thương như tôi ngay cả khi họ tỏ ra nghi ngờ. Tôi có thể nói chuyện với Runner, nếu đó là điều họ thực sự muốn, và nếu như tôi có thể tìm ra ông ta.

Cũng có thể việc này sẽ không đi tới đâu hết. Trong nhà, ngồi an toàn dưới ánh đèn sáng, tôi tự nhủ rằng Ben có tội (đúng ra là phải có tội), bởi tôi không thể nghĩ ra được khả năng nào khác. Nếu không phải bất đắc dĩ thì tôi sẽ không động não, và lần đầu tiên trong 24 năm qua, tôi cần động não. Tôi bắt đầu làm tính trong đầu: 500 đô-la cho việc nói chuyện với bọn cớm; 400 đô-la để nói chuyện với vài người bạn của Ben; 1000 đô-la để tìm ra Runner; 2000 đô-la để nói chuyện với Runner. Tôi dám chắc rằng những kẻ này có cả một danh sách những người mà tôi có thể phỉnh phờ để dành chút thời gian cho cô bé Day Mồ Côi. Tôi có thể kéo dài chuyện này hàng tháng trời.

Tôi ngủ thiếp đi, vẫn cầm chai rượu, tự nhủ: Ben Day là kẻ giết người.

nh Thám, Kỳ Bí ebook©MotSAch —★— Nhà xuất bản: NXB Lao Động TVE-4U
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.