Bóng Tối Và Ánh Sao

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 12 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 34

❊ ❊ ❊

Leda thức giấc trong tiếng sóng xô bờ, nghe thật rõ ràng trong buổi bình minh, khi cơn gió còn chưa kịp lay động những hàng cây. Bầu không khí ngọt ngào vô tận của Hawaii hôn lên làn da nàng, bên ngoài những cửa chớp để ngỏ, những cánh phượng đỏ rực nhẹ nhàng đu đưa trên nền lá xanh thẫm. Nàng thấy hạnh phúc và bỡ ngỡ, hơi sửng sốt, nhìn chằm chằm lên đình màn.

Phòng ngủ trống không, nhưng nàng nghe thấy tiếng người di chuyển trong phòng khách, cùng tiếng đồ sứ lanh canh. Không vấn tóc lên, cũng chẳng buồn tìm đôi dép đi trong nhà, nàng vén màn sang bên và ra cửa, vẫn mặc đồ ngủ.

“Chào buổi sáng?” nàng nói với vẻ nồng nhiệt, trước khi kịp nhận ra đó không phải Samuel.

“Aloha.” Giọng nói vui vẻ của Manalo đáp lại làng. Anh ta đứng dậy, một thân hình khổng lồ bình thản bên cạnh anh bồi Trung Hoa tóc thắt bím đang dọn bữa sáng. “Aloha! Bà dùng bữa đi, tôi đưa bà qua nhà. Haku-nui bảo bà đến.”

“Ồ. Ôi trời!” Leda nhận ra mình đang đứng trên ngưỡng cửa với đôi chân trần và chưa thay quần áo - dù kiểu váy thông thường của phụ nữ Hawaii cũng không khác nhiều với bộ đồ ngủ của nàng, chỉ nhiều màu hơn mà thôi. Nàng đóng cửa và nhón chân vào nhà tắm, bắt đầu rửa mặt, như thể hôm nay chỉ là một ngày bình thường.

Như thể, khi nhìn vào gương, nàng không ngăn nổi mình nở nụ cười, hai má ửng hồng vì nàng vừa rửa mặt và vì phấn khích. Như thể không phải là ngày sau cái đêm anh nói anh yêu nàng.

Anh yêu nàng. Anh đã nói thế, khá rõ ràng. Nàng chắc chắn mình không nghe nhầm.

Và rồi, ngay sau đó, cũng chắc chắn như vậy, anh nói muốn nàng rời đi.

Kiêu hãnh và cay đắng, tổn thương.

Nàng ngó sững hình ảnh phản chiếu của mình.

Quý cô Lovatt có lẽ đã đúng khi nhắc nhở nàng. Rõ ràng, hôn nhân là một việc mạo hiểm. Một kết hợp rắc rối, đau đớn và đầy niềm vui.

***

Để tìm ra kẻ địch, Samuel lần ngược theo dấu vết, khéo léo sử dụng đội ngũ do thám: anh không lo lắng hay sốt ruột thái quá, chỉ biểu lộ chút ít quan tâm đến những kẻ để ý đến mình. Đó chỉ là việc anh sẽ làm trong bất kỳ trường hợp nào. Trong cái thế giới nhập nhoạng ở khu phố Tàu, nếu anh coi như không có chuyện gì xảy ra, nhất định sẽ bị coi là kỳ quặc và ngu ngốc.

Chỉ vài ngày, dấu vết để lại đã đưa anh đến con tàu lớn neo ở một hòn đảo nhỏ rậm rạp tại khu cảng mở rộng trên sông Trân Châu. Nó không dẫn tới khu đồn điền, nơi anh có thể bị mất dấu giữa làn sóng công nhân mới, là một may mắn cho thấy những tên này không có mối liên hệ nào với những người Nhật đến làm công theo hợp đồng để nuôi sống gia đình ở quê hương. Chúng có mối quan hệ với một tầng lớp khác hẳn, những kẻ không cần và không muốn rời khỏi nước Nhật.

Sông Trân Châu hoàn toàn chìm trong yên tĩnh, im ắng, màu xanh ngọc và màu bạc trong ánh nắng rải khắp mặt sông êm đềm. Đi cùng Samuel là một ngư dân lai giữa hai dòng máu Hawaii và Bồ Đào Nha, rất đáng tin, có thể cho thuê chiếc thuyền nhỏ và không hé răng nửa lời, ngồi với đôi chân trần giơ cao, mũ sụp xuống che mắt, cứ dăm phút lại bật ra tiếng ngáy nhè nhẹ.

Ngoài ra, âm thanh duy nhất có thể nghe được là tiếng leng keng thi thoảng vang tên từ những hộp thiếc cũ treo trên cái lưới thưa trên ruộng lúa, do một cậu bé ngồi ở chòi canh giăng ra để dọa lũ quạ ăn cắp. Samuel giấu khuôn mặt khuất sau vành mú, lặng lẽ câu cá, hầu như không nhìn vào thuyền mà nhìn thẳng vào tình thế, các góc độ và những lối tiếp cận.

Đối thủ của anh cũng không ngụy trang cho tử tế - nhưng điều đó cũng chẳng cần thiết. Đây là vị trí thuận lợi, có thể nhìn bao quát mọi hướng, rất khó đột nhập, kể cả vào ban đêm. Có bốn người trên đó, anh biết còn ba người nữa trong phố, ngoài số đó ra, rất khó đoán họ có tổng cộng bao nhiêu người. Những người trên bờ đã lên trình diện một gã “Ikeno” trên tàu. Chuyện điều tra xem đây có phải tên thật của ông ta không hoàn toàn vô nghĩa. Người Nhật có xu hướng thay tên đổi họ với mức độ thường xuyên làm dân ngoại quốc phải thấy bối rối, tự đặt cho mình một nhân dạng khác vì bất cứ lý do gì, như nhận công việc mới hay đạt được mục tiêu cuộc đời.

Chắc chắn Ikeno đã chọn một cái tên mới cho thời điểm ông ta hợp nhất thanh Gokuakuma. Và ông ta, hay đám thượng cấp, đã có sẵn bùi nhùi trong tay để nhóm tên ngọn lửa ở Nhật Bản: đề xuất những sửa đổi trong hiệp ước nhượng thêm quyền hạn cho phía phương Tây khiến dân chúng phẫn nộ, trong khi chính quyền vẫn loay hoay tranh cãi về một ý tưởng hiến pháp xưa nay chưa từng có.

Một ván cược liều lĩnh, và con át chủ bài nằm trong thanh kiếm quỷ.

Những lối rời tàu lộ liễu đều đã được người của Ikeno che giấu; còn Dojun mà rời khỏi hòn đảo cùng lưỡi kiếm theo kế hoạch sẽ cần đến một lối thoát ngược - xuyên qua những dãy núi và đi thuyền của ngư dân tới một bờ biển hoang vu, rồi chuyển sang thuyền lớn hơn. Phức tạp và phải trông vào yếu tố may mắn.

Vấn đề của Dojun, anh nghĩ. Samuel không biết lưỡi kiếm được giấu ở đâu, Dojun sẽ mang nó đi khi nào và bằng cách nào. Anh chỉ cung cấp chỗ ẩn náu và các biện pháp bảo vệ, và một lối thoát kín đáo bên dưới nhà anh tới chân núi.

Nhà anh, nơi Leda đang hạnh phúc ra vào, sắp đặt mọi thứ, còn Dojun đóng vai người làm thuê.

Mọi thứ thật yên ắng. Như bị ngưng trệ. Nó có thể kéo dài một ngày. Hoặc một năm. Một lúc nào đó, bằng cách nào đó, Dojun sẽ hành động, chuyển lưỡi kiếm từ chỗ giấu vào Biển Dâng Trào - và chạy trốn.

Samuel nhìn chăm chú vào con tàu từ bên dưới vành mữ. Nỗi oán giận vẫn khuấy động trong anh, phá vỡ sự bền vững của zanshin. Anh không quan tâm đến sự an toàn của thanh kiếm, anh chỉ quan tâm rằng những kẻ săn đuổi có đủ lý do để tin anh cũng như Dojun biết lưỡi kiếm ở đâu: với họ, vụ trộm ở London cũng chỉ thể hiện cơn thèm khát sở hữu phần chuôi kiếm mà thôi.

Anh không nên làm việc đó. Hành động dẫn đến hậu quả không thể đoán trước, như con sao biển của Dojun. Hai hiểm họa phát sinh từ một mối nguy bị phân đôi. Đối thủ của họ sẽ tìm kiếm nhược điểm và khai thác nó. Dojun không có. Samuel thì có. Sự hiện diện của Leda. Mọi thứ anh làm để bảo vệ nàng sẽ chỉ làm rõ thêm tầm quan trọng của nàng với anh. Căn nhà không thực sự an toàn, khách sạn còn tệ hơn. Và nếu Dojun bí mật trốn đi cùng lưỡi kiếm, thì đâu sẽ là điểm dừng của toàn bộ sự việc? Những kẻ săn lùng liệu có biết chắc lưỡi kiếm đã biến mất? Liệu chúng có đủ chắc chắn để rời khỏi nơi này, để tin Samuel hoàn toàn chẳng biết gì, để xóa đi mối đe dọa đang làm ruột gan anh rối tung lên?

Những suy nghĩ kiểu Mỹ, Dojun sẽ nói vậy. Những nỗi sợ phương Tây. Cuộc đời cậu chẳng hơn gì một ảo ảnh. Khi chết đi, sẽ chẳng ai đi cùng cậu, cũng chẳng ai yêu câu. Cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào, nên mỗi ngày cậu phải sống như thể sẽ chết đi vào hôm sau.

Anh không muốn chết đêm nay. Anh đã có đủ ảo ảnh trong cuộc đời, nhưng Leda không phải một trong số đó.

Vì nàng, anh nung nấu một ý nghĩ tồi tệ hơn tất cả. Anh cho rằng nếu những kẻ săn lùng có lưỡi kiếm và chuôi kiếm, thì sự dính dáng của anh - và cả Leda - sẽ kết thúc.

Phản bội. Anh lật đi lật lại chuyện đó trong tâm trí. Và khi nghĩ đến nó, anh biết Dojun cũng sẽ nghĩ đến nó. Và anh biết vì sao Dojun không tin tưởng mà cho anh biết chỗ giấu phần lưỡi thanh kiếm Gokuakuma.

Mười bảy năm.

Người Nhật thường nói, Okage sama de - Con có được ngày hôm nay là nhờ công ơn sư phụ.

Con nợ sư phụ.

Dojun, anh nghĩ, nhắm mắt lại trong nỗi đau.

***

Không có sự trợ giúp của ông Dojun và Malano, công việc của Leda không thể nào trôi chảy đến vậy. Anh chàng đánh xe người Hawaii đưa nàng đi khắp nơi, vác ghế và những chậu cây, chở nàng đến các buổi tiệc trà và ăn trưa được mời hầu như hằng ngày. Sau một tuần, nàng thậm chí còn phải vừa dỗ dành vừa mắng mỏ để anh ta giữ cho cỗ xe độc mã đi nước kiệu.

Còn ông Dojun thì vô cùng giúp ích trong việc trang trí căn nhà. Leda chưa từng nghĩ đồ nội thất đơn giản cũng có sức lôi cuốn đến kinh ngạc, nhưng khi ngắm phòng làm việc và phòng ngủ, nàng thấy không gì đáng yêu và bắt mắt hơn kiểu dệt chéo mộc mạc của tấm thảm lauhala thay vì thảm dày, chiếc ghế đu với chỗ dựa bằng sợi mây hay những thớ gỗ đẹp đẽ trên chiếc tủ tansu không trang trí cầu kỳ - có cửa trượt ở phía trên và những ngăn kéo trơn nhẵn phía dưới, phát ra tiếng nhạc mỗi khi chúng được kéo ra - một cải tiến mà ông Dojun vô cùng tự hào.

“Tủ của vợ mới,” ông nói. “Ở Nhật, tất cả vợ mới đều mang tu về nhà chồng.

Bà thích không, bà Samua-san?”

“Ồ, có. Nó thật đẹp. Và khung giường thì quá tuyệt.”

Ông nghiêng người về phía trước và dùng ngón tay chai sần vẽ lên đầu giường, viền theo hình chạm nổi con chim mảnh mai đang giương cánh. “Lời chúc may mắn. Ở Nhật, chúng tôi gọi là Tsuru wa sennen. Hạc sống ngàn năm.”

“Đó là ý nghĩa của nó? Một biểu tượng cho phúc lành?”

“Phúc lành. Sống lâu. Tsuru wa sennen; kame wa mannen. Hạc sống ngàn năm, rùa vạn năm. Mùa cưới, ngày sinh, lễ hội - bạn bè làm cả ngàn con hạc giấy, treo lên, cầu hạnh phúc ngàn năm, ne?

Leda nhìn ông, cười khẽ. “Phong tục thú vị quá.” Nàng chạm vào trụ giường láng bóng được vuốt thon và thở dài. “Giá mà tôi biết phong tục này vào hồi Giáng sinh. Ý tưởng duy nhất tôi tìm ra trong sách cho ông Samua-san là một con cá khô.”

“Cá khô, hai. Hạc. Rùa. Bánh gạo. Tre cũng là biểu tượng may mắn. Tre uốn cong mà không gãy, nói lên sự chung thủy tận tâm. Tôi đã gắn tre vào tủ tansu làm các ngăn kéo phát ra tiếng nhạc.”

“Ông có nghĩ anh ấy hiểu những điều này không? Về hạc, tre và rùa? “Samua-san? Hai, có chứ.”

“Ông có nghĩ… nếu tôi treo vài con hạc giấy trong nhà, anh ấy sẽ thích chứ?”

“Chắc chắn thích. Có lẽ sẽ về nhà nhiều hơn, ne?”

Đây không phải lần đầu Leda nhận ra khả năng quan sát của ông Dojun cực kỳ nhạy bén. “Chà, anh ấy bận lắm, ông biết mà. Công việc kinh doanh đòi hỏi phải vô cùng tập trung.”

“À.” Ông Dojun cúi người, như thể nàng vừa đưa ra câu trả lời cho một vấn đề khúc mắc.

“Chuyện này cũng tốt thôi, tôi nghĩ vậy. Nếu anh ấy…” Nàng tựa má vào lớp gỗ mát lạnh của trụ giường. “Tôi muốn anh ấy hạnh phúc và thoải mái ở đây.”

“Tôi biết có người làm hạc giấy. Bà mua không?”

“Ồ, có. Có chứ. Tôi sẽ mua. Một ngàn con nhỉ?”

“Một ngàn, hai. Treo tất cả lên, bằng dây. Sao hả? Đẹp. Rùa, có thể vài con. Để tôi viết vài dòng nhắn Obasan làm.” Ông rút ra cuốn sổ nhỏ và cái bút chì từ một ngăn túi bí mật nào đó và viết những ký tự phương Đông lên tờ giấy. Rồi xé nó ra, gấp cẩn thận và đưa cho nàng. “Tốt.”

“Vâng, và có lẽ cần thêm vài chậu trồng tre ở trong nhà kính.”

Ông nhún gối đồng ý. “Manalo sẽ đưa bà Samua-san xuống phố, qua chỗ Obasan, bà ấy đọc thư, rồi mua giấy gấp hạc và các thứ. Chậu trồng tre, tôi vào nhà kính.”

“Cảm ơn ông.”

Bằng động tác khéo léo, ông cất cuốn sổ và ấn chuông gọi Manalo. Trong khi Leda nhét tờ giấy vào túi, ông nói, “Cho bà biết một bí mật, bà Samua-san. Tôi vui. Bà là vợ tốt của ngài ấy.” Ông cúi người với nàng. “Giường là quà - bà, ngài ấy. Tôi tặng.”

“Ồ,” Leda nói nhẹ nhàng. “Cảm ơn ông!” Nàng thấy hơi ngượng ngùng trước ánh mắt kỳ lạ của ông. “Tôi đang cố trở thành người vợ tốt. Nhưng có vẻ tôi còn chưa thông thạo lắm.”

“Có giường. Có tansu. Chỉ cần hanayome- taku nữa thôi.”

“Đó là cái gì?”

Ông vẽ hình tròn bằng hai bàn tay. “Một cái bàn nhỏ. Con trai làm, tặng mẹ. Samua-san đã làm hanayome- taku, ồ, lâu rồi. Lúc còn nhỏ. Tặng Phu nhân Ashland’. Vợ mới… bà nói thế nào nhỉ. Vợ mới?”

“Cô dâu.”

“À. Cô dâu đến nhà mẹ, mang hanayome- taku về nhà chồng. Hôn nhân hạnh phúc, sau khi mang nó về nhà.”

Leda hào hứng nghiêng đầu. “Ông Samua-san đã đàm một cái bàn… gì đó ư?”

“Hanayome- taku. Bàn cô dâu. Tôi giúp ngài ấy. Nó cũng được, ồ, có lẽ mười lăm năm rồi. Bà Samua-san tới nhà Phu nhân Ashlađ’, sẽ thấy nó.” Ông nhướng lông mày. “À! Bà xuống dưới kia, mang bàn cô dâu của Samua-san về nhà này, ne? Vậy là mọi thứ đều ổn. Để hôn nhân tốt đẹp. Samua-san sẽ về nhà, phải không.”

Nàng mỉm cười. “Tôi đảm bảo đó là ý kiến hay, nhưng…”

“Tốt! Để tôi vẽ.” Ông lại lôi cuốn sổ ra, phác thảo một hình trông như bản sao cỡ lớn của những ký tự Nhật Bản trong mẩu giấy ông đưa nàng. Nhưng khi nhìn kỹ, nàng có thể thấy nó giống như đế của chậu cây, có ba chân choãi ra, một mặt vuông bên trên, ngăn kéo tròn dưới gầm. “Bà tới nhà Ashland’, mang bàn về.”

“Tôi không nghĩ mình…”

“Suốt mười lăm năm, ở trong phòng ngủ Phu nhân Ashland’. Bà tìm trong phòng ngủ phu nhân, sẽ thấy hanayome- taku. Mang về đây.”

“Ông Dojun, tôi e mình không thể lấy đồ trong nhà người khác như vậy.”

“Không. Không. Nó thuộc về bà!” Ông dứt khoát chìa tay ra. “Cô dâu của Samua-san. Phu nhân Ashland’ không giữ cái bàn đâu, bà ấy hiểu mà.”

“Dù thế, tôi vẫn…”

“Samua-san, ngài ấy thích nhìn hanayome- taku. Ngài ấy thấy, biết bà tôn trọng nó, sẽ tôn trọng ngài ấy.”

Leda bặm môi.

Ông cúi người. “Ngài ấy thấy, ngài ấy chắc chắn hiểu. Không cần nói.”

Chỉ một cái bàn nhỏ mà đạt được thành quả như vậy là một kỳ tích. Nhưng Leda buồn bã nhìn quanh căn phòng mới sắp xếp, Samuel đã không hề bày tỏ mong muốn ngó ngàng đến nó trong vài bữa tối lặng lẽ với nàng, và nàng thấy mình sẵn sàng thử bất cứ điều gì. “Mong là ông có thể mang nó đến đây từ nhà Ashland. Tôi thấy mình cứ như một tên trộm.”

Ông Dojun phẩy tay trước mặt với thái độ từ chối. “Không ai làm được. Vợ mới phải mang về. Cô ấy không tự tay làm… thì không may mắn, không có hôn nhân tốt đẹp. Nó bé thôi. Không nặng, eh?”

Leda thở dài. “Chà, để tôi cân nhắc xem sao.”

Và đúng là nàng đã cân nhắc. Đêm đó, khi nằm trên cái giường hạc mới, lắng nghe tiếng sột soạt của những con hạc giấy màu đỏ tre trên những sợi dây dài rủ xuống từ những thanh tre trên trần, nàng đã cân nhắc. Đó là đêm đầu tiên nàng ở Biển Dâng Trào, mà chỉ có một mình.

Không hẳn một mình, chắc chắn vậy. Vài người làm vườn cùng sống ở đây, thỉnh thoảng, qua những cánh cửa chớp để ngỏ, nàng nghe thấy họ nói chuyện khẽ với nhau ở bên dưới sân, và ông Dojun ngủ trong phòng quản gia ở tầng dưới.

Nhưng Samuel không ở đây.

Ở khách sạn, chí ít anh cũng đến vào ban đêm, dù anh luôn thức rất lâu sau khi nàng đã ngủ và rời đi trước khi nàng thức giấc. Tối qua, anh đã không đến dù cho phép nàng - thông qua Manalo - dọn vào trong nhà.

Sáng hôm sau, nàng quyết định đến nhà Ashland mang cái bàn cô dâu về, hy vọng không bị bắt vì tội trộm cắp. Malano có vẻ không nghĩ nàng sẽ làm chuyện đó, cũng chẳng buồn nghe nhiều khi đánh xe đến, ngồi ủ rũ vì cô vợ đã bỏ anh ta đến ở cùng một gã từ Wahiawa tới.

Leda cố giấu sự sửng sốt vì chuyện này, nó được thú nhận rất tự nhiên và được thuật lại đến từng chi tiết. Nàng có hẹn ăn sáng trong vườn nhà Tướng Miller, suốt dọc đường, Manalo đã kể lại những tin tức buồn bã của cuộc chia tay và rầu rĩ xin nàng vài lời khuyên. Thực sự nàng thấy mình chẳng giúp được gì anh ta, và những lời nói của nàng có vẻ cũng không lọt vào tai người đàn ông tội nghiệp. Anh ta thậm chí còn chả buồn chạy với tốc độ điên cuồng như thường lệ, và nàng đến bữa sáng muộn mười lăm phút.

Vào lúc ra về, Manalo từ chỗ nói nhiều bỗng chuyển sang trạng thái câm lặng u ám kỳ lạ. Anh ta đội một vòng hoa râm bụt vàng với những quả mọng đỏ bé xíu chen giữa những chiếc lá thơm. Leda đeo vòng hoa cẩm chướng trắng mà bà Miller tặng nàng, nhưng bất chấp mùi hương hoa, nàng vẫn nhận ra mùi ngọt khác thường trên người Manalo.

Anh ta đã trở lại với tốc độ và sự liều lĩnh tồi tệ như bình thường. Leda đã vài lần phải bám chặt vào thành xe bắt anh ta đi chậm lại, và anh ta bị lạc đường tới nhà Ashland, đi vòng quanh một khu đất tới ba lần. Nhưng cuối cùng anh ta cũng cho ngựa rẽ vào một cánh cổng râm mát, nơi có tòa nhà hai tầng màu trắng dễ thương, vây quanh bởi hàng hiên như ở Biển Dâng Trào, sừng sững giữa bãi cỏ, những cái bóng xanh sẫm của thân cây lớn và hàng cọ cao điểm xuyết trên nền cỏ xanh tươi.

Hoa lan đổ xuống từ vô số những cây trồng trong nhà kính, rực rỡ sắc màu hoang dã: tím, trắng, hồng. Nơi này như mảnh đất thần tiên ma quái, đẹp đẽ nhưng hoàn toàn tĩnh lặng, vẫn được chăm chút như thể cả gia đình sẽ bước ra thảm cỏ vào bất cứ lúc nào. Manalo không nhảy xuống giúp nàng ra khỏi xe mà vẫn ngồi đó trầm tư. Leda nhìn bộ mặt đưa đám của anh ta, rồi túm váy, tự bước xuống xe.

Ông Dojun và Manalo đều nói ngôi nhà không bị khóa. Ở nơi này, có vẻ như chẳng ai khóa bất cứ thứ gì. Nhưng, Leda cũng không phản đối khi có Manalo đi cùng vào căn nhà tối lờ mờ.

Đồ đạc đều được phủ khăn trắng, sàn nhà không trải thảm. Nàng nhón chân đi qua đại sảnh rộng mênh mông và lên cầu thang, tìm thấy phòng ngủ của Ngài Ashland và phu nhân nhờ cái hộp ốp kính tiểu thư Kai tặng mẹ và đã tả cho nàng nghe.

Bên cạnh giường, nàng thận trọng nhấc tấm phủ khỏi cái giá cao và hẹp. Ngay lúc nhìn thấy cái bàn bên dưới, nàng đã biết đó là chiếc hanayome-taku của Samuel. Đường cong mộc mạc ở phía ngoài chân bàn không hề mang phong cách Anh quốc, nó hoàn toàn mang nét shibui, theo lời Dojun, tao nhã một cách giản dị, kiểu Nhật Bản thể hiện trong sự đơn giản, màu gỗ ấn tượng từ đen tới vàng đỏ, như thể một nghệ sĩ tài hoa đã dùng mực màu tô lên đó.

Một bộ sưu tập đồ kỷ niệm nho nhỏ nằm trên mặt bàn láng bóng: hòn đá nâu thô kệch trong cái bát đen, quả bí gỗ, một chiếc hộp có hương thơm ngọt ngào mà nàng nhận ra đó là gỗ đàn hương. Khi nhìn chúng, nàng có cảm giác rất chắc chắn mình không nên mang cái bàn đi, và đó là hành động rất láo xược.

Nhưng nàng vẫn cẩn thận đặt những thứ bên dưới tấm vải lên bàn trang điểm, hy vọng ông Dojun nói đúng và Phu nhân Tess sẽ hiểu cho mình. Nàng gập tấm vải lại và để lên giường. Cái bàn nặng hơn Leda nghĩ, hình dáng lại bất thường, cao đến eo nàng, có xu hướng nghiêng sang một góc khá bất tiện khi nhấc nó lên.

Hết sức chú tâm, nàng mang nó xuống nhà. Phải rất nỗ lực nàng mới đi qua được cửa chính, trong khi Manalo chỉ ngồi đó, có vẻ như đã ngủ gật trên xe. Anh ta không buồn đáp lại tiếng gọi nhỏ của nàng, và nàng cũng không dám nói to vì sợ đánh động hàng xóm. Nàng đành khó nhọc vác cái bàn ra xe nhưng không dám cố đưa vào trong vì sợ nó sẽ bị xước.

“Manalo!” nàng khẽ kêu tên anh ta. “Thức dậy đi và cố quên rắc rối của anh trong một lát nào!”

Anh ta quay đầu và uể oải nhìn nàng. Mãi anh ta cũng đứng dậy, quàng dây cương quanh trụ xe dù con ngựa tội nghiệp trông chẳng có chút hứng khởi nào với việc lên đường, rồi thong thả vòng sang chỗ nàng.

“Nhấc nó lên giùm tôi, làm ơn, sau khi tôi…”

Trước khi nàng kịp nói xong, anh ta đã nhấc cái bàn khỏi tay nàng và đứng lắc lư với tư thế rất quái đản. Cùng lúc nàng nhận ra cái mùi kỳ lạ trên người anh ta không phải hương hoa mà là mùi rượu mạnh, con ngựa quyết định đến sát bãi cỏ hơn. Một cái chân bàn thò ra quệt vào bản lề xe. Manalo ngã chúi về phía trước.

Leda hốt hoảng la lên khi cái bàn bật khỏi tay anh ta và văng vào con đường cát gạch, vang lên một tiếng rắc ghê rợn.

“Ôi, xem kìa! Sao anh có thể?” Nàng đẩy mạnh vào ngực Manalo. Anh ta lùi ra sau, ngồi bệt xuống đám cỏ với tiếng ậm ừ, nhưng Leda cũng chẳng có thời gian nhìn xem anh ta có bị làm sao không - nàng còn mải ngó sững cái chân bàn đã bị gãy, lủng lẳng bên dưới mặt bàn. “Ồ, không!” nàng thì thầm. “Ồ, trời đất ơi, ồ, không!”

Nàng rón rén quỳ xuống và xoay nhẹ cái bàn. Một thanh kim loại mỏng khắc ký tự phương Đông thò ra từ cuối cái chân bàn, như một dạng khớp nối. Khi nghiêng nó nhiều hơn, cả cái chân bàn rơi vào tay nàng. Nàng khẽ rên rỉ trong lúc giơ nó lên.

Với một tiếng xoẹt kỳ lạ, thanh kim loại bắt đầu trượt ra. Nàng hít một hơi và cố gắn chân bàn vào nhưng không thể, do thanh kim loại quá nặng. Leda nhảy lùi, tránh cho bàn chân khỏi bị đâm bởi một miếng thép cong, sáng quắc, dài gần một mét, mũi nhọn hoắt, bắt ánh nắng xuyên qua tán lá và hắt lên không trung một tia sáng nhiều màu khi rơi xuống.

Trong khoảnh khắc, nàng nghĩ: cái chốt này thật lạ đối với một cái bàn. Nhưng ý nghĩ đó chưa kịp hằn vào tâm trí thì nàng cũng đã biết nó không phải cái chốt, cũng chẳng phải cái mộng. Nó chẳng liên quan gì đến đồ nội thất. Nàng đang nhìn chằm chằm vào một lưỡi kiếm, đẹp đẽ và sắc bén, với hình con quái thú khó ưa được chạm khắc theo suốt chiều dài của nó.

“Ôi lạy Chúa, hãy nhìn kìa!” nàng thốt lên rồi lấy tay bịt miệng vì chính câu nói của mình. Nàng ngoái lại nhìn Manalo. Anh ta vẫn nằm yên trên cỏ. Thốt lên một tiếng nữa, nàng quỳ xuống nhưng anh ta chỉ hé mắt ra và nhắm lại luôn, bắt đầu ngáy, hơi thở nồng nặc thứ mùi như brandy anh đào. Nàng thả cánh tay mềm oặt của anh ta lên ngực. “Pilikia!” nàng nói với vẻ chán ghét. “Giờ mình biết làm gì đây?”

Nàng quay lại với cái bàn, thận trọng nhấc lưỡi kiếm lên, cầm vào cái đầu vuông không có lưỡi sắc. Nàng thử đẩy nó vào trong chân bàn và thả cả hai xuống kèm theo tiếng thở dốc, ấn chặt những ngón tay để cầm máu, mắt ngấn lệ. Để cái chân bàn nằm hẳn xuống, nàng đẩy lưỡi kiếm về phía đó, hướng phần mũi nhọn vào lỗ hổng ở phía dưới cùng. Khi nhét được lưỡi kiếm vào chỗ cũ, nàng thử gắn lại cái chân vào bàn, hy vọng sẽ có cách sửa tại chỗ gãy.

Một lưỡi kiếm thì có liên quan gì đến cái bàn của Samuel, thật vô nghĩa khi xem xét chuyện đó. Rõ ràng có thứ gì đó liên quan đến truyền thống Nhật Bản. Dường như mọi bàn cô dâu đều phải có, và một cô dâu lỡ tay làm gãy chân bàn đúng là xui tận mạng, lại còn để lộ thanh kiếm, điều đó hẳn đồng nghĩa với một thảm họa không thể hình dung nổi trong tương lai.

Tai họa hiện tại cũng đủ tồi tệ rồi. Biết ăn nói thế nào với Samuel đây. Hay với ông Dojun. Hay với Phu nhân Tess.

Nàng không nhận ra mình đang tự lẩm bẩm, cố gắn chân bàn vào chỗ cũ cho tới khi có ai đó cất tiếng trả lời. Rồi nàng nhảy dựng lên, nhìn nụ cười không răng dưới vành mũ rơm của một người đàn ông phương Đông chân trần, không biết từ đâu xuất hiện, đòn gánh trên vai trĩu xuống với hai sọt hoa quả lớn.

“Cần giúp đỡ không cô ơi?” ông ta hỏi với vẻ ân cần. “Làm gãy bàn à?”

“Anh ta làm đó,” nàng dằn dỗi nói. “Nhưng là lỗi của tôi. Nhẽ ra tôi không nên đụng vào nó. Ồ, giờ tôi phải làm gì đây? Tôi thậm chí còn không dám để nó bị xước, mà giờ còn khiến nó hỏng đến mức không sửa nổi.”

“Muốn sửa không, cô ơi? Ta có đứa cháu biết sửa. Sửa được hết, không ai biết đã bị gãy.”

Leda ngước lên, hy vọng trào dâng, rồi lại cúi xuống cái bàn. “Tôi không biết phải sửa thế nào đây.”

“Sửa được! Được chứ! Cháu tôi, Ikeno, làm tủ giỏi nhất đảo. Bàn này đặc biệt, đúng không? Không phải ai cũng biết sửa đâu. Cháu tôi biết.”

“Thật không?”

“Bàn kiếm đặc biệt. Của Nhật, phải không? Duy nhất cháu tôi sửa được. Nó sống ngoài kia, Ewa, Aiea, gần đồn điền.”

“Ngoài kia? Leda cảm thấy vừa ngờ vực vừa tuyệt vọng. “Khoảng bao xa?”

“Đi xe ngựa, khoảng một giờ.”

“Không có chỗ nào gần hơn sao? Trong thành phố? Chắc chắn những tiệm mộc tốt hơn phải ở quanh đây chứ?”

“Hừ. Quá nhiều haole, dân Trung Hoa. Không biết gì về bàn kiếm Nhật.

Cháu tôi từ Nhật sang đây năm ngoái.”

“Ông nghĩ anh ta có thể sửa luôn tại chỗ không? Ngay tức khắc, để tôi có thể chờ và mang về nhà.”

“Có, có! Tôi đưa cô đi, nó sửa. Bảng hiệu cũng ghi “Sửa lấy ngay” mà. Cô chỉ cần ngồi chờ thôi.”

Leda quay sang Manalo. Nàng cúi xuống và lay vai anh ta. “Nào, dậy thôi!

Tỉnh tại đi! Chúng ta phải đi?”

Anh ta mở mắt và lầm bầm. Mất rất nhiều công dỗ dành nàng mới dựng được anh ta ngồi lên. Manalo mệt mỏi nhìn nàng rồi lại nhìn sang người bán trái cây.

“Chúng ta phải đi ngay, Manalo. Tôi rất tiếc vì anh không được khỏe, nhưng ông ấy sẽ giúp sửa cái bàn và tôi muốn sửa cho xong. Đi nào. Đi nào!” Lời yêu cầu cuối cùng bật ra khi anh ta lắc đầu và đẩy nàng ra, rồi lại nằm vật xuống bãi cỏ. Một cái chai bẹt màu nâu tuột ra từ túi áo. Nàng đứng dậy, giậm chân, tuyệt vọng quay sang người bán hàng. “Ông có biết đánh xe không? Ông có đưa tôi đến đó rồi đưa về được không? Tôi sẽ trả tiền cho ông.”

“Không cần trả, không cần trả! Tôi đánh xe.” Ông ta nhấc hai sọt hoa quả lên phía sau cỗ xe và đến chỗ con ngựa đang nhai cỏ bên vệ đường. “Cô đi với tôi. Không khóc, thưa cô. Chúng ta sẽ sửa cái bàn. Không khóc, không khóc!”

***

Năm ngày thu xếp cẩn thận, không quá háo hức mà chỉ biểu lộ chút sốt ruột trong những liên lạc thận trọng anh thực hiện với người của Ikeno, và Samuel đã lên con tàu ở cảng Trân Châu. Anh ở đó trong vai một kẻ phản bội - làm gyaku fukuro của Dojun, một phe đối lập.

Fukutogaeshi no jutsu - nằm vùng, tỏ ra đã hoàn toàn thay đổi phe phái, một cách thức đem lại hiệu quả ngang bằng với mối nguy hiểm của nó. Và sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu cái lý lịch tiện lợi của Samuel: đã từng là một tên trộm ở London. Anh không thể nhận ra sự ngờ vực của Ikeno khi ông ta ngồi khoanh chân trên sàn tàu, gắp cơm trong bát bằng đôi hashi mỏng nhiều màu, những cử động khéo léo và tao nhã như một thiếu nữ, nhưng ẩn chứa sức mạnh và cả tính đa nghi.

Nhưng Samuel cũng có thể dùng đũa một cách tinh tế như vậy. Với đôi chân trần, anh quỳ trong bộ đồ Tây phương và ăn một chút, nhanh, đủ để đáp ứng phép xã giao và tính toán cùng lúc với sự tự chủ của mình. Ăn, cũng như ngủ, là một khoái lạc để thưởng thức những khi nhàn rỗi. Đây không phải lúc nhàn rỗi, anh mong Ikeno nhận ra anh hiểu điều đó.

Trên thực tế, anh muốn Ikeno bị cản trở giữa những thứ ông ta biết và không biết. Ông ta nói thứ tiếng Anh vụng về được dạy ở trường, nhấn trọng âm một cách khó khăn; Samuel cố ý gọi Ikeno là bề trên, từ chối không dùng tiếng Anh, kiên trì trả lời theo cách thức khiêm tốn bằng tiếng Nhật với bất kỳ câu hỏi tiếng Anh nào. Anh biết mình ở bên ngoài mọi trải nghiệm: một con voi được dạy nhảy điệu valse, không được trông đợi gì hơn kiểu cách phương Tây và sự vụng về, nhưng rõ ràng bọn họ nhận thấy nó được huấn luyện bài bản, cũng như anh nhận thấy điều tương tự ở bọn họ.

Anh sẽ mắc sai lầm, anh biết vậy. Dojun cũng thường xuyên quở trách anh vì vượt qua lằn ranh mơ hồ của cách hành xử đúng mực, vì khiến bản thân hổ thẹn với sự ngu dốt Tây phương. Nhưng những sai lầm của anh, có lẽ sẽ khiến ông ta tin tưởng hơn là làm đúng hoàn toàn. Một con chó được huấn luyện hoàn hảo để nói được rành mạch sẽ dấy lên nghi ngờ, một con chó kém cỏi nhưng hăng hái có thể sẽ tranh thủ được sự thông cảm của người xem.

“Người muốn trung thành với ta, hừm?” Ikeno có nét mặt ôn hòa, cặp mắt ôn hòa, lông mi như của phụ nữ, nhưng cái mũi khoằm quý phái và cặp ông mày xếch lại cho thấy sự tàn bạo như trong những bức tranh Nhật Bản vẽ các chiến binh cổ xưa. Trông ông ta khá trẻ, không nhiều tuổi hơn Samuel là bao theo cách đánh giá của dân haole. Nghĩa là khoảng trên bốn mươi một chút. “Ta không hiểu ý ngươi.”

Cuối cùng ông ta cũng phải nói tiếng Nhật, nhưng giọng có vẻ thô lỗ. Samuel cúi người thấp hơn, lờ điều đó đi. “Cùng sự sợ hãi và tôn kính, kẻ hèn mọn này cầu xin Ikeno-sama rủ lòng ban cho một chút sự chú ý của ngài. Tại hạ không có thứ ngài cần để dâng tặng, việc kinh doanh nghèo nàn với vài con thuyền mục, nhưng có thể ngài sẽ hạ cố sử dụng những gì tại hạ học được dưới sự chỉ dạy của Tanabe Dojun Harutake.”

“Và ta có thể lấy đầu ngươi, nếu Tanabe cử ngươi tới đây.”

Samuel lại cúi người, rồi ngẩng đầu và nhìn thẳng vào mắt Ikeno. “Xin thứ lỗi cho sự láo xược này, nhưng tại hạ không được cử đến. Tại hạ không còn nợ nần gì Tanabe Dojun giri nữa.”

“Không à? Đó không phải chuyện ta đã nghe về ngươi. Mà ta nghe được ngươi đến thăm nhà hắn, uống sake với hắn. Ta nghe được hắn như một người cha với ngươi. Thậm chí đến giờ hắn vẫn sống ở nhà mới của ngươi, và đóng vai người hầu cho vợ ngươi.

“Với lòng kính trọng, ông ta không phải cha tại hạ. Tại hạ không có chung tên họ hay dòng máu với ông ta.” Samuel giơ ngón cái chỉ về tóc mình, một cử chỉ giễu cợt bản thân. “Cũng như Ikeno-sama tôn kính có thể tự mình thấy được.”

Ikeno khẽ mỉm cười. “Thế mà hắn vẫn dạy dỗ ngươi. Hắn đã bảo ngươi, có lẽ vậy, về một thủ pháp gọi là fukurogaeshi và cử ngươi đến đây để lường gạt bọn ta. Hắn không hề chiếu cố gì đến ngươi. Khi ta gửi đầu ngươi về cho hắn, ta sẽ lật mặt. Có thể khi đó hắn sẽ nhận ra chúng ta không phải đám baka.”

Samuel hạ ánh nhìn. “Ông ta có nói với tại hạ về thuật fukurogaeshi no jutsu này. Ông ta không bảo tại hạ phải thực hiện nó ở đây. Ông ta cũng chẳng yêu cầu gì thêm ở tại hạ, ngoài một nơi trú ẩn là căn nhà tồi tàn của tại hạ. Có lẽ…” anh cố thể hiện sự chua chát trong giọng nói, “… ông ta không nghĩ tại hạ đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ.”

Ikeno không nói gì. Samuel cảm giác một trong những người đứng sau tiến lại gần phía anh.

“Xin rộng lượng cho phép người của ngài vung kiếm,” Samuel nói khẽ, “nếu yêu cầu hỗ trợ xấc láo của tại hạ khiến ngài không hài lòng.”

“Ngươi đã sẵn sàng chết chưa?”

“Nếu Ikeno-sama đáng kính không nghĩ tại hạ xứng đáng phục vụ cho ngài, vậy thì tại hạ đã sẵn sàng.”

“Nói dối. Xứng đáng?” ông ta càu nhàu. “Ta nghĩ Tanabe cử ngươi đến đây để lừa ta!”

Ikeno hất đầu với tên cầm kiếm. Trong tiếng lưỡi kiếm rít lên sắc cạnh, cơ thể của Samuel nhận ra ý đồ của nó, anh nghe thấy tên đao phủ thở ra cùng động tác vung lên, thanh kiếm sáng loáng ngay khóe mắt anh, tia sáng bổ dọc xuống mặt phẳng nằm ngang.

Anh không hề nhúc nhích.

Mọi cơ bắp và tế bào trong anh đều biết - cũng như biết hít thở - sự khác biệt giữa nhát chém lấy mạng và nhát chém sẽ dừng lại đúng lúc. Anh quỳ, thả lỏng khi lưỡi kiếm sạt qua, cắt vào cổ áo, cái nhói đau bất chợt của vết cắt nhẹ và mùi máu cho thấy cú chém đã gần chạm tới mức hoàn hảo.

Không có biểu hiện gì trên mặt Ikeno. Hơi quá lãnh đạm. Khoảnh khắc im lặng kéo dài có thể xem như một sự thờ ơ, nhưng Samuel nghĩ đó là sự ngạc nhiên. “Xin được gửi lời cảm tạ tôn kính vì đã giữ lại cái mạng vô dụng của tại hạ.”

“Ngươi muốn phản bội sư phụ.” Giọng nói của Ikeno là một cú đánh bất chợt. “Ngay cả một con chó cũng không phản lại chủ.”

Quai hàm Samuel nghiến lại. “Tại hạ đã giữ sự trung thành bấy lâu.” Với tư thế cứng nhắc, anh tỏ vẻ muốn nói, rồi dừng lại. Bằng giọng trầm nhưng chất chứa nhiều cảm xúc, anh tiếp tục. “Tanabe Dojun đã tìm mọi cách thử tại hạ. Tại hạ chưa hề làm ông ta thất vọng.”

“Ngươi đang ở đây.”

“Ông ta biến tại hạ thành trò hề. Ông ta khinh thường năng lực của tại hạ.”

Tiếng vang từ câu nói của Samuel tắt hẳn trong cabin yên ắng. Có cơn giận ẩn sâu dưới vẻ điềm tĩnh trong anh, anh cho phép mình cảm nhận nó, để Ikeno thấy điều đó trong tâm trí anh. Giri - bổn phận đạo đức. Một người đàn ông nợ bổn phận bằng máu với sư phụ, nhưng anh ta nợ một giri vô cùng mạnh mẽ với tên tuổi của mình. Trong hàng trăm truyền thuyết cổ xưa của Nhật Bản, những chiến binh anh hùng nhẽ ra phải thực hiện nghi thức seppuku - rạch bụng tự sát theo lệnh của bề trên - đã quay lại và dùng cả cuộc đời để báo thù một lãnh chúa vì một sự xúc phạm còn nhẹ nhàng hơn miệt thị hay chế nhạo. Đó là cách hành xử đúng đắn. Đó là điều Ikeno sẽ hiểu.

“Cơ thể tại hạ vẫn cúi mình trước Tanabe Dojun Harutake,” Samuel nói. “Nhưng trong tim, tại hạ đã không còn sư phụ. Tại hạ đến với Ikeno-sama đáng kính với mong mỏi được góp chút sức mọn vào nhiệm vụ đáng ca tụng của ngài. Tại hạ đã đánh cắp phần chuôi thanh Gokuakuma ở London, nhưng chưa thể tiếp cận lưỡi kiếm.” Anh bật ra tiếng cười ngắn, giễu cợt. “Ikeno-sama đáng kính không cần đột nhập vào phòng làm việc của tại hạ - tại hạ luôn sẵn sàng dâng tặng phần chuôi kiếm nếu biết ngài muốn nó. Đây là giri tại hạ nợ tên tuổi của mình.”

“Gari này ở dạng nào?”

Samuel không trả lời ngay. Anh nhìn từng tên trong ba tên đứng trong cabin. Ikeno không có ý bảo chúng rời khỏi. Samuel nói chậm rãi bằng tiếng Anh. “Dojun-San huấn luyện tại hạ vì thanh Gokuakuma. Tại hạ đã yêu quý ông ta. Tôn trọng ông ta. Tại hạ không thất bại ở bất kỳ thử thách nào. Chưa hề! Và ông ta ném tại hạ sang bên, chỉ vì…” miệng anh cong lên khinh miệt. “… chỉ vì tại hạ là bản thân mình. Không phải một Nihonjin. Da trắng. Tại hạ không được biết sự thật. Ông ta đã dùng một thằng nhóc - thằng nhóc mười bốn tuổi thay thế tại hạ, khi việc nhập cư được cho phép trở lại.” Từ tốn, anh quay đầu sang bên và nhổ xuống sàn. “Tại hạ không thể chấp nhận được mối nhục ông ta ban cho mình.”

Một trong ba tên gầm gừ, nhưng Ikeno khẽ phẩy tay như muốn trấn an. Bằng tiếng Nhật, ông ta nói, “Ngươi khẳng định có một vết nhơ trên danh dự của ngươi? Ta cứ nghĩ với một kẻ man rợ thì chẳng có thứ gì quan trọng hơn tiền bạc.”

Samuel đứng dậy. Tên cầm kiếm phía sau anh đâm ra tay. Trong một cú đánh về phía sau kết hợp với động tác phòng thủ, Samuel đã khóa chặt hắn cùng thanh kiếm. Họ đứng ở đó, Samuel cố ý không di chuyển, chỉ giữ tên cầm kiếm để nếu hắn chuyển động theo bất kỳ hướng nào cũng sẽ bị lưỡi kiếm cứa vào người.

“Ikeno-sama đáng kính,” Samuel chợt buông gã kia ra, đẩy hắn lùi lại, rồi quay tại và cúi gập người. “Xin thứ lỗi cho đôi tai nghễnh ngãng và đôi mắt mờ mịt của tại hạ. Tại hạ không nghe thấy câu nói uyên thâm và chính trực vừa nãy.”

Anh đứng thẳng dậy. Ikeno trầm ngâm nhìn anh chằm chằm. Samuel cũng nhìn lại từ đôi mi cụp xuống, giữ vững tư thế cung kính với vẻ thách thức dễ dàng nhận ra.

“Việc trợ giúp,” Ikeno chậm chạp hỏi, “mà kẻ man rợ Jurada-san muốn góp sức là gì?”

Samuel nhận ra tên đệm của anh đã được gọi với thái độ tôn trọng hơn. “Ikeno-sama đang sở hữu chuôi thanh Gokuakuma. Cái ngài cần lúc này là lưỡi kiếm.”

Ikeno nghiêng đầu, thừa nhận sự thật rõ ràng đó.

“Dojun đã biết vụ trộm chuôi kiếm. Ông ta cho là những kẻ săn tìm thanh Gokuakuma đang giữ nó, không hề nghi ngờ chính tại hạ đã lấy nó. Ông ta biết ngài hiện điện ở đâu, cũng đoán chuôi kiếm đang ở trong tay ngài. Nên ông ta định mang lưỡi kiếm rời khỏi đảo, đến một chỗ cất giấu nào đó.” Samuel nhún vai. “Tại hạ không biết nó được giấu ở đâu hay ông ta định đi đâu, nhưng tại hạ biết khi nào ông ta hành động, và cách thức tiến hành.”

“Trong chuyện này, Tanabe tin ngươi sao?”

“Ông ta không tin tại hạ trong bất cứ vấn đề quan trọng nào. Nhưng ông ta vẫn lệ thuộc vào sự sùng kính của tại hạ. Tại hạ biết ông ta quá rõ. Và tại hạ cũng nắm vững hòn đảo này. Tại hạ nói được là làm được.”

“Ngươi muốn gì để đổi lấy phần công sức đóng góp này?”

“Chỉ để thấy thanh Gokuakuma được hợp nhất, thưa Ikeno-sama. Thấy tận mắt, và biết rằng nó đã vuột khỏi tay Tanabe Dojun, kẻ đã dành trọn đời ngăn chặn việc này - như tại hạ đã dành trọn đời để chuẩn bị thay thế ông ta… cho tới khi ông ta chọn thay thế tại hạ.”

“Có thể, trong cơn thèm khát trả thù, ngươi cũng muốn Tanabe thấy điều đó?”

“Không cần thiết. Sẽ nguy hiểm. Chỉ cần tại hạ thấy được, biết được danh dự bị vấy bẩn của tại hạ được gột rửa theo cách thức tương xứng - vậy là đủ.”

Ikeno gật đầu. “Ta có lời khen ngợi. Khi thế giới nghiêng ngả, nó cần được cân bằng trở lại. Mưu đồ của ngươi có vẻ là cuộc trả thù thích đáng cho những ô nhục ngươi phải gánh chịu.”

Samuel trở lại với thái độ trang trọng nhất. “Lời khen rộng lượng của Ikeno- sama đáng kính khiến tại hạ vô cùng biết ơn.”

Đối thủ của anh nhìn anh chăm chú bằng đôi mắt thông minh, nghiêm nghị. “Vô cùng biết ơn, rồi sao? Sư phụ ngươi đã rèn giũa ngươi được như ngày hôm nay. Ngươi nợ ông ta.”

“Tại hạ nợ ông ta. Và ông ta đã tước đoạt của tại hạ mọi cách thức báo đáp.”

Giri khó lĩnh hội nhất là khi cả hai lối đi đều vướng nợ ân tình. Ngươi sẽ làm gì để trả nợ ông ta, Jurada-san?”

Samuel đáp lại cái nhìn không thể thấu hiểu của hắn, không hề chớp mắt. “Phản bội Dojun-san là nỗi hổ thẹn quá sức chịu đựng. Khi xong việc, khi tại hạ trao cho ngài thanh Gokuakuma… tại hạ chẳng còn gì để làm ngoài những gì danh dự đòi hỏi.”

Ikeno khẽ cúi mình thể hiện sự bình đẳng. “Nếu phải như vậy. Hãy mang lưỡi kiếm về cho ta - và ngươi có thể dùng thanh Gokuakuma để lấy lại danh dự cho mình.”

ông thể nhắm mắt viết giấy giới thiệu cho Leda làm một chân đánh máy. Dù rất lấy làm tiếc, thực sự lấy làm tiếc, nhưng bà ta không biết gì về cô Leda Etoile ngoại trừ mẹ cô là người Pháp, và viết một điều như thế trong giấy giới thiệu phỏng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.