Hawaii, 1874
Samuel mơ thấy phụ nữ. Gần như đêm nào cậu cũng mơ thấy họ, đây là chuyện khiến cậu xấu hổ đến mức chẳng dám tiết lộ với bất kỳ ai.
Cậu cố gắng ngừng mơ nhưng không thể. Ban ngày cậu có thể bắt tâm trí mình học hành, rèn luyện bằng những bài tập khắt khe của Dojun: vận hết sức lực và độ cân bằng của bản thân cho tới khi đủ khả năng lao xuống từ những vách đá cao trên đỉnh Mũi Kim Cương và chạm đất bằng chân giữa những bụi cây và sườn dốc cách đó khoảng năm mét. Đêm xuống, cậu có thể ngủ dễ dàng bằng việc đọc vài đoạn trong Kinh Thánh, thực hành cách thở của Dojun, hay đọc cuốn Tám mươi ngày vòng quanh thế giới, nhưng cậu vẫn mơ về những thứ mà khi nghĩ đến, chúng luôn khiến cậu đỏ mặt, nóng bừng, khốn khổ và ghê sợ phần xấu xa trong mình.
Cậu không có bạn bè nào ở trường. Cậu cũng chẳng thích có bạn, mà thích về nhà trông nom Kai, chơi đùa với cô bé tới khi xong bữa tối, khi Dojun đến gặp cậu ở một chỗ bí mật và họ bắt đầu những bài tập gian khổ, bài tập giãn cơ, những cú ngã bầm giập, cách lăn người và những bước nhảy dần thành thạo hơn, nhanh hơn, êm hơn và dễ dàng hơn, trở nên tự nhiên như việc trả lời một câu hỏi đã biết rõ đáp án.
Sau một năm, khi Samuel có thể ngã khỏi cây me trong vườn đến hai mươi lần mà vẫn đứng dậy sẵn sàng leo tiếp, Dojun nghỉ làm quản gia cho Phu nhân Tess và Ngài Gryphon. Ông đến sống tại căn nhà nhỏ trên một mỏm núi thuộc đỉnh Tantalus, nơi có những cây dương xỉ to như cây gỗ và sâu bướm lớn bằng bàn tay Samuel. Đứng ở lanai nhà Dojun, Samuel có thể thấy toàn cảnh từ Mũi Kim Cương đến tận Trân Châu Cảng. Dải rừng kukui-nut màu xanh xám phủ lên thành phố bên dưới; Tantaius như một khu vườn địa đàng, nơi màn sương lững lờ bay đến bay đi, và những dải cầu vồng ba lớp hình thành trên bờ cát và đường chân trời bất tận của biển cả.
Dojun trở thành thợ mộc. Ông làm đồ nội thất từ gỗ koa, vuốt đôi bàn tay lên mặt gỗ nhẵn thín, những mảng sáng và tối, đường chạm khắc vô tận từ màu vàng đồng tới nâu sô cô la, từ những thớ gô thẳng tới loại mang hình thù - thứ tốt nhất vẫn là loại gỗ nâu đỏ uốn cong: gỗ koa “lượn” rất được ưa chuộng. Mỗi ngày sau lúc tan trường, Samuel lại vác rất nhiều bó củi mang lên chỗ Dojun để ông làm việc.
Dojun dạy cậu cách dùng đôi tay thật khéo léo, vuốt những đường lượn cong của chân bàn như cách cậu học shuji, viết hệ thống chữ Nhật và Hán tự cầu kỳ, cách sử dụng tâm trí và cơ thể - mà đối với Samuel thì làm một cái mộng đẹp, đơn giản vừa khít với cái giá gỗ koa cũng như nghệ thuật thư pháp vậy. Dojun khịt mùi và nói Samuel viết chữ chẳng có chút nghệ thuật nào - đó là shodo - sự tinh thông vượt xa những nỗ lực vụng về của cậu, thứ mà người đàn ông có thể cống hiến trọn đời cho nó. Nhưng khi Dojun nhìn các món đồ gỗ, ông cũng phê bình và đưa ra những lời khuyên ngắn gọn để cậu tiến bộ hơn, nên Samuel nghĩ mình đang làm rất tốt, và cậu cũng yêu cái mùi gỗ xẻ cùng mùi kim loại được tra dầu.
Samuel ghép những miếng gỗ rời thành khối, chạm khắc thành hình hoa cỏ chim muông, và mang về tặng Kai. Lên năm tuổi - sắp sang sáu, như cô bé vẫn khăng khăng như vậy - Kai thấy chúng rất thú vị trong mười lăm phút đồng hồ, rồi muốn cậu cho cô bé cưỡi con ngựa nhỏ và ngắm cô bé lặn ngụp trong ao cá.
Khi làm xong cái giá bằng gỗ kia, cậu cẩn thận bọc chúng bằng vai bố, mang xuống núi tặng Phu nhân Tess. Bà để nó trong phòng ngủ, ngay cạnh giường, cùng hòn đá cậu mang về từ Mũi Kim Cương, những thứ thật ngớ ngẩn và thô kệch dưới con mắt người lớn của cậu.
Ở trường, cậu thuộc đội xanh. Cả hai đội đều muốn có cậu, vì cậu là một trong những cậu bé to cao trong lớp, mạnh khỏe và nhanh nhẹn hơn tất cả, lại dai sức nhất. Trong một trận đấu, một cậu bé của đội xanh vấp và ngã đè nên hai chân Samuel. Cậu dễ dàng lăn người và nhỏm dậy giữa một nhóm đội đỏ, bọn họ ngã đè lên cậu từ mọi hướng. Cậu nằm úp mặt ở dưới cùng, hít một hơi dài khi bọn nhóc đứng dậy, từng đứa một.
Tiếng chuông vang lên, mọi người đều chạy đi chỉ trừ đứa cuối cùng, không chịu rời khỏi lưng Samuel mà nằm luôn ở đó, thở vào tai cậu.
Người Samuel cứng đờ.
Trong một khoảnh khắc cậu thấy cả thế giới như đã biến mất, tất cả chuyển thành màu đen, toàn bộ những gì cậu nghe được là một âm thanh kinh khủng và rồi cậu thấy mình đang quỳ gối trong đám cỏ cao, run rẩy, nhìn chằm chằm vào thằng bé kia, thở hổn hển.
“Khốn kiếp, mày bị làm sao thế?” thằng bé thuộc đội đỏ gào lên, vụng về đứng dậy. “Mày đánh tao gần chết đây này, thằng điên? Tao phải cho mày biết tay.”
Samuel nhìn chằm chằm cậu ta. Cậu sợ mình sẽ nôn mất nên chỉ nuốt xuống và không nói gì.
“Xin lỗi ngay,” thằng bé yêu cầu, đứng ngay phía trên cậu.
Samuel chống tay đứng dậy, hai bàn tay run rẩy. Cậu cao hơn thằng bé kia, nặng cân hơn, nhưng có thứ gì đó gần như tiếng khóc nghẹn lại trong cuống họng. “Tôi xin lỗi,” cậu lẩm bẩm.
“Cái gì?” Thằng bé đứng đó, tay chống nạnh. “Tôi xin lỗi!” Samuel gào lớn.
Nó cười toe toét. “Thế chứ.” Rồi đưa tay ra bắt tay cậu. Samuel bất động, và thằng bé kia khoác vai cậu đi về phía trường. Samuel chịu đựng cái ôm nhễ nhại mồ hôi được nửa bước thì đẩy ra, ngồi thụp xuống và úp mặt vào hai cánh tay bắt tréo.
Một giáo viên đang gọi chúng. Samuel nghe thấy thằng bé kia lưỡng lự rồi chạy về phía trường.
Nó quay lại cùng một thầy giáo và hỏi Samuel xem cậu có khỏe không. Cậu hít một hơi thật sâu rồi đứng dậy trả lời, “Dạ có, thưa thầy.”
Ông đặt tay lên trán Samuel. “Em có vẻ hơi lạnh. Hay ngồi trong bóng râm vài phút… Wilson, mang một ca nước đến đây.”
Samuel lùi lại, không muốn ai chạm vào mình. “Em không sao,” cậu nói. Em muốn về lớp.” Cậu quên nói, “thưa thầy”. Cậu bước qua cả hai người và đi vào tòa nhà, ngồi vào bàn học. Ai cũng tò mò nhìn cậu, những chiếc áo trắng của chúng trông như lữ sâu bướm nhợt nhạt trong không gian tối tăm như cánh rừng dương xỉ của phòng học.
Khi leo tên Tantalus chiều hôm đó, cậu vẩn còn run đến độ không thể cầm chắc một thanh gỗ.
“Cậu ốm à?” Dojun hỏi bằng tiếng Anh bồi.
Samuel nhặt cây nomi[1] cậu vừa đánh rơi. Cậu cũng muốn kể cho Dojun nghe nhưng lại xấu hổ. Cậu không muốn Dojun biết về cuộc sống trước kia, cũng chẳng có lời nào để giải thích chuyện mới xảy ra trên sân trường.
“Không ạ, Dojun-San,” cậu nói. “Cháu ổn.”
Dojun cầm lấy cây nomi từ tay cậu. “Cậu đang dối ta, Samua-chan,” ông nói.
Cái cách ông nói; từ chan mà ông gắn vào tên Samuel - như nhiều từ tiếng Nhật khác, có cả ngàn ý nghĩa khác nhau - như ta quý cậu, ta khỏe hơn, khôn hơn, già hơn cậu; ta sẽ chăm lo cho cậu, Samua-chan.
“Cháu thấy sợ,” Samuel nói, nhìn đăm đăm xuống bàn mộc. “Cháu không muốn quay lại trường.”
Dojun xoay cây nomi và ngồi xuống, bắt đầu làm một cái mộng để gắn chân ghế. “Vì sao lại sợ?”
Samuel nắm chặt hai bàn tay không và hít một hơi thật sâu. “Cháu không thích bọn con trai khác,” cậu nói, mạnh dạn hơn.
“Đánh cậu à?”
Cậu cũng mong bọn chúng đánh mình. Cậu muốn giết tất cả, nhất là thằng bé bên đội đỏ đã nằm trên lưng cậu mà không chịu đứng dậy và thở vào tai cậu. Đã lâu, lâu lắm rồi, cậu lại nghĩ đến con cá mập và bài hát, về làn nước đen ngòm đẫm máu. Dojun chưa bao giờ nhắc đến những bài hát, và Samuel cũng từ bỏ luôn việc chờ được nghe, đã quên hết, nhưng giờ khi nghĩ lại, cậu biết Dojun đã dạy cậu bằng cách chỉ cho cậu hát những bài hát không lời, bằng cơ thể, bằng đôi tay và bằng đầu.
“Không, Dojun-San,” cậu lí nhí. “Cháu không đánh nhau.”
“Cậu qua đây.”
Samuel ngẩng đầu và tới đứng bên cạnh chiếc ghế đẩu nơi Dojun ngồi làm việc. Ông đặt cây nomi sang bên, cẩn thận gạt những dăm bào vào hộp gỗ. Rồi ông đứng dậy, và giáng lòng bàn tay vào mặt Samuel.
Lực quá mạnh khiến Samuel bắn ra phía sau. Cậu va vào bàn mộc, chụp lấy nó bằng hai tay rồi vặn người chạy trốn khi Dojun tiến lại. Samuel nấp sau cái bàn, nhìn đăm đăm vào Dojun, cả người lùi sát vào góc giữa bức tường và cái tủ tansu[2] đá làm xong phân nửa.
Cậu không thể trông thấy Dojun qua làn nước mắt, ông chỉ như một cái bóng chập chờn giữa những cái bóng khác. Mặt cậu bỏng rát. Không quá đau; hàng trăm bài tập khác của Dojun còn đau hơn nhiều, nhưng người cậu vẫn run rẩy, giật mình mất kiểm soát khi cái bóng mờ trong tầm mắt lại chuyển động.
Dojun. Dojun đã đánh cậu. Cảm giác bị phản bội lớn đến độ Samuel chẳng thể nghĩ được gì, chỉ có thể dán mình vào bức tường như một con búp bê tật nguyền đính chặt vào giá gỗ.
Dojun bước tới một bước và Samuel lại co rúm người vào. Như thể có thứ gì đó quan trọng sụp đổ trong cậu, tan thành nước và trôi xa, mang theo những gì từng là của cậu, để lại một cái xác rỗng đứng run rẩy trong xó nhà.
Cậu thấy như thể mình là người đang đứng nhìn từ bên ngoài, chứng kiến chuyện xảy ra. Cậu thấy nước mắt lăn dài trên má, từ cằm rơi xuống áo sơ mi và tạo thành những vệt ẩm sẫm màu.
Dojun đứng yên. Ông không đến gần thêm nữa. Samuel quan sát từ ngoài vào có cảm giác Dojun đang ngạc nhiên dù khuôn mặt ông không biểu lộ cảm xúc gì. Còn Samuel vỏ rỗng thì đừng đó khóc lóc.
“Samua-san,” Dojun nói, và Samuel lại giật bắn người.
Dojun nhìn cậu một lúc rồi quay lại ngồi vào ghế đẩu. Ông chỉnh lại tấm ván bằng mỏ kẹp, nhấc azebiki-noko lên và bắt đầu cưa.
“Để ta kể cậu nghe một câu chuyện,” ông nói bằng tiếng Nhật. “Đây là câu chuyện mà con trai Nhật Bản ai cũng biết nhưng có thể những đứa trẻ nước ngoài như cậu thì không. Bây giờ cậu nên lắng nghe. Nó kể về một cậu học trò muốn rèn luyện kiếm thuật và đã đi tìm vị sư phụ tài ba nhất còn sống trên đời. Theo lời đồn đại, cậu ta đến rất nhiều ngọn núi hoang vu cho tới khi tìm thấy một ngôi đền, và đi sâu vào trong là túp lều đổ nát của một ẩn sĩ. Ông ta chính là cao thủ kiếm thuật, một chiến binh với những tuyệt chiêu vô song.”
Dojun đã cưa xong và lấy tấm ván ra khỏi mỏ kẹp, đặt nó xuống rồi bắt đầu đo đạc. Bàn tay ông vuốt ve mặt gỗ lần nữa, rất nhẹ nhàng, như người đàn ông chạm vào cổ con ngựa yêu thích của mình.
Ông kể tiếp, “‘Tôi đến đây học kiếm!’ Ông bắt chước kiểu cách trịnh trọng của cậu học trò khi nói ý định của mình với vị ẩn sĩ bằng một cái vung tay. “Phải mất bao lâu mới có thể dùng kiếm thành thạo?” Ẩn sĩ vẫn tiếp tục lau sàn. ‘Mười năm,’ ông trả lời. Cậu học trò có vẻ xuống tinh thần. ‘Nhưng nếu tôi học chăm chỉ và luyện tập gấp đôi thì thế nào?’ ‘Hai mươi năm,’ sư phụ đáp lại.”
Dojun trải một tấm vải lên lòng. Ông bắt đầu dùng cây nomi làm thêm một cái mộng cho chân ghế nữa, không rời mắt khỏi tay trong lúc tiếp tục kể chuyện.
“Cậu học trò quyết định không cãi lại nhưng xin được nhận làm đồ đệ. Khi sư phụ cho đệ tử mới rèn luyện, cậu chỉ phải chặt gỗ, lau dọn nhà cửa, nấu ăn, nhiều việc đến độ làm hết cả ngày cho tới nửa đêm mới xong. Cậu chẳng có lúc nào được sờ vào thanh kiếm và sau một năm thì không giữ nổi kiên nhẫn. ‘Sư phụ,’ cậu hỏi gặng, ‘khi nào chúng ta bắt đầu luyện kiếm? Không lẽ người chỉ coi con là một tên nô lệ mà thôi?’”
Nhưng sư phụ chỉ mặc kệ và cậu học trò vẫn tiếp tục với những công việc hằng ngày, dù cậu ngày càng nản chí. Một buổi chiều, cậu vừa giặt quần áo vừa nghĩ đến chuyện rời xa ông già lẩn thẩn này thì một cú vụt bằng cây gậy to khiến cậu loạng choạng. Choáng váng nằm trên mặt đất, cậu ngước nhìn sư phụ đứng sừng sững trước mặt. ‘Người,’ cậu gào lên. ‘Con chỉ đang giặt quần áo cho người! Con vẫn làm tốt mọi công việc. Sao người lại đánh con?’ Nhưng sư phụ chỉ bỏ đi. Cậu học trò không biết mình đã làm sai chuyện gì, nhưng vẫn cố gắng làm tốt hơn.
“Ngày hôm sau, khi cậu đang cần cù đốn củi, sư phụ lại tấn công lần nữa, đánh cậu ngã sóng soài. ‘Chuyện gì nữa đây?’ cậu ta hét lên. ‘Sao người lại trừng phạt con thế này?’ Sư phụ cũng chỉ im lặng nhìn cậu, không hề tỏ ra tức giận. Cậu nghĩ đến việc xuống núi. Ông già này điên thật rồi. Và cậu bắt đầu đề phòng sư phụ, trong lần tiếp theo, khi bị tấn công, cậu liền lăn người tránh. Cậu rơi xuống khe núi nhưng đã né được đòn.
“Sau lần đó, các đợt tấn công diễn ra thường xuyên hơn, cậu học trò tránh né cũng tốt hơn, và cuối cùng cậu đã hiểu chuyện gì đang diễn ra. Nhưng mọi thứ không vì thế mà trở nên dễ dàng hơn. Cậu học trò càng giỏi tránh né bokken của sư phụ, ông càng tấn công nhiều hơn và bất ngờ hơn. Ông theo cậu lúc đang ngủ, đang tắm, kể cả lúc đi cầu. Cậu học trò nghĩ mình sẽ phát điên, nhưng các giác quan của cậu cũng dần trở nên nhạy bén, đến độ sư phụ gần như không thể đánh trúng cậu nữa. Nhưng những đợn tấn công vẫn tiếp diễn, mười ngàn cú đánh, từ bất cứ vị trí nào, bất cứ thời điểm nào. Một ngày nọ, khi cậu học trò đã ở trong túp lều rách nát được bốn năm, trong lúc đang khom lưng nhóm lửa, chuẩn bị cho rau củ vào nồi thì sư phụ lại tấn công từ đằng sau. Cậu chỉ dùng cái vung chặn cú đánh rồi tiếp tục công việc mà không hề rời khỏi chỗ đứng.”
Những dăm bào gỗ koa xoăn tít rơi lên miếng vai trắng vắt qua hai chân Dojun. Tiếng động quen thuộc của cây nomi đục vào gỗ tạo ra những âm thanh sột soạt nho nhỏ, đều đặn trong căn phòng.
“Từ đó,” Dojun nói, “cậu học trò đã trở thành một cao thủ mà chưa hề chạm vào thanh kiếm.”
Samuel hiểu những gì Dojun kể cho mình. Cậu muốn trở thành người học trò gan lì, tận tâm, khiêm tốn đã trở thành cao thủ mà không sờ đến kiếm; cậu muốn điều đó như hơi thở, như nhịp tim, như cuộc sống này. Và cậu lại co rúm trong góc, biết chắc nếu Dojun tấn công lần nữa cậu cũng không học cách né tránh mà sẽ tự sát bằng lưỡi cưa Nhật Bản sắc bén kia.
Dojun ngẩng mặt lên khỏi cái chân ghế và nhìn vào mắt cậu Samuel cảm thấy không thể kiểm soát nổi vẻ mặt mình. Nước mắt tuôn trào như một thứ chất lỏng tuyệt vọng trong cậu không chịu bị kìm nén mà cứ rỉ ra ngoài qua những vết nứt.
“Xin ông.” Lời nói khó nhọc bật ra thành tiếng thì thầm. “Dojun-San…”
Dojun sẽ đuổi cậu đi. Cách huấn luyện của Dojun rất khắt khe, Samuel biết rõ điều đó, không gì bù đắp nổi cho một nhược điểm nhất định, một hạn chế cá nhân, một nỗi sợ đặc biệt trong quá trình đó. Dojun đã đưa ra những gì ông sẽ dạy, hoặc chấp nhận hoặc từ chối.
Dojun vẫn quan sát cậu, hai bàn tay để yên trong lòng, ánh mắt chăm chú và khó đoán.
Rồi ông chợt phá vỡ sự yên lặng. “Ta hứa với cậu,” ông nói. “Không bao giờ đánh đập. Có thể những người khác sẽ đánh. Ta thì không bao giờ.”
Trong một khoảnh khắc, Samuel không dám chắc mình hiểu ông nói gì. Cậu nuốt xuống cơn nghẹn trong cổ họng.
“Gì cơ ạ,” cậu nói bằng giọng khản đặc.
Dojun phẩy tay từ ngực mình về phía Samuel. “Ta. Cậu. Không đánh. Không bao giờ. Ta hứa. Cậu hiểu chứ?” Ông không hề mỉm cười, không hề rời mắt khỏi Samuel. “Cả người cậu sẽ tin Dojun chứ? Đầu tin. Tay tin. Ngón chân cũng tin.”
Samuel chỉ nhìn Dojun chằm chằm với vẻ cảnh giác. Cậu biết có những thứ quá tốt đẹp đến nỗi không thể trở thành sự thật được.
Người đàn ông Nhật Bản đứng dậy và đi tới chỗ Samuel, đứng trước mặt cậu với đôi chân giạng ra theo kiểu shizen no kamae, một tư thế thả lỏng sẵn sàng, cho phép dễ dàng di chuyển về bất kỳ hướng nào. Khi ông bất chợt nhấc tay lên, Samuel co rúm người lại.
Dojun dừng lại khi tay ở ngang vai cậu, chỉ cách có vài phân. “Không tin, hả?” Ông cười khô khan. “Được. Ta cũng đã không tin cậu. Không ngốc phải không?”
Ông định quay đi. Samuel thấy một cử động khẽ nơi khóe mắt. Trước khi cậu kịp bật lùi lại, tay Dojun đã vung ra với một ánh chớp màu trắng chết người. Samuel dựa sát vào tường, hồn xiêu phách lạc, mắt nhắm nghiền chờ nhận cú đánh.
Nhưng nó không hề tới. Cậu cảm thấy có làn gió lướt qua gò má, cuối cùng cũng cố mở cặp mắt đẫm nước ra, bàn tay xòe rộng của Dojun vẫn ở đó, bất động, chỉ cách mặt Samuel một ly.
Những ngón tay Dojun chạm vào da cậu, mềm như cọng lông. “Samua-chan.
Cậu phải tin Dojun. Ta hứa. Ta không dối trá. Không bao giờ đánh đập.”
Samuel cắn môi dưới - cách duy nhất để cơ thể ngừng run rẩy như một đứa trẻ. Cậu cắn môi thật mạnh để chống lại sự yếu đuối. “Hay cho cháu biết từ ‘hứa’,” cậu nói, giọng vẫn khàn khàn.
“Chikai.”
“Hứa với cháu bằng tiếng Nhật,” Samuel nói.
Dojun lùi lại, chắp hai tay vào nhau và trịnh trọng cúi người. “Ta hứa danh dự với cậu, Samua-san,” ông nói bằng ngôn ngữ của mình, “ta sẽ không bao giờ cố ý đánh cậu vì bất cứ lý do gì.”
Samuel chầm chậm đẩy người khỏi chỗ chui rúc ở góc nhà và đứng thẳng dậy. Cậu cũng chắp hai tay vào nhau và cúi người như cách Dojun đã làm, chỉ khác là cúi thấp gấp đôi để bày tỏ sự xấu hổ vì bản thân, và hối lỗi, và sẽ làm tốt hơn, và tin lời hứa của Dojun bằng tất cả con người mình.
Không hẳn đã là tất cả, bởi khi đầu gối Dojun xọc thẳng lên mặt Samuel giữa lúc cậu đang cúi mình, mắt cậu tự động nhắm lại và cơ thể lùi về sau để tự vệ. Nhưng cậu lập tức ngừng lại, cũng như Dojun đừng nâng chân ngay trước cú va chạm. Samuel đứng thẳng người lên chờ đợi, giả bộ như những giọt nước mắt tin tưởng và nhẹ nhõm vì được giải thoát đang lăn trên mặt kia không hề tồn tại.
Dojun mặc kệ hết thảy. Ông lại ngồi xuống và tiếp tục làm chân ghế. “Không ưa bọn trẻ ở trường,” ông nói, như thể toàn bộ cuộc khủng hoảng vừa rồi chưa diễn ra.
Samuel nhặt một mảnh giấy nhám và nghịch nó, dùng ngón tay để kiểm tra độ nhám. “Chuyện không quá tồi tệ, cháu đoán vậy,” cậu nói, đúng là không hề kinh khủng nếu so với giây phút cậu ở cận kề sự hủy diệt.
“Đi học, đánh nhau là thường. Chống lại cái xấu, Samua-san. Dojun không thích đánh nhau. Đúng, nhưng con trai không đánh nhau, chỉ có hai lý do để giải thích. Sợ. Là một. Quá cao thủ nên không bao giờ thua, là hai. Cậu đã sợ?”
“Cháu không sợ.”
“Cậu nói sợ, không muốn quay về trường mà.”
Samuel làm ra vẻ bận rộn bằng cách chà tờ giấy nhám lên mặt hông cái tủ tansu. Má cậu vẫn còn đau vì cái tát của Dojun. “Cậu không sợ. Vậy là cậu đánh rất cừ, à?”
Tờ giấy nhám chà đi chà lại nhanh hơn. Samuel khom lưng làm việc. “Cháu chưa hề đánh nhau.”
“Này, ta sẽ dạy cậu đánh nhau, được không?” Dojun đánh giỏi ra phết. Bài hát con hổ. Samua-san. Cậu nhớ bài hát con hổ chứ?”
“Cháu vẫn nhớ.”
Cú đấm thình lình lao tới, Samuel thấy nó khi nắm tay của Dojun tiến thẳng lên từ dưới cằm cậu. Cậu giật mình, đờ người ra khi bàn tay Dojun chạm vào quai hàm. Cậu thậm chí còn không nghe thấy tiếng người đàn ông Nhật Bản đến gần phía sau lưng.
Dojun chậm rãi lùi lại. “Lần này. Hãy lắng nghe.” Ông giơ tay lên và Samuel thấy nó cuộn thành nắm đấm, chỉ có ngón út vểnh ra ngoài. Dojun xòe bàn tay và phe phẩy, như thể đang đuổi ruồi.
“Chỉ có một việc xấu, Samua-san. Khi cậu đánh, sẽ có người bị đau. Ta không đánh, ta đã chikai, có danh dự, không đánh cậu. Dojun sẽ dạy cậu chiến đấu cả ngày, tập, tập, tập. Samua-san học cách trở thành người đánh giỏi số một. Rồi cậu ra ngoài, một khi bị đánh - kotsun!” Ông vỗ hai cườm tay vào nhau tạo thành âm thanh bộp bộp. “Cậu đau, cậu ngừng đánh, cậu chết chắc.”
Samuel không có câu trả lời. Cậu gục đầu xuống và tiếp tục đánh bóng tủ tansu, và nghĩ đến việc hít thật sâu, lấy không khí vào cơ thể để bình tĩnh trở lại.
“Được rồi,” Dojun nói. “Được rồi. Lúc nào rảnh, ta với cậu xuống khu phố Tàu, tìm ai đó đánh cậu.”
❀ ❀ ❀
[1] Cái đục.
[2] Tủ được các quý tộc Nhật sử dụng, có thể xem như một biểu tượng cho địa vị và giai cấp.