Bóng Tối Và Ánh Sao

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 12 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 33

❊ ❊ ❊

Dojun đi quanh nhà Samuel, xem xét kỹ lưỡng. Samuel đứng trên lan can tầng hai, dựa vào lan can, nhìn ra những khung cửa để ngỏ khi Dojun thăm dò và nghiên cứu, đánh giá khả năng phòng thủ.

Samuel cảm nhận rõ sự thỏa mãn cay đắng môi khi Dojun bỏ sót chỗ nào đó, dù không thường xuyên. Cửa sập và cửa sổ chỉ mở được khi có một mẩu giấy nhét vào đúng chỗ - đó là thứ Dojun phát hiện ra. Đường ống dung nham tự nhiên dẫn tới lối ra ngầm ở ngọn núi sau nhà thì anh đã biết. Đó cũng là nguyên nhân anh chọn mảnh đất này. Nhưng cuối cùng Dojun cũng phải hỏi cách rút tấm ván dẫn vào đường hầm ra đó.

Samuel bước trong căn nhà vang vọng, mở và khóa những cánh cửa phức tạp ở tầng trên để tấm ván dịch chuyển.

Rồi anh lại bước ra lanai, đứng đó, nhìn theo bóng tàu Kaiea nhả khói ra khơi.

Nàng đồng ý ra đi quá dễ dàng. Không lưỡng lự, không một câu hỏi. Nàng thậm chí còn không chào tạm biệt.

Sau một đêm nghĩ ngợi, anh đoán nàng nhận ra mình không muốn tiếp tục tỏ ra bình thường. Anh cho rằng nếu mình có thể kiềm chế bản thân… Anh nhắm mắt, quai hàm bạnh ra.

Nàng rời đi thì tốt hơn. Nàng sẽ làm anh bị sao nhãng. Nàng sẽ là một mục tiêu dễ dàng. Những kẻ đã lấy phần chuôi của thanh Gokuakuma, lẻn vào văn phòng của anh, tìm thấy và cuỗm đi thứ chúng cần mà không động đến bất kỳ chỗ niêm phong nào - chúng sẽ quay lại căn nhà này. Anh phải thừa nhận chúng cũng tìm thấy mọi thứ Dojun có thể tìm thấy. Anh phải thừa nhận chúng sẽ nhắm vào bất cứ nhược điểm nào - và Leda chính là nhược điểm của anh.

Ngay cả khi anh đứng dõi theo nàng, nàng vẫn là nhược điểm của anh.

Phía dưới, anh có thể nghe thấy giọng nói khẽ khàng của ba “người làm vườn”, được lựa chọn kỹ càng từ hệ thống của anh và Dojun. Để nhanh chóng biến ngôi nhà thành một pháo đài không lộ liễu, thì cần phải chọn lựa. Samuel biết rõ người của mình, những kanaka bản xứ, người Trung Hoa, một số haole - người Mỹ và Âu châu đủ hạng, anh chọn họ vì lòng trung thành và năng lực, vì họ không có quan hệ với người Nhật, để giảm nguy cơ có tay trong.

Dojun cũng có bè phái riêng. Samuel vẫn chưa hết bàng hoàng khi phát hiện ra mối quan hệ thân tình giữa Dojun với những người mới nhập cư thực ra là quan hệ dòng tộc - lâu đời và bền chặt hơn bất cứ liên quan nào giữa anh và sư phụ. Shoji, với cây chổi và thái độ lễ phép, hóa ra là cháu họ Dojun, được gửi tới đây để nhận sự chỉ dạy, để được nuôi nấng, rèn luyện và cống hiến cho việc bảo vệ thanh Gokuakuma.

Trong những năm sống một mình, khi Nhật Bản chưa cho phép di cư, Dojun buộc phải thích nghi với những gì ông tìm thấy. Ông đã huấn luyện Samuel. Và Samuel thấy mình như một thằng đần vì đã để tâm, đã oán giận một cậu bé quét nhà.

Anh dựa vai vào cây cột trắng, nhìn lướt qua thành phố giữa những hàng cây rậm rạp, cảng Honolulu, và vẻ mỹ lệ của Trân Châu Cảng xa xa về phía Tây, xen giữa là những ao cá và ruộng khoai nước. Bọn chúng đang ở đâu đó ngoài kia - số lượng không xác định - bên ngoài lãnh thổ của chúng - trong lãnh địa của anh. Dojun sẽ bảo vệ lưỡi kiếm, trang bị cho ngôi nhà được an toàn, sửa sang và thích ứng: sức mạnh bên trong. Samuel sẽ ra ngoài, xoay chuyển tình thế và lùng đám thợ săn: năng lượng bên ngoài.

Đó là tất cả những gì anh biết về ý đồ của Dojun. Tất cả những gì Dojun tiết lộ với anh.

Một thanh kiếm “quỷ”. Anh muốn đảo tròn mắt. Anh nhận được những chỉ đạo của ông, anh sẽ làm bất cứ việc gì Dojun yêu cầu như xưa nay vẫn vậy. Nhưng lần này, lần đầu tiên, có một không gian nhỏ bé, lạnh lẽo, u uất, một sự dè chừng trong tim anh.

Anh đã không nói ra điều hiển nhiên: rằng nếu anh được biết, nếu anh được tin cậy để thấu hiểu, anh sẽ không khinh suất để đến nông nỗi này. Anh sẽ không ngu dốt đi trộm thanh kazaritachi để chuốc lấy hậu quả khôn lường, và mang nó đến thật gần lưỡi kiếm - và chỉ Chúa mới biết, anh sẽ không bao giờ để Leda đến gần nó.

Nhưng anh nhớ lại ngăn chứa đồ trống trơn bên dưới lò sưởi, và phần chuôi kiếm giống như thật đã dễ dàng được “tìm thấy” thay cho thanh kiếm anh trộm được ở London. Kẻ địch của Dojun đã theo dấu phần chuôi của thanh Gokuakuma trước khi Samuel kịp chạm vào nó, chẳng có lời giải thích nào xác đáng hơn cho bản sao đang tồn tại kia. Nó được làm ra để thay thế cho chuôi kiếm thật trước khi dâng cho Nữ hoàng. Vụ trộm của Samuel đã ngăn chặn việc đánh tráo và nảy sinh vụ truy tìm. Dù phải mất hàng tháng trời, nhưng bọn chúng cũng làm được việc một nửa Scotland Yard phải bó tay: xác định và lần theo anh.

Bất kể những kẻ săn lùng thanh Gokuakuma là ai thì chúng cũng được huấn luyện như anh, thậm chí còn bài bản hơn. Nếu chúng tin vào điều đó, vậy thì y như Dojun đã nói - con quỷ cũng tồn tại như những kẻ săn đuổi này, và chúng có đủ khả năng thực hiện bất cứ điều gì.

Anh kiểm tra lại khu đất. Ba năm trước, chuyện đó thật dễ dàng, chỉ có vài người Nhật ở trên đảo. Samuel biết tên tất cả mọi người ở Honolulu. Nhưng giờ có tới hàng ngàn đồng hương của Dojun ở khu đồn điền và bắt đầu gây dựng sự nghiệp trong thành phố. Hàng ngàn diện mạo để che giấu bản thân.

Có thể, việc anh không tin vào thanh Gokuakuma như Dojun và kẻ địch của ông là một lợi thế.

Để chiến thắng, Dojun nói, điều quan trọng là đừng mong mình sẽ thắng.

Samuel quan sát tàu Kaiea chậm rãi khuất dần sau Mũi Kim Cương, những ống khói lưu lại dấu vết khi nó hướng tới Mũi Makapu’u - vượt khỏi tầm mắt, vượt khỏi phạm vi đèn hiệu gọi nó trở về.

***

Cầu tàu dường như là nơi khơi nguồn cho một ý tưởng nhạy bén. Ý tưởng có vẻ rõ ràng và chính xác. Leda chắc chắn rằng vào thời điểm lẽ ra phải đặt chân lên ván gỗ nhưng nàng lại không làm việc đó, trong đầu nàng đã nảy ra một chuỗi suy nghĩ hoàn toàn thuyết phục và có lý để hỗ trợ cho quyết định của mình.

Nó liên quan đến sự phục tùng và bổn phận làm vợ, nàng rất rõ ràng về chuyện đó, nhưng giờ đây, khi đã về lại khách sạn Hawaii, tiếng còi tàu Kaiea rời cảng cũng khuất xa, nàng có vẻ không thể dựng lại lý lẽ đòi hỏi phải chống lại mong muốn của chồng để hiện diện với một dáng vẻ ngoan ngoãn, tôn trọng và tươi cười.

Manalo, người đánh xe Hawaii được Samuel cử đến đưa nàng ra tàu, giúp nàng vào xe ngựa. Anh ta là một người đàn ông trẻ, lực lưỡng, trông dữ tướng với chiều cao và vóc dáng lực sĩ, tỏ ra vui vẻ khi đeo hầu hết vòng hoa mang theo để choàng qua đầu Leda, dù vẫn cố điểm trang cho nàng bằng ít nhất một nhành dây leo dâm bụt và dành dành. “Còn bà… cứ ở lại đây thôi. Haku-nui, người số một, ngài ấy sẽ hài lòng vì bà không đi California. Ở lại Hawaii vẫn hay hơn.” Manalo toét miệng cười. “Tôi mang hòm xiểng lên rồi, tôi sẽ đưa bà lên nhà, wiki-wiki.”

Anh ta quất ngựa, để nó điên cuồng phi nước đại ra khỏi khuôn viên khách sạn, suýt va phải chiếc xe lừa kéo và ngoặt về phía rặng núi trên hai bánh.

Leda không quá nóng lòng lên đồi như Manalo. Nàng cũng chẳng mấy lạc quan về “Haku-nui” và việc anh tiếp nhận thông tin nàng đã không lên tàu. Nàng cũng hy vọng có thể chuẩn bị vài lời ngắn gọn để biện minh cho quyết định của mình, nhưng giữa những lộn xộn của việc mang rương hòm xuống boong vào phút chót, rồi sự ngạc nhiên khi nàng bất chợt trở lại khách sạn, và một khoảng thời gian dây dưa - có thể do nàng cố ý - những cuộc trò chuyện và chào hỏi dông dài với những người đã từ biệt vài giờ trước đó, và giờ đây, phải bám chặt vào tay vịn trên xe khi nó chạy bạt mạng qua những con phố bùn đất ở Honolulu - nàng thực sự không biết sẽ phải nói gì với Samuel, và không trông mong đến giây phút đó.

Con ngựa tội nghiệp ướt đẫm mồ hôi khi họ tới độ cao sương mù. Nhà của Samuel - nhà của chúng ta, nàng bướng bỉnh nghĩ - với màu trắng tao nhã nổi bật trên rặng núi, được bao quanh bởi những vạch đất đỏ trơ trọi. Khi Manalo thắng cương ngựa trên con dốc đầy bọt đá, hai người làm vườn bước ra từ chỗ đang dọn dẹp cây bụi. Trông họ có vẻ ủ ê, cầm cuốc và liềm đứng trong yên lặng cho đến khi Manalo gào to bằng tiếng Hawaii và ra dấu về phía Leda. Rồi những khuôn mặt đen sạm cười ngoác đến tận mang tai. Họ bỏ mũ và cúi đầu khi xe ngựa chạy qua.

Nàng nghiêng đầu với vẻ thân mật. Con ngựa rẽ lên khúc dốc cuối cùng. Cỗ xe lắc lư dừng lại ở cuối bậc thềm, nơi các công nhân khác đang xếp những tảng đá màu kem để hoàn thành khoảng sân.

Leda vịn vào thành xe một lúc. Không thấy tăm hơi Samuel đâu. Một người phương Đông ăn mặc giản dị, nghiêm trang xuất hiện trên khung cửa mở và bước xuống thềm.

“Aloha!” Manalo nhảy khỏi xe. “Dojun-san! Phu nhân-Wahine không muốn đi - bà ấy không lên tàu Kaiea. Haku-nui số một đâu rồi?”

Người đàn ông kia cúi thật thấp, hai bàn tay áp lên đùi. “À, bà Samua-san. Aloha!” Kiểu chào của ông ta vô cùng lịch sự. Trong lúc Manalo đỡ nàng xuống xe, ông ta cúi người lần nữa và giơ một tay lên. “Samua-san ở trên kia.”

Leda đưa mắt nhìn theo. Ở hàng hiên tầng trên, dựa vào hàng cột cao xẻ rãnh, tay khoanh trước ngực, Samuel quan sát họ. Câu aloha nhỏ nhẹ của anh vọng xuống bằng giọng điệu châm biếm. “Em làm cái quái gì ở đây thế?”

“Sau khi cân nhắc cẩn thận,” nàng bắt đầu, “và suy nghĩ nghiêm túc, ngay lúc đặt chân lên cầu tàu Kaiea, em nhận ra việc rời đi… không phù hợp chút nào.” Nàng thấy ánh mắt của đám công nhân đang tập trung lên người mình. “Như thế là, quá vội vã. Không có lý do xác đáng. Mọi người sẽ nghĩ chuyện đó thật kỳ quặc. Có lẽ, nếu anh đồng ý… chúng ta sẽ bàn chuyện này ở một chỗ riêng tư hơn.”

“Chẳng còn gì phải bàn nữa. Tàu đã đi xa rồi.”

“Vâng, em… em tin chắc như vậy.”

“Nó đã cách Mũi Makapu’u đến mười bảy dặm, theo ước tính của tôi.”

“Nhẽ ra em phải đến sớm hơn, và nói chuyện… thay đổi kế hoạch với anh, nhưng Manalo và em thấy rằng… đưa đồ đạc về khách sạn sẽ tiện hơn.”

“Trong hai tuần tới chẳng có tàu nào ra khơi cả.”

“Không ạ?” Nàng nhìn xuống, mùi thơm của hoa dành dành bao trùm cả cơ thể. “Thật không may!”

Thậm chí từ chỗ đứng của mình phía dưới, nàng vẫn nghe thấy tiếng anh chậm rãi thở dài. Âm thanh của những bước chân trên mặt gỗ dội lại từ phía xa.

Nàng liếc mắt về phía cửa chính, nơi người đàn ông phương Đông đang nhìn nàng với thái độ cảm thông.

“Ê, người số một làm huhu rồi.” Manalo vờ nhăn nhó sợ hãi, rồi cười toét và lắc đầu buồn bã. “Pilikia! Đồ Ho’opilikia!”

Leda đã nghe đến pilikia, một từ bản địa có vẻ được dùng cho mọi loại phiền toái. Nàng cau mày với khuôn mặt cười cợt vàng ệch của Manalo, nhưng anh ta chỉ chìm vào hậu cảnh - nhạt nhòa hết mức có thể đối với một người cao đến mét tám khi Samuel bước dọc theo hành lang xuống hàng hiên bên dưới.

Anh dừng lại ở bậc thềm trên cùng. Leda có thể thấy dấu vết của cơn giận quanh mắt anh, nhưng anh chẳng nói gì ngoài câu: “Bây giờ em định làm gì?”

“Chà, em… nghĩ mình nên bắt đầu làm việc.”

“Việc gì?”

Nàng lấy hết can đảm. “Nhiệm vụ của em là giúp anh có mặt căn nhà thoải mái.”

Anh im lặng nhìn nàng.

Phản ứng chậm chạp của anh thúc giục nàng nói nhanh hơn. “Em có thể thấy ở London chúng ta chưa làm đủ. Chúng ta mới đặt đồ nội thất cho một căn phòng, và chúng cũng chưa thể được giao đến đây trong một thời gian. Bà Richards nói ở Honolulu cũng mua được đồ nội thất, cả đồ trang trí nữa.”

“Làm đồ nội thất,” người đàn ông phương Đông nói, hăm hở nhún gối. “Tôi làm, bà Samua-san! Ngày mai bà quay lại, xem nhà, xem tất cả các phòng, cần những gì. Tôi ghé qua… đo đạc. Bàn. Ghế. Những thứ bà thích.”

“Không,” Samuel nói. “Tôi không muốn cô ấy ở đây.” Leda đỏ mặt. Nàng bặm môi và lùi một bước.

Người đàn ông bé nhỏ ủ rũ nhìn anh. “Samua-san có vợ. Phải cần đồ nội thất. Ghế, giường, mọi thứ.”

Quai hàm Samuel giật giật. “Không.” Anh liếc về phía nàng. “Em về khách sạn và ở yên đó.” Rồi ánh mắt lạnh lùng ném sang Manalo. “Tôi sẽ đưa cô ấy đi. Có vẻ như với những mệnh lệnh đơn giản, tôi chẳng tin được ai cả.”

Anh chàng Hawaii, với những bông hoa vàng và đỏ cùng mấy cái lá héo trên người cố ra vẻ vừa tổn thương vừa thảm hại. “Này, tôi có thể làm gì chứ? Bà ấy không muốn lên tàu. Ông cũng chẳng bảo tôi, ‘Này, Manalo, hãy ném cô ấy lên tàu!’”

“Dĩ nhiên là không,” Leda nói. “Không phải lỗi của Manalo.”

“Bà có thích ghế ở đây không, bà Samua-san?” Người đàn ông phương Đông xòe đôi tay, ra hiệu về góc hàng hiên. “Chỗ đó tốt. Đẹp. Ngồi đó. Nhìn ra biển, núi, mọi thứ. Tôi có đủ loại gỗ, hoa, ohia, gỗ hông. Bà thích loại nào?”

Samuel nói chuyện một cách cộc lốc với người làm công bằng tiếng của ông ta. Ông ta khiêm tốn cúi người và trả lời.

Miệng Samuel đanh lại, những cái cúi người càng thấp hơn và những tiếng thì thầm cứ thế dài hơn.

Bỗng nhiên Samuel thốt lên một tiếng và quay đi. “Cứ mang đồ nội thất đến đây, nhé! Mời tự nhiên! Làm bao lâu cũng được!” Anh điềm nhiên trở vào nhà, như thể tất cả bọn họ đều không tồn tại.

“Được! Được, Samua-san.” Người đàn ông phương Đông cúi mình phía sau anh, rồi cúi người với Leda. Ông ta chỉ vào mũi mình. “Tên là Dojun. Thợ mộc. Làm bàn tốt, làm ghế tốt. Bà cứ nói những gì mình muốn.”

Nàng đã trông đợi một cuộc nói chuyện dài hơn với Samuel nhưng ông Dojun cứ nhìn nàng chờ đợi, như thể nàng sẽ ngay lập tức đưa ra bản danh sách. “Chà… tôi cho là… phải có bàn. Cho phòng ăn sáng. Và ghế. Thật ra, hai là đủ, ban đầu cứ thế đã. Mất bao lâu thì xong?”

“Đã có bàn. Có ghế ăn. Có…” Ông giơ tay lên, gập ngón cái và ngón trỏ lại, rồi thêm hai ngón nửa, chỉ còn ngón út dựng thẳng. “Một-hai-ba-bốn. Bốn ghế ăn đã có sẵn. Tôi sẽ mang tới. Bà muốn… thì không mất thời gian đâu.”

“Mọi thứ đâu đã làm xong, ý ông là vậy?”

“Hai! Đã xong.”

“Tôi hiểu. Ông còn loại đồ đạc nào khác không, ông Dojun?”

“Tủ.” Ông phác một hình vuông lớn trong không khí, cao hơn hẳn thân người. “Giá sách. Trường kỷ Trung Hoa. Ghế đu đưa. Bàn nhỏ. Bàn lớn. Đồ đạc nào cũng có. Đồ của Dojun, tủ tansu ấy, không mua được của bất kỳ ai khác. Tốt hơn nhiều. Tiếng Nhật gọi là shibui - không xấu, không lòe loẹt. Chỉ đẹp thôi. Bà hiểu không? Tôi mang hết đến nhà này, bà lựa chọn cái nào mình thích.”

“Ồ, không phải cầu kỳ như thế. Tôi có thể đến xem ở cửa hàng của ông.”

“Không, không! Tôi mang tới! Bà nói với tôi, đặt ở đây, đặt ở kia, bà chọn, nếu không thích, tôi mang về.”

“Chà, ông tử tế quá. Tôi cũng muốn xem khi chúng kê trong phòng thì sẽ thế nào, có lẽ vậy.”

Ông Dojun nhún gối. “Ngày mai, ne? Bà đến nhà này. Tôi mang tới.” Leda lưỡng lự. Với kho đồ nội thất lớn bất ngờ này, có thể nào…

Nàng sẽ sắp xếp mọi thứ thật đẹp đẽ - và Samuel thích đồ kiểu Nhật, nàng nhớ tiểu thư Kai từng nói anh tự làm đồ gỗ theo phong cách Nhật. Nhưng nàng không biết - nàng buồn bã thừa nhận mình khá kém cỏi trong việc trang hoàng nhưng tiện nghi đủ mời gọi để giữ chân một người đàn ông ở nhà.

Theo lệ thường, một phụ nữ lịch thiệp sẽ không thảo luận với người lạ về những chuyện riêng tư, như sở thích của chồng mình chẳng hạn. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy một người hầu trong nhà, giúp việc hoặc đầu bếp, thường hay bàn chuyện riêng với bà chủ hơn cả những họ hàng thân thiết nhất. Dường như điều này cũng có thể áp dụng được với đàn ông. Nàng thẹn thùng nhìn ông Dojun và Manalo. “Tôi thắc mắc… nếu ông không nghĩ câu hỏi này hơi lạc đề… có phải ông và Manalo đã biết quý ông Gerard được một thời gian rồi không?”

“Thời gian?” ông Dojun lặp lại.

“Vài năm? Ông, và anh Manalo đây, làm việc cho quý ông Gerard một thời gian dài?”

“A. Nhiều năm. Mười sáu, mười tám năm. Trước đó, hai mươi năm, tôi làm việc cho phu nhân, Phu nhân Ashland’, bà ấy chăm sóc Samua-san.”

“A, Phu nhân Ashland!” Những nghi ngại về ông Dojun biến mất. Nếu Phu nhân Tess đã thuê ông, Leda thấy mình có thể yên tâm về nhân cách của ông.

“Manalo-kun, cậu ấy trẻ hơn. Chưa tới ba mươi, nhỉ?” Ông Dojun khẽ cúi người về phía chàng trai Hawaii. “Có lẽ đã làm cho Samua-san được sáu, bảy năm.”

Manalo cười toét với vẻ hiền lành. “Quá lâu rồi. Không bơi, không cưỡi ngựa, không hát. Auwe! Chỉ làm việc thôi!” Anh ta đưa tay vuốt lông mày.

“Có lẽ… nếu hai người biết rõ anh ấy…” Nàng thấp giọng. “Tôi đang khó xử, hai người thấy đấy, trong việc một người đàn ông muốn căn nhà được trang trí ra sao. Tôi tự hỏi liệu hai người có gợi ý gì về những thứ quan trọng không.”

Họ cùng ngây ra nhìn nàng.

“Món đồ đặc biệt nào đàn ông sẽ thích…” Nàng thấy hỏi như thế không hiệu quả gì. “Một người đàn ông sẽ thích đồ nội thất nào,” và cuối cùng bật ra. Đàn ông thích thứ gì trong nhà?”

“Giường,” Manalo nói. Và rõ ràng là nháy mắt với nàng.

“À!” Ông Dojun gật đầu. “Đầu tiên là bộ khung giường. Các ông chồng đều thích!”

“Leda thấy mặt mũi mình đỏ ửng đến tận mang tai. Trong khi Manalo cười to trước vẻ bối rối của nàng, ông Dojun bắt đầu miêu tả một cách phức tạp và rắc rối về bộ khung giường mà ông đã có trong tay”.

Bỏ qua kiểu ăn nói táo tợn của Manalo - và nàng sẽ rất ngạc nhiên nếu anh ta không xơi hành sống trong phòng khách - anh ta có vẻ khá thành thật. Theo đó, bàn, gác, tủ và ngăn kéo chẳng có gì quan trọng. Thảm lá cọ hoặc lông vũ, giường là món đồ nội thất một ông chồng đòi hỏi đầu tiên.

“Tôi cho là,” nàng nói với ông Dojun, “ông chắc chắn sẽ mang theo khung giường.”

“Mang giường.” Ông Dojun cúi người. “Có giường, thành tổ ấm.”

“Vâng,” Leda đồng ý. “Cũng hy vọng như vậy.”

***

“Và ông Dojun nói ông ấy có một khung giường đẹp tuyệt làm từ gỗ cây vĩ,” nàng nói, dùng thìa khuấy nhẹ món kem. “Em cũng không chắc đó là loại gỗ gì.”

“Gỗ cây vĩ. Đó là một loại gỗ koa thượng hạng.” Samuel quan sát nàng. Nàng không ngước lên nhìn anh, nàng không nhìn vào mắt anh lần nào kể từ khi anh đưa nàng lên xe ngựa về khách sạn. “Rất đắt.”

Cái thìa đang khuấy một vòng xoay vô định dừng lại. “Anh nghĩ thế là quá phí phạm à?”

“Em cứ tiêu bao nhiêu cũng được.”

Cái thìa trở lại với vòng xoay chậm chạp. Nàng ăn một miếng kem nhỏ. Anh không hiểu sao mình lại ngồi đây. Anh có việc phải làm, việc của Dojun và của anh, nhưng anh vẫn ngồi đó, nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay nàng, mái tóc chẻ ngôi gọn gàng, bộ váy kẻ sọc màu hồng pha trắng: tiếp nhận sự hiện hữu của nàng.

“Em nghĩ, có lẽ kiểu cách phương Đông sẽ lôi cuốn hơn,” nàng nói. “Anh có thích thế không?”

“Em muốn sao cũng được. Tôi không quan tâm.”

Anh nhận ra vẻ cáu bẳn trong câu trả lời của mình. Vì nàng lại xuất hiện vào lúc này, trước một mối nguy hiểm anh chưa thể lường được, chưa biết chắc và không dám coi thường - anh không muốn điều này. Anh không muốn nàng ở trong nhà này. Bản năng gào lên thúc giục anh nhốt nàng vào phòng và cử mười người gác trước cửa, lý lẽ và những điều anh học được đồng ý với lời khuyên ngắn gọn của Dojun: cho người bảo vệ là sai lầm, vì như thế chứng tỏ nàng quan trọng và có giá trị.

Anh không muốn nàng ở đây, và anh ngồi đắm chìm trong giọng nói của nàng, trong dòng chảy ngọt ngào của những câu chuyện vụn vặt: rèm cửa màu nào thì đẹp, có thể tìm thấy một đầu bếp kinh nghiệm với mức lương hợp lý không, giấy dán tường có bị bết lại do khí hậu, như bà Richards nhắc nhở không?

Anh cảm nhận được sức lôi cuốn của nó. Cám dỗ dịu dàng của vẻ hứng thú nàng dành cho những ý kiến của anh. Sự vui vẻ khéo léo, sự đồng cảm giản dị. Nàng ở lại. Tất cả những gì nàng nói đều về tương lai, trong căn nhà của anh, với tư cách là vợ anh.

Kem trong đĩa của nàng đã tan hết. Ngoài phòng ăn, hoàng hôn rực lên rồi mờ dần trong không khí dịu mát trôi vào qua những ô cửa sổ để ngỏ. Nàng vẫn ngồi đó với cái thìa, cuộc trò chuyện nhỏ dần, cho tới khi họ ngồi yên lặng giữa tiếng thủy tinh lanh canh và tiếng thì thầm của những giọng nói khác.

“Có thể, nếu anh không làm gì tối nay…” nàng nhìn anh dưới hai hàng mi. “… anh có muốn uống cà phê trong phòng của chúng ta?”

Anh nghĩ việc nàng gặp nguy hiểm rất khó xảy ra. Rồi anh lại nghĩ, nếu anh ở lại, anh sẽ biết chắc nàng được an toàn. Anh gật đầu ngắn gọn và đứng dậy, kéo ghế cho nàng.

Đây là gian phòng rộng nhất khách sạn, có trần cao và phòng khách xứng đáng với buổi tiếp đón của hoàng gia. Những bó hoa lớn cắm trung bình kiểu Trung Hoa điểm tô cho từng cái bàn. Cà phê đã được bí mật đưa đến trên khay bạc từ trước khi họ vào trong - bồi bàn chuẩn bị xong mọi thứ và rời đi.

Samuel đi vẩn vơ dọc theo những cửa sổ dài mở ra lanai. Ai cũng có thể vào đây mà chẳng phải nhọc công gì hết. Cũng chẳng cần lén lút.

Leda ngồi với tách cà phê, được soi rọi nhờ ánh sáng từ ngọn đèn lồng đỏ hắt qua lớp mành kiểu Venice nửa khép nửa mở. Nó hắt ánh sáng hồng lên vòng hoa dành dành màu kem nàng đeo, và bỏ lại chiếc váy chìm trong bóng tối.

“Tại sao em quay lại?” anh hỏi.

Nàng khuấy viên đường trong tách. “Vì rời đi là sai lầm.”

“Tôi đã nói em được tự do ra đi.”

Miệng nàng khẽ cong lên bướng bỉnh. “Điều đó cũng không có nghĩa em rời đi là đúng.”

“Nhẽ ra em nên đi mới phải.” Tấm mành kêu sột soạt khi anh giật nó đóng lại rồi mở ra. “Chết tiệt, tôi không… tôi không thể hứa…” Anh ngửa đầu ra sau. “Lạy Chúa, em đã thấy cuộc sống nơi này ra sao rồi! Hãy đi khỏi đây, đi xa vào, em không phải ở đây cùng tôi.”

“Hôn nhân là một lời thề trang trọng,” nàng nói với vẻ thách thức. “Em không biết làm sao mình có thể đồng hành, trân trọng, chăm sóc anh lúc đau ốm cũng như khi khỏe mạnh nếu em không ở gần anh.”

“Đó chỉ là trò hề!” Anh quay lại đối diện với nàng. “Em có chịu thề không nếu em biết trước?”

Nàng đứng dậy. “Không phải trò hề. Em không để anh nói vậy đâu.”

“Em thật đáng ngưỡng mộ! Một vị thánh còn gì.”

“Em dám nói anh đang có ý mỉa mai. Em dám nói anh đã quên sự thân mật bình thường vì anh luôn hối tiếc em không phải người anh muốn lấy làm vợ.”

“Tôi không hối tiếc về chuyện đó,” anh lẩm bẩm.

“Không ư? Em cho là mình nên tin anh đang dùng một phiên bản hoàn hảo để đối xử với em. Và đó,” nàng thốt lên, quay đi, “anh khiến em mất bình tĩnh và cũng nhiễm thói giễu cợt kia. Em mong anh sẽ thấy hài lòng.”

Anh nhìn chằm chằm vào hình ảnh phản chiếu méo mó của mình trong tấm gương lồi. Anh có thể thấy hình ảnh biến dạng của nàng phía sau mình. “Tôi không hối tiếc,” anh nhắc lại. Anh ngó sững những đường xoắn ốc nhiều màu sắc trong gương cho tới khi hình ảnh của mình mờ dần. “Tôi không hối tiếc. Tôi yêu em.”

Máu bỗng chảy rần rật trong cơ thể anh. Anh cảm giác như mình đang lơ lửng giữa không trung, cách vách đá không đáy khoảng ba mét, không có gì nâng đỡ dưới chân.

“Tôi biết điều đó chẳng thay đổi đước gì hết,” anh nhấn mạnh, ném mình trở lại mặt đất vững chãi. “Tôi không muốn em ở trên hòn đảo này. Tôi không muốn em ở trong nhà tôi. Em hiểu không? Như thế đã rõ rang chưa?”

Mặt gương phản chiếu sự bất động. Không thể thấy thái độ của nàng. Những cây cọ ở khoảng sân bên ngoài xào xạc trong cơn gió thổi qua cửa sổ con và những bức mành.

Nàng nói nhẹ nhàng. “Quý ông thân mến… em chưa từng nghĩ anh là người khờ khạo, nhưng dường như đó là một câu nói rất ngớ ngẩn.”

“Quên nó đi,” anh nói, “hãy quên đi.” Anh băng qua phòng ngủ, định kiểm tra những chỗ dễ đột nhập.

Lúc anh đứng trong những tia sáng yếu ớt của đèn lồng, cau có nhìn chiếc giường có tấm màn ngăn muỗi và những khung cửa sổ dài chạm sàn, nàng đã đến phía sau. “Em thực sự không nghĩ mình có thể hứa điều đó.”

“Quên nó đi. Ở lại. Hay đi. Cứ làm bất cứ điều gì em muốn.”

“Em không hề muốn ra đi. Em cũng yêu anh nhiều lắm, anh biết mà.”

Anh liếc nàng. “Chúa ơi, em cư xử thật hoàn hảo, phải không? Khi một quý ông bày tỏ tình cảm,” anh tàn nhẫn bắt chước lối diễn đạt của nàng, “một quý cô phải lập tức đáp lại bằng lời nói dối phù hợp - xin thứ lỗi - ‘một lời thoái thác’ phù hợp, để anh ta khỏi trông như một thằng ngốc.”

Nàng ngó sững anh, rồi cúi đầu. “Anh nghĩ… rằng những gì em nói… không phải sự thật?”

“Tôi nghĩ với những gì em biết về tôi, chuyện đó là không thể.”

Nàng vẫn nhìn xuống tấm thảm. “Mọi thứ em biết về anh đều rất đáng khâm phục.”

Anh bật cười to, gay gắt. “Đúng rồi.”

“Mọi thứ,” nàng nói.

“Em biết, phải không? Bà ấy đã kể cho em.”

Nàng ngước mắt lên. Anh đợi nàng nói gì đó, chuẩn bị phòng thủ, nhưng nàng chỉ dịu dàng nhìn anh, kiên nghị, nhẫn nại.

Trong dạ dày anh cuộn lên cơn run rẩy, ngay bên dưới gờ cảm xúc. Anh đứng đó, ép nó ra khỏi cơ bắp, chống lại nó. Ngôn từ như mắc kẹt trong cổ họng anh.

“Em yêu anh.”

“Điều đó mà không thể.”

“Không có gì mà không thể.”

Không khí như đặc quánh lại, như thể anh phải nghĩ, phải nhớ hít từng hơi vào lồng ngực. “Em không cần nói vậy. Tôi đã bảo rồi, tôi đã bảo em không cần nói vậy.”

Cằm nàng hất lên. “Dù thế nào đi nữa thì em vẫn cứ nói.”

Anh cáu tiết tránh xa khỏi nàng. “Em sai rồi. Em nói dối. Em… không thể.”

“Em không muốn cãi cọ về chủ đề này với anh nữa.” Cằm nàng vẫn hất lên ương bướng. “Trong đêm tân hôn, Phu nhân Tess đã nhắc đến một số chuyện bà cảm thấy có liên quan đến… sự hòa hợp của chúng ta. Bà nói anh sẽ không thích, và em thấy đúng như vậy. Em rất tiếc nếu anh cảm thấy đó là tật xấu của em, nhưng em nhận ra, và vẫn nhận ra, không có điều gì bà nói… và không có điều gì em biết được từ mối quan hệ với anh, quý ông thân mến… có thể khiến em dành những cảm xúc khác ngoài…” Giọng nàng bắt đầu run rẩy. “Ngoài sự quan tâm sâu sắc và kính trọng đối với anh, quý ông thân yêu của em.”

Cơn run rẩy bên trong anh chực chờ bùng nổ, để dập tắt nó, anh nhào tới nàng. Anh kéo nàng đến sát anh. “Ngay cả chuyện này?” Anh áp môi mình xuống môi nàng, hôn nàng mạnh bạo, dùng sức bóp chặt tay nàng, và anh biết sẽ làm nàng đau đớn.

Những bông hoa dành dành trong vòng hoa bị dập tỏa ra hương thơm đậm vào không gian khi nàng ép sát vào anh. Anh trượt tay xuống dưới và sờ soạng người nàng. Những ngón tay anh tìm thấy chỗ lỏm đầy khiêu khích ở cuối cột sống của nàng. Những ngón tay anh mải miết lần xuống, ấn mạnh qua cái váy màu hồng pha trắng, phóng túng đẩy nàng sát vào nơi đã cương cứng của mình.

Sự thô bạo có toan tính và đam mê tức thời, lưỡi anh ấn sâu anh đẩy nàng ra cũng đột ngột như khi siết chặt lấy nàng.

Trong bóng tối màu hồng, nàng thật xộc xệch và xinh đẹp, đôi mắt mở to. “Vâng.” Nàng quay đi và vuốt cổ tay áo. “Kể cả như thế. Vì… em mang nửa dòng máu Pháp, anh biết mà.” Nàng gục đầu vào hai bàn tay. “Và em biết anh sẽ xót xa vì cố tình làm đau em.”

Nó làm anh đau lòng. Nó làm anh thấy chán ghét. Anh muốn ôm lấy nàng, vuốt tóc nàng, nhưng lại không dám chạm vào nàng. Nàng không muốn vậy, nàng không thể, mang nửa dòng máu Pháp có liên quan gì đến chuyện đó thì anh không hề muốn biết. Chỉ vì nàng là Leda, nàng sẽ nói như thế, vô nghĩa và vô tư - cứng đầu, dịu dàng, kiên quyết, cực kỳ ngây thơ, khi biết thứ gì bên trong anh, con người anh khi xưa và con người anh bây giờ, và vẫn khâm phục anh.

Vẫn nói nàng yêu anh.

Anh thấy sợ khi nghĩ đến điều đó.

Nếu tôi sợ thì sao? Anh từng hỏi Dojun câu đó, lâu lắm rồi. Và Dojun đã nói: Sợ ư? Như thể ông không biết từ đó. Sợ đi cùng việc chiến đấu chống lại. Hãy luôn thuận theo, đừng chống lại.

Từ lâu lắm rồi, anh đã hiểu. Trong cuộc chiến, hay trở thành nó, hãy thuận theo đối thủ.

Nhưng giờ anh lại không hiểu. Anh nhìn Leda và thấy mọi thứ trong mình bốc cháy, tan chảy và trôi đi, rỉ ra từ những vết nứt trong anh, cho đến khi chẳng còn lại thứ gì.

Nàng ngoái lại nhìn anh. “Em muốn, quý ông thân mến, anh ở lại với em đêm nay.”

Quá dễ bị tấn công, căn phòng khách sạn này quá lộ liễu. Anh trừng mắt nhìn tấm mành trên cửa sổ. “Em thay quần áo đi, tôi đợi trong phòng khách.”

Nụ cười vui vẻ nở trên môi nàng. Nàng cúi đầu xuống. “Vâng. Em sẽ không… anh không cần… chỉ một loáng là xong.”

Anh bước vào phòng khách. Ở ngưỡng cửa, anh bước ra ngoài trong ánh đèn lồng. Những chiếc đèn bọc giấy đu đưa nhè nhẹ, tạo thành những quầng sáng dọc theo chiều dài của khoảng sân lanai rộng rãi. Ở đầu bên kia, một cặp đôi đang đứng ngắm thứ ánh sáng thần tiên trên mặt đất. Samuel ngầm đánh giá họ: haole và vô hại, đến nghỉ lễ từ hòn đảo khác. Những vầng sáng mới rọi trên sân lanai khi đèn điện bật sáng trong phòng ngủ của Leda.

Anh quan sát những anh bồi mặc đồ trắng qua lại trên thảm cỏ, tìm kiếm một cử động nhất định, một sự do dự có thể khiến ai đó lộ tẩy, như một con thú tao nhã trong thế đứng rất tự nhiên của Dojun. Anh chẳng thấy gì ngoài một anh bồi Trung Hoa bị mắng vì mang nước lạnh lên thay vì nước chanh.

Đôi khi anh nghi giữ zanshin cũng giống việc chết một cách êm ái. Như chết để từ bỏ dục vọng, nghi ngờ, bản ngã. Để trở thành một cái bóng, di chuyển tự do trong đêm tối.

Đêm nay, việc này như tự chìm xuống trong đại dương băng giá. Cái bóng chậm rãi của giá lạnh, từ ngón tay lan ra tứ chi rồi lên não, cho đến khi cảm giác biến mất. Cho đến khi anh không cảm nhận được gì nữa.

Đèn phòng ngủ đã tắt, chỉ còn những quầng sáng từ đèn lồng đu đưa.

Anh trở lại phòng khách sạn và đóng cửa, không buồn khóa lại. Anh lặng lẽ đi về phía phòng ngủ. Nàng đã giăng màn chống muỗi quanh giường, tấm màn trướng rủ xuống từ trần nhà.

Anh dùng nó để ngụy trang cho bộ quần áo vải lanh màu trắng. Anh dựa lưng vào tường, nơi quần áo lẫn vào bức màn từ góc nhìn ở cửa ra vào và cửa sổ.

“Anh?” Từ trên giường, giọng nàng khẽ vọng ra. “Cứ ngủ đi. Tôi ở đây, sẽ không đi đâu hết.”

Một vóc dáng tối đen ngồi dậy giữa túp lều mỏng manh. “Anh không… anh không định vào giường sao?”

“Ngủ đi, Leda. Hãy ngủ đi.”

Một lúc đâu sau, nàng vẫn ngồi đó. Mắt anh đã quen dần với bóng tối, nhưng vẫn không thể thấy rõ nét mặt nàng. Cuối cùng, nàng nằm xuống giữa đống gối. Hai tiếng sau, khi những tiếng cười nói khe khẽ dưới bãi cỏ và hàng hiên tắt hẳn, được thay bằng ánh trăng bạc đổ thành những bậc thang trên sàn, nhịp thở đều đặn của nàng mới cho anh biết nàng đã ngủ say.

ông thể nhắm mắt viết giấy giới thiệu cho Leda làm một chân đánh máy. Dù rất lấy làm tiếc, thực sự lấy làm tiếc, nhưng bà ta không biết gì về cô Leda Etoile ngoại trừ mẹ cô là người Pháp, và viết một điều như thế trong giấy giới thiệu phỏng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.