“Cháu nên lập gia đình thôi, cháu yêu,” quý bà Wrotham bảo Leda. Không may mà người phụ nữ luống tuổi này lại không bàn thêm làm thế nào để đạt được mục tiêu lý tưởng này, mà chỉ ngồi sát mép chiếc ghế quay sợi. “Ta không thích việc đánh máy.” Bà gõ nhẹ những ngón tay nổi gân xanh. “Cứ nghĩ đến găng tay sẽ bẩn đến mức nào mà xem.”
“Quý bà Wrotham, cháu không nghĩ mình sẽ đeo găng đâu,” Leda nói. “Ít nhất cháu cũng có thể bỏ găng ra khi làm việc trên máy.”
“Nhưng cháu sẽ đặt chúng ở đâu? Đôi găng sẽ dính bụi, cháu yêu… cháu thừa biết găng tay được làm từ chất liệu gì mà.” Bà chậm rãi gật đầu, những lọn tóc bạc ở hai bên thái dương đung đưa bên dưới cái mũ nhỏ, trông thùy mị như cô gái ngày xưa.
“Có thể chỗ bàn làm việc sẽ có ngăn kéo. Cháu sẽ dùng giấy báo gói đôi găng lại và cất vào trong đó.”
Quý bà Wrotham không trả lời, nhưng vẫn gật đầu theo kiểu chậm rãi cố hữu. Giữa những bức tường màu hồng nhạt và rèm che màu táo xanh đã bạc, trông bà thật mong manh, cổ kính như những vòng hoa bằng thạch cao kiểu George trang trí cho trần nhà và bệ lò sưởi.
“Ta không vui chút nào,” bà đột nhiên lên tiếng, “khi nghĩ đến cháu ngồi sau một cái bàn. Ta mong cháu cân nhắc lại, Leda thân mến. Quý cô Myrtie có thể không thích chuyện này, cháu có nghĩ vậy không?”
Câu ám chỉ bằng giọng trách móc nhẹ nhàng lại tác động tới Leda rất nhiều. Chắc chắn quý cô Myrtle sẽ không thích chuyện này. Leda cúi đầu, tuyệt vọng nói, “Nhưng chỉ cần tưởng tượng công việc đó sẽ thú vị như thế nào đi ạ! Biết đâu cháu được gõ lại bản thảo viết tay của một tác giả ngang tầm Sir Walter Scott thì sao.”
“Khó lắm, cháu yêu,” quý bà Wrotham nói, gật đầu mạnh hơn. “Rất khó có khả năng. Ta không nghĩ chúng ta sẽ gặp được người giống như Sir Walter trong suốt cuộc đời này. Cháu vui lòng rót cho ta tách trà nhé?”
Leda đứng dậy, biết rằng yêu cầu này là một vinh dự dành cho nàng. Quý bà Wrotham đã rất tử tế khi đề nghị như vậy, bởi Leda nhận ra bà chủ nhà hơi mếch lòng khi nghĩ sẽ có ngày xuất hiện một tác giả sánh được với nhà văn mình yêu thích nhất.
Trong khi họ ăn bánh mì lát và bơ, cô hầu gái nói giọng khu Đông London thông báo Phu nhân Cove và chị gái, quý cô Lovatt, đã đến. Màn rắc rối thường lệ diễn ra trước ngưỡng cửa trong phút chốc, khi quý cô Lovatt cố lùi lại nhường bước cho em gái là phu nhân nam tước, còn Phu nhân Cove thì xua tay và làm vài cử chỉ tỏ vẻ bất lực khi muốn mời chị gái mình đi trước. Cuối cùng thì chuyện vẫn được giải quyết như mọi khi: phu nhân ngoan ngoãn vào trước chị gái và nhìn Leda đầy cảm kích khi cô xếp ghế cho họ ngồi gần khay trà.
Vẫn theo lệ thường, quý cô Lovatt hạ thân hình uyển chuyển vào một cái ghế bọc vải hoa và hỏi Leda nghĩ mình đang làm gì mà lại xa cách bạn bè lâu đến vậy. Trong lúc Leda cố giải thích để không khiến các quý bà quý cô lo lắng một cách không cần thiết về những chuyện xảy ra khi đi làm thuê, Phu nhân Cove đã cứu cánh cho nàng bằng giọng nói êm ái, rằng thật tuyệt vì nàng đã tới đây mỗi khi có thể. Leda mỉm cười với bà, tỏ vẻ biết ơn vì sự giúp đỡ kịp lúc.
Thêm người tham gia, câu chuyện chuyển sang các đề tài khác nhau, bao gồm cả về những người thuê nhà quý cô Myrtle. “Có vẻ thô lỗ lắm,” quý bà Wrotham tả khái quát về bà chủ nhà mới. “Mọi người có thể thấy mũi cô ta bên dưới vành mũ. Hai chị em tôi chưa ghé qua thăm.”
“Hắn ta là dân buôn súc vật,” quý cô Lovatt nói. “Dân buôn súc vật ạ?” Leda lặp lại.
“Hắn xử lý việc liên quan đến thú vật,” quý cô Lovatt nói rõ hơn, kèm theo cái nhấc ngón tay khó hiểu. “Khi chúng đã chết. Với số lượng lớn.”
Không ai nói thêm về chuyện đó nữa. Bất cứ điều gì quý ông này đã làm với số lượng lớn súc vật chết nên để dành cho trí tưởng tượng. Một thoáng yên lặng sầu muộn, trang nghiêm trôi qua khi mọi người cùng nghĩ về số phận đáng buồn của ngôi nhà quý cô Myrtie từng sở hữu, và Leda nghĩ đến căn phòng ngủ chật hẹp với thảm nhung trải sàn kiểu Brussels cùng giấy dán tường có hoa văn màu xanh nước biển đậm, điểm thêm sắc hồng và đỏ.
“Cháu đã sửa sang gì thêm cho căn hộ mới chưa, cháu yêu?” Phu nhân Cove hỏi Leda.
“Ồ! Sửa sang ạ?” Nàng loay hoay tìm câu trả lời phù hợp, chỉ chệch hướng một chút thôi cũng dẫn đến những dò hỏi kỹ hơn về căn hộ nàng đã không thể giữ lại cho mình. “Cháu chưa quyết định sẽ cải thiện gì cả. Cháu không muốn vội vàng.”
“Rất khôn ngoan,” quý cô Lovatt nói, gật đầu. “Cháu luôn là một cô gái vững vàng, Leda. Chúng ta đã lo lắng cho cháu, nhưng ta tin cháu sẽ làm tốt thôi.”
“Ồ, vâng, thưa phu nhân.”
“Leda bảo tôi con bé muốn làm nhân viên đánh máy,” quý bà Wrotham thông báo. “Tôi phải nói mình không ưa chuyện đó.”
“Chắc chắn không!” Quý cô Lovatt đặt tách trà xuống. “Không, chúng ta đều đồng ý nghề đánh máy không phù hợp. May quần áo là lựa chọn tốt hơn.”
“Cháu đã… thế này… các cô biết đó… cháu thực sự không cảm thấy thoải mái ở tiệm của Madame Elise,” Leda nói.
“Vậy thì cháu phải thay đổi tình hình,” Phu nhân Cove nói khẽ với vẻ nhân từ. “Chúng ta có thể làm gì để giúp cháu nào?”
Leda nhìn bà đầy biết ơn. “Ồ, phu nhân Cove… cháu sẽ có lợi thế rất lớn nếu có được một lời giới thiệu…” Nàng dừng lại, chợt nhận ra yêu cầu này có vẻ bất nhã, “… chỉ một câu thôi - thật đấy, cháu e là Madame Elise sẽ không… nếu cháu không quá lạm dụng… lòng tốt của mọi người…” Nàng cắn môi khi những lời nói lộn xộn cứ thế tuôn ra.
“Chúng ta sẽ cân nhắc,” quý cô Lovatt nói. “Không phải chúng ta không vui lòng giới thiệu cháu, Leda thân mến, cháu hiểu mà. Nhưng có thể cháu không nên quá vội vã rời khỏi tiệm Madame Elise để trở thành nhân viên đánh máy.”
“Nhưng, thưa cô…”
“Cháu nên lắng nghe lời khuyên đúng đắn, Leda ạ. Đánh máy không phải nghề phù hợp. Đó là công việc dành cho những phụ nữ mạnh mẽ.”
“Cháu sẽ làm bẩn găng tay,” quý bà Wrotham thêm vào.
“Nhưng con bé đâu cần đeo găng, phải không?” Phu Cove rụt rè hỏi.
“Tất nhiên con bé phải đeo găng chứ, Clarimond. Sẽ có rất nhiều người ở tầng lớp bình dân dính líu đến công việc đó. Đám tùy phái. Đám giao hàng.” Mũi quý cô Lovatt nở to. “Có thể cả đám diễn viên nữa.”
“Diễn viên!” Phu nhân Cove líu ríu.
“Có thể con bé sẽ bị bắt đánh máy phần lời thoại cho họ. Tôi đã thấy quảng cáo của Văn phòng Sao lưu và Đánh máy dành cho Phụ nữ nhận đánh máy lời thoại cho diễn viên và tài liệu cho luật sư.”
Cả ba người đều nhìn Leda bằng ánh mắt khiển trách. Nàng xấu hổ cụp mi xuống và nhấp một ngụm trà, không dám đưa ra lời biện hộ nào. Nàng muốn ăn thêm vài lát bánh mì và bơ nữa nhưng như thế thì hơi bất lịch sự.
“Chúng ta sẽ cân nhắc,” quý cô Lovatt nói - dĩ nhiên bà sẽ cân nhắc và hai phu nhân sẽ khiêm nhường lắng nghe bài diễn thuyết cùng kết luận của bà về vấn đề này. “Leda thân mến, chúng ta luôn muốn điều tốt nhất cho cháu. Quý cô Myrtle cũng mong chúng ta chăm lo cho tương lai của cháu. Thứ Sáu tuần sau cháu quay lại đây và lúc đó chúng ta sẽ đưa ra quyết định.”
Leda dành cả ngày còn lại trong phòng chờ ở Văn phòng Môi giới Việc làm của bà Gernsheim. Cuộc phỏng vấn của nàng với bà ta không mấy suôn sẻ từ lúc bà ta biết Leda sẽ không có giấy bảo lãnh từ người chủ trước. Nhân viên đánh máy, bà ta nói với Leda, bà mất vị trí nhiều người tìm kiếm nhất, thường được trao cho những người đã qua đào tạo và có kinh nghiệm. Thậm chí không có cả giấy báo lãnh… Bà Gernsheim gõ cây bút vào lọ mực với thái độ nghiêm trọng.
Leda đề cập đến những mối quan hệ của nàng phố South.
“Tôi chưa nghe nhắc tới Phu nhân Cove bao giờ,” bà Gernsheim lảng đi. “Gia đình này có được liệt kê trong danh sách họ tộc của Burke không?”
“Chắc chắn có,” Leda nói, hơi tự ái. “Họ có tước hiệu nam tước từ năm 1630. Và Phu nhân Cove là người mang họ Lovatt từ bên nhà ngoại.”
“Được rồi. Vậy cô là họ hàng?”
Leda nhìn xuống đôi găng tay của mình. “Không, thưa bà,” nàng lí nhí.
“Ô. Vậy mà tôi cứ tưởng cô có liên hệ gốc gác nào đó giúp ích cho phần xuất thân của mình chứ.”
“Không ạ,” Leda nói thêm, và im lặng.
“Tôi tin ‘Etoile’ cũng là một họ không mấy quen thuộc. Gia đình cô ở quận nào?”
“Họ mất lâu rồi, thưa bà.”
“Tôi rất tiếc,” bà Gernsheim nói bằng giọng nghiêm nghị. “Nhưng gốc gác của cô ra sao? Ở trường hợp của cô, ít kinh nghiệm và có điều tiếng trong quá khứ, những chủ thuê tương lai chắc chắn muốn biết rõ cô là ai. Gần đây có rất nhiều vấn đề phức tạp; cả những dạng người không mấy phù hợp. Theo đảng xã hội. Hầu gái giết chủ. Những giai cấp nguy hiểm. Hẳn là cô đã nghe đến Kate Webster.”
“Chưa, thưa bà,” Lena nói.
“Chưa à?” Bà Gernsheim nhướng hai hàng lông mày thưa lên, có vẻ thực sự ngạc nhiên. “Báo nào cũng đăng vụ đó. Ở Richmond. Vài năm trước. Cô hầu gái đã làm tất cả - cắt cổ bà góa tội nghiệp và nấu xác bằng cái chảo đồng của bà chủ. Rồi chuyện Phu nhân Riel - bị hầu gái bóp cổ ngay trong nhà mình ở Park Lane. Những vụ như vậy khiến các chủ thuê phải cẩn trọng hơn. Cô không phải người Ailen nhỉ, tôi mong vậy.”
“Tôi gốc Pháp, thưa bà,” Leda điềm tĩnh trả lời.
“Cô nói rõ thêm được không, cô Etoile? Gia đình cô đến Anh bao lâu rồi?”
Leda bắt đầu cảm thấy căn phòng trở nên ngột ngạt. “Tôi không rõ lắm, tôi e là thế.”
“Cô có vẻ thạo chuyện của nhà Lovatt hơn nhà mình nhỉ.”
“Mẹ tôi qua đời năm tôi lên ba. Quý cô Myrtle Balfour ở phố South đã nhận nuôi tôi từ lúc đó.”
“Còn ông Etoile? Cha cô?”
Leda ngồi lặng thinh, không biết trả lời thế nào.
“Cô có quan hệ họ hàng với quý cô Balfour không? Bà ấy không thể viết một giấy bảo lãnh sao?”
“Không, thưa bà,” Leda nói, và kinh hãi nhận ra giọng mình đang run rẩy. “Quý cô Balfour đã qua đời một năm trước.”
“Và cô thì không phải họ hàng của gia đình Balfour?”
“Không, thưa bà.”
“Cô được nhận nuôi?”
“Quý cô Balfour đem tôi về nhà.”
Bà Gernsheim đã mất kiên nhẫn. “Tôi không thể gọi đây là một lý lịch có triển vọng, cô Etoile ạ. Có lẽ tìm cho cô những công việc không đòi hỏi khắt khe về mặt năng lực sẽ tốt hơn nhiều. Cô đã tính đến các cửa tiệm chưa?”
Leda áp hai bàn tay đi găng đang xòe rộng vào nhau. “Tôi không muốn dính đến ngành buôn bán, thưa bà, nếu bà vui lòng.”
“Nào, nào, nó quá tốt mà. Cô không cho rằng dòng dõi của cô quá cao quý so với việc đó chứ?”
“Tôi muốn một công việc đứng đắn hơn việc ở trong các cửa tiệm, thưa bà,” Leda bướng bỉnh. “Tôi thực sự muốn làm nhân viên đánh máy.”
“Nếu vậy, cô phải nộp cho tôi một giấy bảo lãnh tốt từ người có địa vị cao hơn. Chí ít bà từ Phu nhân Cove.”
“Vâng, thưa bà.”
Bà Gernsheim ghi chú lại. “Theo tôi hiểu thì Etoile chính xác là họ của mẹ cô?”
“Vâng, thưa bà.” Giọng Leda đã chuyển thành tiếng thì thầm. “Bà ấy không kết hôn?”
Leda không biết nói gì ngoài việc lắc đầu. Bà Gernsheim ngước mắt lên khỏi tờ giấy, cau mày nhìn Leda rồi ghi lại. “Nơi ở hiện nay của cô?”
“Nhà bà Dawkins ở Jacob’s Island, thưa bà. Khu Bermondsey.”
“Jacob’s Island!” Bà ta gấp sổ và đặt bút xuống. “Cô đúng là một thử thách đấy, cô Etoile. Những cô gái biết điều hiếm khi muốn trèo cao. Khi cô quay lại đây với giấy bảo lãnh, chúng ta sẽ xem xét tiếp việc này. Thứ Hai tới có tiện cho cô không?”
“Tôi tin mình có thể đem giấy trở lại trước thời hạn đó,” Leda quả quyết. “Cô đem nó đến càng sớm càng tốt, cô Etoile, nhưng cũng phải tới thứ Hai tôi mới tổ chức phỏng vấn để tìm công việc phù hợp với hoàn cảnh của cô được. Vui lòng đóng cửa nhẹ nhàng giúp tôi. Cả ngày hôm nay tôi đã bị cơn đau đầu hành hạ rồi.”
Leda cũng lên cơn đau đầu. Nàng rời văn phòng với tâm trạng ảm đạm. Bằng cách nào đó, nàng sẽ phải đến nhà Phu nhân Cove trong lúc chị gái bà, quý cô Lovatt không có nhà rõ là một việc khó nhằn - rồi dỗ khéo để nữ nam tước rụt rè viết một tấm giấy bảo lãnh mà quý cô Lovatt đã ngụ ý rõ mà không được viết, kèm theo một câu nói ró Leda không có phong thái của kẻ sát nhân… loại chuyện sẽ làm khơi mào cho một cuộc tán gấu về nhưng người hầu độc ác, và cuối cùng sẽ khiến Phu nhân Cove phải run sợ khi nghĩ đến những mưu đồ tăm tối của tay quản gia - một người đàn ông lưng gù có giọng nói run rẩy đã làm việc trong nhà bà được ba mươi lăm năm.
Và phải chờ hơn một tuần để biết được mình có cơ hội hay không! Leda nhẩm tính số tiền của mình và mạnh dạn lê bước tiến về phía trước.
Nàng về đến khu nhà trọ thì trời đã nhá nhem tối. Viên thanh tra trực đêm vừa bước lên thềm đồn gác. Ông ta dừng lại khi thấy Leda đi tới từ phía sau và giữ cổng cho nàng. “Cô lại về sớm à! Tôi có nghe hôm qua cô ghé sớm.”
“Ông khỏe chứ, Thanh tra Ruby? Họ chuyển lời hỏi thăm của tôi đến ông chứ?”
“Có, thưa cô. Có chứ.” Cuộc trò chuyện này là một nghi thức giữa hai người. Leda hỏi thăm vợ và con ông ta, bữa tối có món gì, rồi đề nghị truyền cho ông ta công thức chế biến lưỡi bò của quý cô Myrtle.
“Rất cảm ơn, thưa cô. Mời cô lên đây và tôi sẽ ghi nó vào sổ, nếu cô không bận việc gì.”
Leda leo lên cầu thang và bước qua cánh cửa sắt đang được ông thanh tra giữ cho cô. Bên trong căn phòng kín bưng, bục của viên thanh tra nằm đơn độc giữa vùng ánh sáng đèn, như bục giảng kinh trong bóng tối tù mù. Một phụ nữ nằm sóng soài trên sàn trong xà lim đơn, như khối đen ngòm lẩm bẩm và rền rĩ một mình giữa bóng tối, trong khi viên cảnh sát bật dậy khỏi ghế bên ngoài và chào cấp trên.
Leda cảm thấy mình sẽ tỏ ra tò mò một cách bất nhã nếu quan sát quá kỹ người phụ nữ trong đó nên nàng ngồi xuống ghế băng, dựa lưng vào bức tường quét vôi trắng, đặt cuốn sổ của viên thanh tra vào lòng để viết. Bất chấp bầu không khí ngột ngạt, viên cảnh sát dự bị bắt đầu cời than bên dưới ấm đồng đặt trên vỉ lò sưởi, xin lỗi viên thanh tra vì chưa pha trà cho ông ta.
Viên thanh tra nhăn mặt. “Không sao hết, cậu đã đun tách trà đắng nhất tôi từng uống đấy, MacDonald.”
“Xin lỗi, thưa ngài,” MacDonald nói. Anh ta thẳng lưng, như thể không nghĩ ra được phải làm gì với đôi bàn tay to lớn, lốm đốm tàn nhang của mình. Anh ta liền móc chúng vào lớp vải của chiếc thắt lưng trắng khiến phần khóa sáng bóng bị bung ra, liếc sang Leda với vẻ hơi xấu hổ. “Tôi không biết phải làm thế nào. Ở nhà, vinh dự đó luôn thuộc về chị tôi.”
Nàng đặt cuốn sổ sang bên. “Để tôi pha trà cho ngài, ngài thanh tra. Chuyện này thì tôi rất thạo.”
“Sao lại không, cô thật tuyệt vời, thưa cô.” Thanh tra Ruby vuốt ria mép và mỉm cười. “Tôi rất biết ơn cô. Không có gì bằng bàn tay phụ nữ.”
Leda băng qua căn phòng tối, bận bịu với cái ấm và ngọn lửa. Qua khóe mắt, nàng thấy thân thể người phụ nữ trong xà lim lăn lộn, quằn quại trên sàn, như thể cố tìm một tư thế thoải mái hơn. Rồi cô ta bật ra một tiếng rên nhỏ. Khi cô ta nằm ngửa ra, hình dáng cái bụng phình tướng lên cho thấy cô ta rõ là đang… à… trong tình trạng chuẩn bị lâm bồn, như cách quý cô Myrtle sẽ gọi bằng giọng thì thầm sau bàn tay đang che miệng.
“Ôi, cô ơi,” Leda nói, nhỏm dậy từ bếp lò. “Cô vẫn ổn chứ?”
Người phụ nữ không trả lời. Cô ta đang thở nặng nhọc, ưỡn cong người. Sau lưng Leda, Thanh tra Ruby càu nhàu hỏi, “Mac? Chúng ta có gì ở đây vậy?”
“Book nói vì tội gây rối, thưa ngài,” Hạ sĩ MacDonald hắng giọng. “Họ bắt cô ta trong phiên gác chiều. Cô ta bị đuổi khỏi Oxslip trong khu Island. Rồi làm loạn lên. Cào vào mặt Sally Chảo Rán.”
Leda ngạc nhiên quay lại đúng lúc bắt gặp hai người đang trao đổi ánh mắt. “Oxslip?” nàng hỏi. “Trong phố của tôi? Đó là nơi nhận nuôi trẻ mồ côi.”
Thanh tra Ruby cau mày với nàng. Ông ta cắn môi trên, dùng răng kéo giãn bộ ria ra. Hạ sĩ MacDonald có vẻ lúng túng.
“Trại trẻ mồ côi,” Thanh tra Ruby thô lỗ nói. “Đúng vậy, thưa cô.”
Nàng nhìn người tù tự vuốt lưng và rên rỉ. Khi Leda nhìn kỹ hơn, có thể dễ dàng nhận ra người phụ nữ này chỉ là một cô gái da trắng vừa qua tuổi thiếu niên. “Có lẽ… Thanh tra Ruby… tôi tin là…” Leda lưỡng lự khi phải đưa ra ý kiến vì nàng chẳng biết gì về chuyện sinh nở, nhưng lúc này cô gái đang phát ra những âm thanh rất rõ ràng. “Có nên gọi bác sĩ không?”
“Bác sĩ sao, thưa cô?” Viên thanh tra chăm chú nhìn cô gái. “Ý cô không phải là… xin ơn trên cứu giúp… cô ta không sắp sửa…”
Hình người nằm trên sàn xà lim ngắt lời ông bằng một tiếng rên lớn, rồi đột ngột chuyển sang thì thầm một tràng những lời báng bổ.
“MacDonald,” viên thanh tra quát, “cho người đi tìm xem y tá còn làm việc không. Cô ta không đủ tiền trả cho bác sĩ đâu.”
“Vâng thưa ngài. Tôi sẽ lo liệu ngay lập tức.” MacDonald vội đứng nghiêm chào và biến mất bên ngoài cánh cửa với tốc độ chóng mặt.
“MacDonald!” viên thanh tra oang oang gọi với theo. “Tôi nói cho người đi, không phải cậu đi? Thế đấy, một gã ngốc nghếch đần độn; chết tiệt, cậu ta đã nghe tôi nói rõ như ban ngày rồi đấy. Cậu ta luôn sợ những chuyện của phụ nữ.” Thanh tra Ruby cười toe toét với nàng. “Cậu ta để ý cô đấy, thưa cô. Ngày nào cũng hỏi thăm. Không thể kiềm chế niềm vui vì cô đã nói chuyện với cậu ta chiều qua.” Ông ta cởi chiếc áo khoác có hàng khuy sáng màu và bắt đầu xắn tay áo. “Và cô nghĩ sao về cô gái tội nghiệp này? Chắc chúng ta phải vào trong xem tình hình cô ta ra sao.”
Leda lùi lại và dựa vào tường, hơi do dự khi ông ta mở cửa xà lim và ra hiệu cho nàng bước vào. “Tôi e mình không biết nhiều về chuyện này,” nàng thừa nhận. “Cô ấy có vẻ đang bị đau và tôi nghĩ nên đưa một người có chuyên môn đến thì tốt hơn.”
“Chúa phù hộ cho cô, chúng tôi không cho người có chuyên môn xuống đây, cô biết đấy. Không phải cho loại chuyện thế này. Có thể y tá sẽ đưa bà đỡ đến… mà cũng có thể không.” Ông ta bước vào xà lim và quỳ bên cạnh cô gái. “Nào, phải làm gì bây giờ, cô bé? Cô đau đẻ phải không? Đau bao lâu rồi?”
Leda không nghe thấy câu tra lời lúng búng của cô gái, nhưng viên thanh tra lắc đầu. “Cả ngày phải không? Đứa trẻ ngốc, sao cô không chịu nói?”
“Tôi không muốn,” cô gái thở hổn hển. “Tôi chưa muốn nó ra.”
“Chà, dù gì thì nó cũng đang ra rồi. Con đầu lòng à?”
Cô gái rên rỉ thay cho lời đồng ý.
“Sao cô lại đến Oxslip? Không phải cô hy vọng sẽ được nhận một chiếc giường ở đó chứ?”
“Bạn tôi… cô ấy hỏi thăm hộ tôi, nói tôi có thể hy vọng họ sẽ nhận đứa bé.” Cô gái nuốt khan và quay đầu sang bên. “Tôi sẽ trả tiền để họ nuôi nấng nó. Tôi thề.”
Viên thanh tra lắc đầu. “Cô gái ơi, cô phải bao bọc cho con mình chứ,” ông ra nói. “Đem nó cho đám trông trẻ chả khác nào giết nó, tin tôi đi. Cô là người giúp việc phải không?” Có anh chàng nào trong thành phố hả?”
“Tôi… không tìm thấy anh ta.”
“Thật tệ. Nhưng ở Oxslip người ta sẽ không muốn một đứa trẻ mồ côi đâu, cô hiểu ý tôi không? Bạn cô có lòng tốt nhưng giới thiệu cô đến đấy thì sai hoàn toàn rồi.”
Cô gái bắt đầu thở dốc. Khuôn mặt nhăn nhó.
Viên thanh tra cầm lấy tay cô ta. Leda tiến lại gần hơn, cắn môi. “Tôi có thể giúp gì?” nàng thì thầm.
Cả hai cùng quay lại khi nghe tiếng cửa kêu ken két. Leda tưởng sẽ thấy Hạ sĩ MacDonald, nhưng đó là một viên cảnh sát lạ mặt chạy ào qua cửa, má đỏ bừng và cổ áo thít lại do di chuyển quá nhanh. Thanh tra Ruby đứng phắt dậy.
“Đừng bỏ tôi,” cô gái khóc to. “Đau quá!”
Leda bước hẳn vào xà lim. “Tôi sẽ ở lại với cô ấy,” nàng nói, quỳ xuống trên mặt sàn cứng. Nàng cầm tay cô gái, vỗ nhẹ lên đó, mặc cho những ngón tay hoảng loạn bấu chặt lấy đôi tay mình.
“Cảm ơn cô.” Viên thanh tra ra ngoài trao đổi với người mới đến. “Chào ngài sĩ quan. Có chuyện gì không ổn sao?”
Người đàn ông bật ra tiếng cười gay gắt. “Không ổn! Ừ! Sao chúng ta không có một cái máy điện báo trong văn phòng này chứ, tôi hỏi ngài đấy? Cả đám phóng viên đang đeo dính lấy tôi và Sở Ngoại vụ đang kề dao vào cổ tôi, nếu ông gọi đó là không ổn! Đi theo tôi ngay, Ruby, và hãy tỏ ra năng nổ.”
“Quân dự bị của tôi…”
“MacDonald hả? Tôi vừa gặp cậu ta ngoài phố. Lệnh cho cậu ta đi trước rồi. Báo chí, thưa ông, báo chí! Nếu ông nghĩ tôi muốn bị bắt quả tang ngay trước mũi một đám phóng viên chết tiệt thì nghĩ lại đi.” Ông ta thậm chí còn không nhìn về phía Leda hay cô gái trong xà lim đấy một lần, tay vẫn đặt trên cánh cửa mở, còn Thanh tra Ruby vội vã lấy mũ và áo choàng. “Đó là một trò bịp bợm, tôi sẽ bị cản trở, nhưng gã này đã công bố từ Whitehall sang tờ Times và ngược lại, và phải ra vẻ như thể chúng ta kiểm soát được tình hình đấy nhé. Tôi dự tính chúng ta có khoảng mười lăm phút trước khi bọn nhà báo đến hiện trường.” Ông ta lau trán bằng khăn tay. “Có một vụ trộm xảy ra ở khách sạn Alexandra, đồ của một hoàng tử phương Đông khốn kiếp nào đó, Xiêm La, tôi nghĩ vậy, nhưng đó không phải việc của chúng ta - thứ chúng ta nhận được là một lời nhắn chết tiệt từ một gã chết tiệt đã cuỗm nó, nói rằng cái vương miện chết tiệt bằng đá quý không thể thay thế của xứ Xiêm La đã bị đánh cắp - cái vương miện sẽ được trình lên Nữ hoàng, tôi phải nhắc để ông rõ - tên trộm này còn dám cả gan nói rõ có thể tìm thấy nó tại Oxslip ở khu Jacob’s Island!”
“Oxslip!” Thanh tra Ruby thốt tên.
“Bất ngờ lớn đấy nhỉ! Ông chỉ mới nghe nửa câu chuyện thôi. Ông có biết tên điên này đã để lại cái chết tiệt gì thay thế cho vương miện ở khách sạn không? Một bức tượng tục tĩu từ một nhà chứa, Ruby! Một nhà chứa thực sự… và tôi không nói đến quán rượu Haymarket đầy gái đâu nhé. Ông có hình dung được không? Bên Sở Ngoại vụ lên cơn kích động; Bộ Ngoại giao thì phát điên rồi… điều đó xúc phạm nặng nề tới sự nhạy cảm chết tiệt của đám phương Đông… một rắc rối tầm quốc tế… điều đình thương mại… đám quan chức ngoại giao… tôi cho ông biết nhé, Ruby, tôi sẽ không giống như thằng khờ trước mặt lũ quan chức ngoại giao chết giẫm…”
Câu nói của ông ta mất hút khi cánh cửa đóng lại sau lưng họ. Leda hoang mang dõi theo họ đầy bối rối, rồi nhìn xuống cặp mắt sợ sệt của cô gái.
“Sẽ ổn cả thôi,” nàng nói, cố tỏ ra mạnh mẽ. “Bà đỡ đang đến.”
“Có chuyện gì đó đang xảy ra,” cô gái thốt lên, lắc đầu hoảng đoạn. “Tôi ướt nhẹp hết, tôi đang chảy máu!”
Leda nhìn xuống, đúng thật, một vùng sẫm màu loang dần bên váy cô gái. Một vũng to, chảy ra sàn nhà. “Không, không phải máu,” nàng nói. “Nó không có màu. Nước ối đấy.” Leda đã từng nghe thấy điều đó - vỡ ối, cho dù nó có ý nghĩa gì đi nữa. Nàng e là đứa bé chuẩn bị ra đời. “Hãy bình tĩnh. Bà đỡ đang trên đường đến đây.”
Cô gái hét lên, cả cơ thể căng ra, những ngón tay bấu vào lòng bàn tay Leda.
Leda vuốt trán cô gái. Da cô ta mềm và ẩm, màu sắc khỏe mạnh, không giống màu tái nhợt của đói nghèo đã bắt đầu trở thành quen thuộc với nàng. Ắt hẵn cô ta cũng đã được ăn uống đàng hoàng và có chỗ nương thân. Cơ thể cô ta có vẻ cứng rắn và gọn gàng, không mảnh dẻ lắm, nhưng đó là niềm an ủi nhỏ nhoi khi Leda cứ phải lắng nghe những âm thanh đáng sợ của cơn đau và sự cố gắng chịu đựng.
“Nó ra đấy,” cô gái thở hổn hển. “Ôi, không, nó sắp ra đấy!”
“Không sao đâu,” Leda nói, muốn xoa dịu nỗi sợ hãi của cô gái. “Mọi thứ đều ổn cả. Tên cô là gì?”
“Pammy… Hodgkins. Ôi, thưa cô… cô là bà đỡ?”
“Không. Nhưng tôi sẽ ở lại với cô.”
“Bà đỡ có tới không?”
“Có Hạ sĩ MacDonal đã đi tìm người giúp rồi.”
“Nhưng ông ta nói… người dàn ông kia nói… ông ta đã điều ngài hạ sĩ đi chỗ khác.”
“Bà đỡ đang tới mà,” Leda nói với vẻ chắc chắn, nhất định không tin vào bất cứ điều gì khác. “Hãy nghĩ đến việc ôm con trong vòng tay sẽ tuyệt vời biết bao.”
Cổ Pammy gồng lên. Cô ta nhấc đầu gối và lăn lộn. “Tôi đau, đau quá!” Cô ta hít sâu và thở mạnh ra. “Ôi, nếu túm được tên Jamie đó, tôi sẽ giết hắn. Tôi muốn chết!”
Cánh cửa mở ra. Leda nhìn lên và thì thầm, “Ơn trời.”
Hai phụ nữ lao tới chỗ họ. “Tôi bà Layton, y tá hộ sinh. Đây là bà Fullerton- Smith từ Hiệp hội Bảo vệ Sức khỏe Phụ nữ. Các cơn đau dồn dập đúng không?”
Câu hỏi đột ngột dành cho Leda bằng giọng lảnh lót. Nàng há miệng nhưng khép lại rất nhanh rồi nói với vẻ tuyệt vọng. “Tôi thật sự không biết. Nước ối đã chảy ra khá nhiều rồi.”
“Ra xem ấm đun nước đi,” bà y tá nói với Leda. “Bà Fullerton-Smith, bà vui lòng trải tấm khăn vệ sinh này lên sàn giúp tôi.”
Hai phụ nữ sắp xếp công việc một cách nhanh nhẹn và hiệu quả đã giúp Leda trút được gánh nặng. Bà y tá, hăng hái và hoạt bát, không đủ kiên nhẫn nghe Pammy rên rỉ, bắt đầu cương quyết bắt cô gái, “Rặn đi, và tập trung vào,” trong khi bà Fullerton-Smith nhét một cuốn sách mỏng vào tay Leda. “Xin cô vui lòng nghiên cứu thứ này. Tối thiểu trong bốn tuần cô ta không được quay lại làm việc. Chúng tôi xin cô hay động viên cô ta nuôi con bằng sữa mẹ. Hãy xem phần có tiêu đề Tác hại của bú sữa bình. Ngoài ra, phải kiêng những thứ có chất gây nghiện như rượu bổ Godfrey, trà lá anh túc hay thuốc giảm đau. Giữ vệ sinh là tối quan trọng - tất cả đồ ăn đều phải được đậy kỹ, sữa bò phải đun sôi, rửa tay sau mỗi lần đi vệ sinh, chất thải phải đem đổ ngay lập tức. Cô sống ở đâu?”
“Tôi sống ở nhà bà Dawkins, thưa bà, nhưng Pammy…”
“Chúng tôi sẽ thu xếp ghé qua thăm nom sau sinh. Cô ấy tên gì?”
“Pammy Hodgkins, nhưng…”
“Cứ để tôi ghi lại đã. Hiệp hội Bảo vệ Sức khỏe Phụ nữ ở đây để giúp đỡ và giáo dục.”
Pammy hét lên và bà Fullerton-Smith quay lại, bước vào xà lim. Leda ngồi xuống băng ghế bên ngoài, cuốn sách hướng dẫn Làm sao để chăm sóc em bé, Sức khỏe cô bà mẹ, Bệnh sởi, và Làm sao để nuôi dạy trẻ khỏe mạnh nắm chặt trong tay.
Chỉ mất vài tiếng đồng hồ, nhưng dường như một quãng thời gian vô tận đã trôi qua khi Pammy la hét, rên rỉ và thở gấp vì gắng sức. Ánh sáng đèn rọi xuống thành hình tròn trên bục trống còn căn xà lim nằm hẳn trong bóng tối, nơi vọng lại những tiếng thở nặng nhọc và những lời hướng dẫn dứt khoát. Pammy thét lên một tiếng chói tai rồi yên lặng. Trong một phút, sự tĩnh mịch dường như lớn lên và lớn mãi khi Leda căng mắt nhìn mấy bóng người kề sát bên nhau, rồi bất chợt bà y tá ngồi lên và nói, “Con trai” bằng giọng bình thản, bế trên tay một hình hài nhợt nhạt và đung đưa nó.
Âm thanh yếu ớt như tiếng kêu kéo dài của con chuột cống dội đến từ xà lim. “Cô vui lòng chiếu ánh sáng thẳng vào đây,” bà y tá đề nghị.
Leda nhảy dựng lên, thắp cây đèn dầu của cảnh sát, mở cửa và rọi vào xà lim. Bà y tá đang lau rửa một hình hài tí hon, mềm oặt rất đáng sợ, tạp dề trắng đầy máu. Pammy lẩm bẩm và lại cố rặn. Bà Fullerton-Smith nói, “Xong rồi đấy,” sau đó dọn tấm khăn bẩn và thay một tấm lót sạch bên dưới cô gái yếu ớt.
Tiếng ọ ẹ bắt đầu biến thành một tràng tiếng trẻ khóc, dội quanh bốn bức tường. Bên ngoài, tiếng đàn ông văng vẳng trên phố, và cánh cửa mở tung ra. Viên thanh tra giữ cửa cho viên giám sát bước vào, theo sau là Hạ sĩ MacDonaild đang cầm một vật kích cỡ ấm trà bọc trong chiếc khăn len họa tiết cánh hoa, rồi những người khác tràn vào; đột nhiên đồn cảnh sát chật ních đàn ông, tất cả đều bàn luận, hô to nhưng câu hỏi át tiếng trẻ con đang khóc. Leda bị dồn vào tường cho đến khi Hạ sĩ MacDonaild chen vào bên cạnh và đưa tay cho nàng, để nàng tì vào đó đứng lên trên ghế.
“Các vị!” Viên thanh tra rống to. “Vui lòng trật tự!”
Đám đông rơi vào yên lặng, chỉ còn lại tiếng khóc của đứa trẻ sơ sinh. Thanh tra Ruby không hề quan tâm đến nó, trao đổi nhanh với cấp trên rồi bước lên bục.
“Chúng tôi sẽ ra thông cáo,” giọng nói trầm bổng của ông ta át cả tiếng khóc. “Đúng tám giờ mười lăm phút tối, cảnh sát thuộc đơn vị này đã tiến vào ngôi nhà được biết đến với cái tên Oxslip ở Jacob’s Island. Chúng tôi đã thấy thứ chúng tôi đang tìm kiếm tại đó, một vương miện chế tác ở nước ngoài, được cho là xứ Xiêm La và bị trộm từ khách sạn Alexandra. Chiếc vương miện hiện không bị hư hại gì, đang được bảo vệ nghiêm ngặt và sẽ được trực tiếp trả lại cho phía sở hữu. Đến đây là hết, thưa các vị.”
“Có bắt giữ ai không? Ai đó cất tiếng hỏi.
“Ông Ellis Oxslip và một phụ nữ được biết đến dưới cái tên Sally Chảo Rán đã bị đưa đi thẩm vấn.”
“Ở đâu?”
“Tại trụ sở của Scotland Yard, thưa ông.”
Những tiếng rên rỉ đồng thanh vang lên. “Sao lại ở đó? Sao các ông không đưa họ đến đây?”
“Như các vị có thể thấy, tối nay trụ sở chúng tôi có một vụ rắc rối nho nho.”
“Tin nhắn!” Ai đó gào lên át tiếng càu nhàu và tiếng khóc. “Đọc cho chúng tôi nghe tin nhắn đi, ngài thanh tra! Tin nhắn đó nói gì?”
“Tôi không có quyền đọc bất cứ tin nhắn nào.”
“Có phải nó nói Oxslip là nơi đám trụy lạc thường lui tới?”
“Tôi không có quyền tiết lộ bất cứ thông tin nào về chuyện đó.”
Một người đàn ông khác chen lên trước. “Có thật là bức tượng đến từ Oxslip… bức tượng được để lại khách sạn í?”
Thanh tra Ruby liếc mắt về phía viên sĩ quan. Ông này khẽ gật đầu. “Chúng tôi tin như vậy.”
Tiếng ngòi bút chì sột soạt điên cuồng trên mặt giấy. “Vậy đó là nơi hành xác! Có đúng không, Thanh tra Ruby?”
“Tôi không có quyền…”
“Thôi đi, ngài thanh tra!” một người đàn ông ở phía sau, dừng ngay trước mặt Leda, cao giọng với vẻ ghê tởm. “Đây là địa bàn của ngài, phải không? Ngài có biết chuyện gì đang diễn ra không?”
“Còn đám bé trai chúng tôi đã thấy thì sao?” Ai đó hét to. “Ngài có bắt chúng như những kẻ bị tình nghi?”
“Những người vị thành niên cư trú trong ngôi nhà không bị tình nghi là kẻ trộm. Họ sẽ bị thẩm vấn vì có thể những gì họ biết có liên quan đến vụ việc.”
“Sau đó ngài sẽ làm gì với chúng? Đưa chúng về lại với Oxslip và Sal?”
Viên thanh tra nghiến chặt quai hàm. Ông ta cau mày dữ dội và không trả lời câu hỏi.
“Mục đích của tất cả việc đó là gì?” người đàn ông phía trước Leda gặng hỏi. “Tống tiền, hay một cố gắng để đóng cửa Oxslip? Phải chăng cảnh sát đã dàn xếp chuyện này?”
Thanh tra Ruby lưỡng lự rồi nói, “Tôi không thể đưa ra kết luận về ý kiến này.”
“Sẽ là một việc tốt nếu họ đã dàn dựng,” người đàn ông bình luận và nhận được một tràng tán thưởng trong khi đứa bé khóc toáng lên. “Nếu các ngài không thể bắt quả tang chúng tại trận thì hãy tìm và loại bỏ luôn cái ổ đó đi! Những đứa bé đó… thật nhơ nhuốc, lạy Chúa!”
Lúc này viên thanh tra dường như mới sực nhớ ra Leda. Ông nhìn thẳng vào nàng, rồi xua hai bàn tay gạt đi những câu hỏi tới tấp. “Thế thôi, các vị! Còn có các quý cô hiện diện ở đây. Các vị hãy đến Yard và hỏi những gì các vị muốn. Ở đây chúng tôi còn phải xử lý việc khác.”
“Vậy sao, hả!” một người đàn ông trẻ la lên, giơ ngón tay cái về phía xà lim nơi đứa bé vẫn đang khóc nhưng đã dịu hơn sau khi được bà y tá hộ sinh quấn trong tấm vải lanh. Nhưng viên thanh tra và Hạ sĩ MacDonald đã bắt đầu đẩy các phóng viên ra cửa. Một vài người bỏ đi, theo sau bà những người khác cố gắng bắt kịp, nhưng vẫn còn một số nán lại, cố gắng hỏi thêm vài câu.
Bà Fullerton-Smith bế đứa bé ra khỏi xà lim.
Vừa leo từ ghế băng xuống đất, Leda đã thấy cái bọc nhỏ được đẩy vào vòng tay mình. “Tấm vải được Ủy ban Phụ nữ tại công viên Marylebone tặng,” bà Fullerton-Smith cho nàng biết. “Cô cứ giữ nó, nhưng chúng tôi đề nghị cô khử trùng nó và trao lại cho người nào cần dùng khi nó không còn có ích cho em bé. Người mẹ ngủ yên rồi, cô thấy đấy. Một đến hai tiếng nữa, khi hồi sức, cô ấy có thể bế con. Bà Layton và tôi phải trở lại phòng khám vì còn nhiều bệnh nhân khác cần chăm sóc tối nay. Nếu thấy hiện tượng xuất huyết thì phải gọi chúng tôi đến ngay lập tức.”
Leda đang định sửa lại nhầm lẫn của bà Fullerton-Smith về việc nàng có quan hệ cá nhân với Pammy thì nghe thấy bà y tá thông tin cho Hạ sĩ MacDonald viết lại trong sổ hồ sơ. “Bà Dawkins ở Jacob’s Island,” bà ta nói về chỗ ở của Pammy.
“Ôi, không…” Leda cố gắng đi vòng qua bà Fullerton-Smith đang độc thoại về các hướng dẫn. “Hạ sĩ MacDonald, cô ấy không sống ở đấy!”
Tiếng phản đối của nàng chìm nghỉm giữa những câu hỏi dai dẳng của hai phóng viên, họ vẫn đang gạ gẫm xem liệu Hạ sĩ MacDonald có thể mở bọc vương miện hay không. Trong khi dó, bà Fullerton-Smith và bà y tá đã gói ghém đồ dạc. Bà y tá lột tạp dề dính máu qua đầu và nhét nó vào chỗ khác. Đứa bé bắt đầu khóc trở lại, Leda nhìn xuống đôi mắt nhắm nghiền và cái miệng há to.
“Yên nào, yên nào,” nàng thì thầm một cách vô ích, vỗ vỗ vào lưng của cái bọc. Đứa bé chỉ gồng mình và gào to hơn, làm cho khuôn mặt trở nên đáng sợ, trắng nhợt và đỏ bừng. Leda túm lấy cánh tay bà y tá phía sau bà Fullerton- Smith, nhưng cả hai đều đã rời đi trước khi nàng kịp thốt ra lời phản đối rõ ràng.
Thanh tra Ruby và sếp của ông ta bước ra, cản đám phóng viên lại. Trong lúc Hạ sĩ MacDonald bận đối phó với một nhà báo cực kỳ dai dẳng, người còn lại lẻn đến bên Leda, nơi món đồ bọc trong tấm khăn len được đặt trên ghế. Anh ta kéo mép tấm khăn, lật nó ra. Vương miện kiểu phương Đông bằng vàng và sứ tráng men nằm lộn ngược, đó là một chiếc mũ có chóp nhọn như một ngôi đền nhỏ, khảm kim cương dày đặc xung quanh một viên ruby cỡ đại gắn vào khung trắng.
Người phóng viên vội vã phác họa hình ảnh vào cuốn sổ cho đến khi Hạ sĩ MacDonald tức giận hét lên và đẩy anh ta ra chỗ khác. “Anh đang làm gì thế? Đi ngay; cút khỏi đây, cả hai!” Anh ta đẩy một người qua cửa, lôi người kia theo sau. Họ vừa đi vừa phản đối ầm ĩ. Leda có thể nghe thấy tiếng người nói oang oang ngoài phố khi họ cố gắng cầm chân Hạ sĩ MacDonald lại trên bậc thềm.
Không biết làm gì hơn, nàng vào xà lim và quỳ bên cạnh Pammy. “Cô thấy sao?” nàng hỏi. “Có muốn nhìn con không?”
Cô ta nhắm nghiền mắt như một đứa trẻ. “Tôi không muốn nó!” cô ta càu nhàu. “Hãy mang nó đi đâu cũng được.”
“Bà y tá nói một hai giờ nữa là cô có thể bế con được rồi.”
“Tôi không bế đâu.”
Leda nhìn xuống gương mặt rầu rĩ của cô ta. Pammy mở mắt và nhấc một bàn tay, đẩy cánh tay Leda một cách yếu ớt.
“Tôi không nhận nó đâu,” cô ta nói. “Tôi ghét nó. Đi đi!”
Leda đứng dậy và quay lại băng ghế. Tiếng khóc của trẻ sơ sinh cứ tiếp tục vang lên. Nàng ngồi xuống bên cạnh chiếc vương miện và nhìn vào khuôn mặt đứa bé. Nó thật sự xấu xí, cái miệng ướt nhẹp, da nhăn nheo và mẹ nó không muốn nó.
Leda ôm nhẹ cái bọc dễ ghét, điều này chỉ khiến nó khóc to hơn. Rồi nàng nhìn chăm chú vào chiếc vương miện bằng vàng và bắt đầu thổn thức một cách vô cớ.