London, 1887
Giữa đêm khuya, Leda tự nhiên choàng tỉnh. Nàng đang mơ về những quả anh đào. Giật bắn người theo phản xạ, cựa mình một cách khó chịu để hít lấy không khí đầy khó nhọc, cơ bắp co thắt khiến tim đập thình thịch khi nàng nhìn đăm đăm vào đêm tối và cố gắng điều hòa nhịp thở - để nhận biết sự khác biệt giữa giấc ngủ và thực tại.
Anh đào… và mận, có đúng không? Hay bánh ga tô nhân hoa quả? Bánh pút đinh? Công thức chế rượu bổ? Không… à, không phải… là cái mũ. Nàng nhắm mắt lại. Tâm trí mơ màng lướt qua câu hỏi sẽ dùng anh đào hay mận trang trí cho cái mũ bê rê Olivia kiểu vương miện may sẵn có thể mua ngay vào cuối tuần này, khi Madame Elise trả tiền công nhật.
Theo cảm tính, nàng thấy cái mũ là đề tài để ngẫm ngợi an toàn và phù hợp hơn việc nàng biết mình buộc phải xem xét - đó là căn phòng tối và vô vàn xó xỉnh thậm chí còn tối tăm hơn nữa, và sự quấy rầy nào có thể đã xảy ra, đến nổi đánh thức nàng khỏi một giấc ngủ sâu và vô cùng cần thiết.
Màn đêm gần như yên tĩnh, ngoại trừ tiếng tích tắc của đồng hồ treo tường và cơn gió nhẹ thổi vào cửa sổ tầng gác mái, đêm nay mang theo mùi hương của sông Thames, thay vì mùi dấm chua và chất chưng cất như thường lệ. Thời tiết của Nữ hoàng, người ta vẫn gọi quãng thời gian đầu hè này như vậy. Leda cảm nhận được nó trên má mình. Các hoạt động chào mừng Lễ Jubilee khiến những con phố trở nên ồn ào hơn vào buổi tối, nào là đám đông và sự nhốn nháo của những trò giải trí, những người ngoại quốc vô cùng kỳ dị đến từ mọi nơi trên trái đất, đội khăn xếp và đeo đồ trang sức trông như vừa từ lưng voi bước xuống.
Nhưng lúc này màn đêm đã lặng im. Trong khung cửa sổ để ngỏ, nàng có thể thấy bóng dáng cây phong lữ mình trồng, và đống lụa hồng làm xong lúc hai giờ sáng đang trải ngang bàn. Chiếc váy phải được chuyển đến cho khách lúc tám giờ, sau khi hoàn tất phần viền và gấp nếp cũng như thêu hình ở phần đuôi váy. Trước đó, Leda cũng phải ăn mặc chỉnh tề, và có mặt ở cửa sau nhà Madame Elise từ lúc sáu giờ rưỡi với bộ váy cất trong giỏ liễu gai để một cô thợ may mặc thử, kiểm tra lỗi rồi mới cho người giao hàng mang đi.
Nàng cố gắng tìm lại giấc ngủ quý báu nhưng cơ thể vẫn cứng đờ và tim đập thình thịch. Dường như có tiếng động? Nàng không chắc mình nghe thấy một âm thanh thực sự hay chỉ là tiếng trái tim đang rộn ràng trong lồng ngực. Vậy là theo tự nhiên, tim nàng lại đập mạnh hơn nữa và cái ý nghĩ vốn chỉ là một sự thừa nhận mơ hồ cuối cùng cũng hoàn toàn choán lấy tâm trí nàng, rằng ai đó đang ở trong phòng này.
Nỗi kinh hoàng mà Leda trải qua khi đối mặt với ý niệm đó sẽ khiến quý cô Myrtle khịt mũi. Quý cô Myrtle cũng là người can đảm. Quý cô Myrtle sẽ không nằm bất động trên giường, tim đập thình thịch. Quý cô Myrtle sẽ bật dậy, vớ lấy que cởi lửa vốn đặt ở vị trí rất tiện lợi và thuận tay ngay bên cạnh gối, bởi vì quý cô Myrtie luôn có thói quen lo xa để phòng ngừa mọi trường hợp nguy cấp, như khi nhận ra mình không phải người duy nhất trong căn phòng tối.
Leda không được như vậy. Ở khía cạnh đó, nàng biết mình là nỗi thất vọng với quý cô Myrtle. Nàng cũng có một que cời lửa nhưng lại quên để nó ở gần trước khi đi ngủ vì nàng lúc nào cũng mệt mỏi, và vì nàng là con của một phụ nữ Pháp hời hợi.
Tay không, nàng chẳng còn cách nào khác ngoài việc tiến hành bước hợp lý tiếp theo và tự thuyết phục bản thân rằng ngoài mình ra thì nhất định không còn ai trong phòng nữa. Chắc chắn không. Từ chỗ nằm, nàng có thể quan sát thấy hầu hết căn phòng, cái bóng trên tường chỉ là chiếc áo choàng và cây dù treo trên cây móc quần áo từ một tháng trước, sau đợt lạnh cuối cùng vào giữa tháng Năm. Trong phòng có một cái ghế, một cái bàn và cái máy may thuê, một bồn rửa mặt, một chiếc bát và bình đựng nước. Bóng dáng hình nộm của bà chủ tiệm may bên bệ lò sưởi khiến Leda thoáng giật mình nhưng khi căng mắt ra, nàng có thể nhìn xuyên qua những lỗ dệt thưa trên thân và váy áo để thấy hình vuông của vỉ lò trong lò sưởi. Kể cả trong bóng tối nàng cũng nhìn rõ được những thứ đó, giường được đẩy sát vào tường của tầng gác mái, nên trừ phi kẻ đột nhập đang treo mình trên xà nhà như một con dơi, còn không, nàng nhất định chỉ có một mình.
Nàng nhắm mắt lại.
Rồi mở mắt ra. Cái bóng kia có phải đã chuyển động. Nó hơi dài so với chiếc áo choàng, đổ bóng xuống tận khoang tối sát sàn nhà? Chẳng phải chỗ tối hơn kia là bàn chân của một người đàn ông sao?
Vô lý. Hai mắt đờ đẫn vì kiệt sức, nàng nhắm lại lần nữa, hít một hơi thật sâu.
Rồi mở mắt ra.
Nàng nhìn chằm chằm vào bóng của áo choàng. Rồi tung chăn ra, lồm cồm ngồi dậy và la lớn, “Ai đó?”
Chẳng có gì ngoài sự yên ắng đáp lại lời dò xét thông minh đó. Đứng chân trần trên sàn gỗ xù xì lạnh ngắt, nàng thấy mình quá ngớ ngẩn.
Xoay nửa vòng, nàng rà bàn chân qua cái bóng đen kịt dưới áo choàng. Rồi lùi bốn bước về phía lò sưởi, mò mẫm tìm que cời lửa. Với dụng cụ đó trong tay, nàng thấy mình đã làm chủ tình hình tốt hơn. Nàng đưa que cời về hướng áo choàng, chọc chọc đầu thép quanh cái áo, rồi lùa nó vào từng ngóc ngách sâu nhất trong phòng, kể cả dưới gầm giường.
Những chỗ tối đó hoàn toàn rỗng không. Chẳng có kẻ đột nhập nào. Chỉ là những khoảng không trống trải.
Cơ bắp trên người thầm lỏng vì nhẹ nhõm, nàng đặt bàn tay bên ngực, thầm cầu nguyện tạ ơn và kiểm tra để thấy cửa vẫn khớp rồi mới quay lại giường. Cửa sổ mở nhưng vẫn đủ an toàn, nó nằm phía trên con kênh bùn đặc quánh, chỉ có thể chui và theo lối xà ngang dốc đứng. Nhưng nàng vẫn cứ để que cời trên sàn, ngay sát chỗ nằm.
Kéo tấm chăn vá víu nhiều chỗ lên tận mũi, nàng chìm vào một giấc mơ dễ chịu, trong đó con chim sẻ nhồi bông - đẹp đẽ và trau chuốt, đúng mốt đến nỗi người ta còn tưởng nó duyên dáng hơn cả những quả mận và anh đào khi làm viền cho chiếc mũ bê rê Olivia - nắm một vai trò quan trọng.
***
Lễ Jubilee đẩy mọi thứ, mọi người vào guồng quay điên cuồng. Khi Leda bước vội lên cầu thang sau ở phố Regent thì trời đã sáng hẳn, những cô thợ may đều đã nghiêng đầu bên mọi kim dưới ánh đèn. Đa số bọn họ trông như đã ở đây cả đêm - có vẻ đúng thế thật. Năm nay, sự vội vã thường thấy của mùa lễ hội đã tăng lên, tiệc tùng, dã ngoại, các cô gái xinh đẹp, những mệnh phụ kiểu cách, tất cả đều bị cuốn theo vô vàn cuộc gặp gỡ và tiêu khiển cho Lễ Jubilee. Leda không ngừng chớp đôi mí mắt nặng tới khi nàng và cô thợ trưởng bung chiếc váy rộng từ trong giỏ. Nàng đã kiệt sức, bọn họ cũng vậy, nhưng sự hào hứng và háo hức thật dễ lây lan. Ồ, thật tuyệt làm sao khi được mặc bộ váy đáng yêu đến vậy. Leda nhắm mắt lại và lùi khỏi bộ váy dạ hội, thoáng chóng mặt vì đói và lo lắng.
“Hãy ăn một cái bánh đi,” thợ trưởng bảo cô. “Tôi chắc chắn cô đã không thể xong việc trước hai giờ sáng, đúng không? Cứ uống trà nếu muốn nhưng phải nhanh lên đấy. Sẽ có mặt cuộc hẹn sớm. Một đoàn khách nước ngoài đến đây vào đúng tám giờ - và cô phải chuẩn bị sẵn những cuộn lụa nhuộm.”
“Nước ngoài sao?”
“Từ phương Đông, tôi chắc vậy. Tóc họ màu đen. Nhớ kỹ vào, để da dẻ họ nhợt nhạt là không được đâu đấy.”
Leda bước vội sang phòng bên, uống vội tách trà đường cùng bánh nướng rồi chạy lên lầu, chào những cô thợ ở đó khi đi ngang qua. Tới tầng ba, nàng khom người chui vào căn phòng nhỏ, cởi bộ váy màu xanh hải quân giản dị và áo khoác bông, tắm bằng nước ấm đựng trong xô thiếc và bồn rửa bằng sứ, mặc áo lót và quần trong rồi cứ thế đi thoăn thoắt dọn hành lang.
Leda gặp một nữ học viên giữa hành lang. “Họ chọn đồ xong rồi,” cô gái nói. “Vải lụa sọc vuông - để bày tỏ lòng tôn kính trước tình cảm Nữ hoàng dành cho Balmoral.”
Leda khẽ kêu lên giận dữ. “Ồ! Nhưng tôi…” Nàng kịp kìm nén khi suýt nữa đã thốt ra lời thừa nhận rất khiếm nhã rằng mình không thể chi trả nổi cho bộ quần áo mới. Nhưng đó sẽ là đồng phục của tiệm trong quãng thời gian còn lại của Lễ Jubilee và Leda sẽ phải trả bằng chính tiền lương của mình.
Quý cô Myrtie qua đời đồng nghĩa với việc mọi thứ trở nên thực sự khó khăn. Nhưng Leda sẽ không than vãn về điều đó, không bao giờ, cho dù cuộc sống có tồi tệ tới đâu chăng nữa. Chỉ là nàng đã ngủ quá ít, bất an, dậy muộn và thường cáu bẳn. Nàng cảm thấy muốn đá một cú hơn là muốn khóc, vì quý cô Myrtle đã vẽ ra một kế hoạch chu toàn cho tương lai, để lại bản di chúc hợp thức, trong đó, hợp đồng cho thuê ngôi nhà nhỏ của bà ở Mayfair, nơi Leda được nuôi dạy lớn khôn, được dành cho cháu trai bà, một người đàn ông góa vợ sắp bước sang tuổi tám mươi, với điều kiện Leda phải được ở lại và quản lý nó cho ông ta, căn phòng ngủ vẫn là của nàng nếu muốn, và nàng quả thực rất muốn thế.
Người đàn ông góa đã đồng ý, thậm chí ở ngay tại văn phòng luật sư còn nói thật vinh hạnh vì tiểu thư trẻ tuổi của quý cô Myrtie đã nhận lời trông nom nhà cửa. Nhưng chính vào lúc mọi thứ đã được thu xếp vừa lòng cả đôi bên thì ôi thôi là xúi quẩy. Ông ta đi vào làn đường dành riêng cho xe buýt hai tầng, không kịp để lại di chúc hay người thừa kế hay thậm chí một ý kiến rõ ràng nào về chuyện đó nữa.
Nhưng thế mới là đàn ông. Cân nhắc hết mọi nhẽ thì đó là giới có phần ngu ngốc.
Ngôi nhà ở Mayfair khi đó về tay một cháu họ xa của quý cô Myrtle, và bà ta chẳng muốn sống ở đó. Cũng không giữ Leda lại quản lý những người thuê mới. Leda quá trẻ để trở thành một quản gia hợp cách, như thế là không được. Không, cho dù quý cô Myrtle, một người mang họ Balfour, đã nuôi nấng Leda ở phố South. Lôi một cô gái ra khỏi vũng bùn và đặt cô ta cao hơn địa vị tự nhiên của mình là việc làm ngớ ngẩn. Người họ hàng xa đã băn khoăn về chuyện này, thực sự thế. Nhưng rõ ràng người cô, Myrtle, lúc nào cũng là một người kỳ dị - cả dòng họ đều biết chuyện đó - chưa tính đến việc bà đã từng đính hôn với một tử tước, rồi thay vào đó thoát ly gia đình với kẻ tồi tệ kia, để bản thân đi quá giới hạn cho phép, và chẳng phải cuộc hôn nhân kia luôn đem đến rắc rối cho bà đó sao?
Người họ hàng xa không tìm thấy giải pháp khả thi nào để giữ Leda ở lại làm bất cứ công việc gì, nàng không phù hợp với việc lao động chân tay hay nghề may vá buồn tẻ và bất thường, bà ta cũng không thể nhắm mắt viết giấy giới thiệu cho Leda làm một chân đánh máy. Dù rất lấy làm tiếc, thực sự lấy làm tiếc, nhưng bà ta không biết gì về cô Leda Etoile ngoại trừ mẹ cô là người Pháp, và viết một điều như thế trong giấy giới thiệu phỏng có ích gì?
Quả thật, như sau này Leda nhanh chóng nhận ra, dường như chỉ có hai chỗ sẵn sàng chào đón một quý cô trẻ gia giáo với gốc gác Pháp thiếu minh bạch, và phòng trưng bày của một tiệm may váy thời trang là nơi đáng kể đến trong số đó.
Leda hít thở thật sâu. “Chà, vậy chúng ta sẽ giống như nhóm múa Cao nguyên mặc váy sọc vuông, phải không?” Nàng nói với cô học việc. “Bộ của tôi xong chưa?”
Cô ta gật đầu. “Tôi chỉ lược gấu váy nữa thôi. Cô có một cuộc hẹn lúc tám giờ đấy. Với người nước ngoài.”
“Người phương Đông,” Leda nói khi theo chân cô gái đeo tạp dề trắng vào một căn phòng đầy vải vụn hoa văn đủ màu sắc nằm la liệt trên thảm và chiếc bàn dài. Trong lúc Leda thắt chặt coóc xê và điều chỉnh vòng kẽm của váy độn sau hông, cô học việc giũ thăng chiếc váy sọc xanh lá và xanh dương. Leda giơ hai cánh tay để tròng bộ váy qua đầu.
“Người phương Đông à?” Cô học việc lẩm bẩm với đống kẹp tăm trong miệng. Cô rút chúng ra và dính vào váy một cách thành thạo. “Có phải dám bẻ cổ gà trong khách sạn Langham không?”
“Dĩ nhiên không phải,” Leda nói. “Tôi tin rằng chính một vị sultan đã… à… gây ra sự cố không may cho đàn gia cầm.” Rõ ràng bẻ cổ gà không phải là chủ đề thích hợp một quý cô nên nhắc đến. Leda cố gắng tận tình mở mang đầu óc cho cô gái. “Những người phương Đông đến từ nước Nhật. Hay tên chính thức là Nippon.”
“Thế nước Nhật ở đâu?”
Leda nhíu mày, hơi nghi ngờ kiến thức địa lý của mình. Quý cô Myrtie từng đề xướng mạnh mẽ cho việc giáo dục phụ nữ nhưng lại thiếu phương tiện cần thiết - một quả địa cầu chẳng hạn - nên một số bài học của bà chỉ để lại những ấn tượng mờ nhạt.
“Rất khó mô tả,” nàng trì hoãn. “Tôi sẽ chỉ cho cô trên bản đồ.”
Cây kim trong tay cô gái thoăn thoắt trên mặt lụa. Leda nhăn mũi khi thấy hình ảnh phản chiếu của bộ váy sọc vuông trong tấm gương đã bị nứt. Nàng không chuộng kiểu hoa văn khổ lớn thế này, và tồi tệ hơn, vải lụa cứng không phủ vừa vặn trên khung nâng. “Nhìn xem nó nhô ra kìa.” Nàng dằn dỗi kéo mạnh tấm vải lớn lòa xòa sau hông. “Nhìn tôi chả khác gì một con gà mái Scotland.”
“Ồ, cũng không đến nỗi nào, cô Etoile. Màu xanh hợp với màu mắt cô đấy chứ. Nó làm chúng nổi bật hẳn lên. Phù hiệu cài tóc để trên bàn kia.”
Leda quờ tay với chiếc phù hiệu, thử gắn nó lên mái tóc màu gụ tối ở nhiều góc khác nhau cho tới khi vừa lòng mới thôi. Hoa văn sọc xanh lá của phù hiệu gần như bị chìm trong màu tóc nên Leda chỉnh cho nó nằm ở một góc nghiêng thật ngỗ ngược. Nếu còn sống, quý cô Myrtle ắt hẳn sẽ liếc qua một cái và tuyên bố ngay góc độ đó quá điệu đàng, không phù hợp với vẻ đẹp thanh lịch. Và nhân cơ hội kể lại chuyện mình đã từ hôn một tử tước - hành động rất thiếu cân nhắc, bà sẽ thừa nhận như vậy - nhưng các cô gái ở tuổi mười bảy thường đều được cho là sẽ cư xử cực kỳ ngớ ngẩn. (Đến đoạn này luôn có một ánh mắt đầy biểu cảm dành cho Leda bất kể nàng mười hai hay hai mươi tuổi). Quý cô Myrtle vốn thích cái ấn tượng khiêm tốn đầy quý phái. Việc góc nghiêng tinh tế này rất phù hợp với ngân sách vô cùng khiêm tốn dành cho việc mua sắm những món trang sức tầm thường và đồ thời trang rẻ tiền và một thực tế sẽ được những người quen thân quý cô Myrtle tốt bụng bỏ qua: họ là những quý bà quý cô gia giáo cũng ở trong hoàn cảnh tương tự và thấy mình hoàn toàn đồng ý với chuyện đó.
Nhưng quý cô Myrtle đã qua đời, và dù trong ký ức của Leda có trân trọng bà bao nhiêu đi nữa thì khiếu thẩm mỹ giản đơn như vậy cũng không được hoan nghênh đối với một phụ nữ làm việc trong phòng trưng bày ở chỗ Madame Elise, thợ chuyên may váy sọc vuông được chỉ định đặc biệt cho Công chúa xứ Wales. Phải là bộ váy may đo đó thôi, và số tiền dành cho chiếc mũ Olivia trang nhã, thanh lịch (làm sẵn và được trang trí một chú chim sẻ nhồi giản dị) mà Leda mơ ước đã lâu chắc chắn hụt đi một nửa chỉ để trả cho trái tim màu vàng trên phù hiệu.
Bà Isaacson, người phụ trách hiện tại đằng sau cái biệt hiệu Madame Elise đã mất từ lâu, đi nhanh vào phòng cắt vải, đưa Leda một xấp danh thiếp, nhìn nàng từ đầu tới chân mà không nói tiếng nào, rồi gật đầu cái rụp. “Tốt. Tôi thích món trang sức tóc - khéo lắm. Nếu được thì hãy giúp cô Clark cài tóc cho vui mắt giống vậy nhé. Cô ta dạo này ủ dột quá.” Rồi bà ta chỉ vào những tấm thiếp. “Sẽ có vài quý cô người Anh đi cùng nhóm nước ngoài. Tôi tin chắc cả Phu nhân Ashland và cô con gái đều có mái tóc sẫm màu. Đầy đủ y phục riêng cho ban ngày và buổi tối. Hãy tập trung vào màu của trang sức và có thể cả màu hồng - không được lẫn màu vàng vào bất cứ thứ gì, hãy nhớ kỹ - dù trắng ngà có thể tạm chấp nhận được, để đó xem thế nào. Họ đi thành đoàn, cùng lúc khoảng sáu, bảy người. Theo tôi biết thì họ muốn được tư vấn chung với nhau. Nếu cần tôi sẽ gọi cô ra.”
“Dĩ nhiên, thưa bà,” Leda nói. Nàng ngập ngừng và buộc mình nói tiếp, “Thưa bà… tôi xin phép được nói chuyện riêng với bà nếu bà rảnh được không?”
Bà Isaacson ném cho Leda cái nhìn sắc lẻm. “Ngay lúc này thì không. Có phải về bộ váy mới để mặc trong phòng trưng bày?”
“Tôi đang ở một mình, thưa bà. Và hiện giờ…” Ôi, thật tồi tệ khi phải nói ra điều này. “Hiện giờ tôi đang rất khó khăn, thưa bà.”
“Theo lệ thường, chi phí có thể được trừ vào tiền lương của cô. Sáu xu một tuần là điều khoản đã được thỏa thuận trong hợp đồng.”
Leda nhìn xuống. “Với số tiền ít ỏi còn lại, tôi khó mà sống được, thưa bà.” Bà Isaacson đứng im một lúc. “Cô phải ăn mặc phù hợp với vị trí của mình. Tôi không thể cho phép sửa đổi hợp đồng, cô biết rồi đấy. Cô đã được thông báo rõ ràng mọi điều khoản khi đến chỗ chúng tôi. Điều này sẽ đặt ra tiền lệ vượt ngoài khả năng chúng tôi có thể xử lý.”
“Vâng, thưa bà,” Leda uể oải đáp lời.
Một khoảnh khắc im lặng ngắn ngủi trôi qua, gần như không thể chịu đựng nổi. “Để tôi tìm cách thu xếp xem có được không,” cuối cùng bà Isaacson cũng cất tiếng.
Leda nhẹ hết cả người.
“Xin cảm ơn, thưa bà. Xin cảm ơn.” Nàng nhún gối chào còn bà Isaacson vội vàng nhấc váy và quay người rời đi.
Leda nhìn xuống xấp danh thiếp. Như đã trở thành thông lệ trong năm dành cho khách phương xa này, người bên Bộ Ngoại giao đã gửi kèm những tờ giấy hướng dẫn nghi thức hữu ích. Bên dưới ngày tháng là lịch hẹn.
Đoàn Nhật 8 giờ sáng.
Công chúa hoàng tộc Terute-No-Miya của nước Nhật. Gọi trân trọng là Công nương. Không nói tiếng Anh.
Hoàng phu Okubo Otsu của nước Nhật. Gọi trân trọng là Quận công. Không nói tiếng Anh.
Phu nhân Inouye của nước Nhật. Ái nữ và đại diện của Công hầu Inouye, Bộ trưởng bộ Ngoại giao Nhật, gọi trân trọng theo nghi thức ngoại giao là Phu nhân. Thông thạo tiếng Anh, được giáo dục tại Anh, dễ giao thiệp.
Đoàn Hawaii (Đảo quốc Sandwich) - 10 giờ sáng.
Nữ hoàng Kapiolani của quần đảo Hawaii. Gọi trân trọng là Nữ hoàng. Nói một chút tiếng Anh, cần phiên dịch.
Công chúa Liliyewokalani, Công chúa của đảo Hawaii. Gọi trân trọng là Công nương. Thông thạo tiếng Anh, dễ giao thiệp.
Phu nhân Ashland, Nữ hoàng hầu tước Ashland và con gái là Tiểu thư Catherine. Hiện cư ngụ tại hòn đảo Hawaii. Thân thiết với Nữ hoàng và Công chúa Hawaii.
Leda xem đi xem lại các tờ chỉ dẫn, ghi nhớ tước hiệu trong khi cô học việc hoàn tất gấu váy. Đây là môi trường đích thực của Leda. Quý cô Myrtle Balfour đã rất nhiệt huyết trong việc dạy dỗ Leda nhưng khuôn phép chuẩn mực để nàng được kiểm định bởi những người đã được xã hội thượng lưu công nhận. Quả thật, Leda đã được các góa phụ và phụ nữ luống tuổi chưa chồng ở phố South chân thành đón nhận. Bầu không khí của vụ tai tiếng thú vị mà quý cô Myrtie vẫn giữ được từ những ngày cùng kẻ tồi tệ kia, dù qua gần bốn mươi năm lặng lẽ sống ẩn dật trong căn nhà của cha mẹ bà, là tấm giấy thông hành cho bất cứ cơn bốc đồng kỳ lạ nào. Một người họ Balfour được phép, thậm chí được cổ vũ, nuôi tính lập dị - nó mang nét phiêu lưu táo bạo đầy ngọt ngào vào cái xã hội nhỏ kín đáo ở phố South.
Cho nên những phụ nữ quyền quý phố South đã lên mặt và thẳng thắn tỏ thái độ lạnh lùng với bất cứ ai dám nghi vấn sự khôn ngoan của quý cô Myrtle khi bà có ý tưởng dám con gái của một phụ nữ Pháp về nhà, đùm bọc Leda trong vòng tay gia giáo của họ, và nàng cứ thế lớn lên giữa những đóa hoa phai tàn của giới quý tộc Mayfair, xem đám con gái lớn của các bá tước và nam tước và người thân thiết.
Nhưng những vị vương tôn, công nương này phần nào vượt ra khỏi khuôn khổ quen thuộc của Leda, Bộ Ngoại giao đã rất tử tế và tận tâm khi nêu rõ những mối quan hệ đa dạng, để có thể tránh bất cứ nhầm lẫn bất tiện nào. Mọi thứ rồi sẽ tốt đẹp cả thôi, như cái lần các phu nhân Maharani, Xiêm La và đám phụ nữ Trung Quốc đến vào tuần trước.
Gấu váy đã xong, nàng bắt đầu chọn vải, mang lần lượt những cuộn gấm thêu, nhung và lụa nặng trịch đến chất sau các quầy hàng của phòng trưng bày, nơi có những ô cửa kính cao phản chiếu họa tiết sặc sỡ của tấm thảm trải sàn màu tím và hổ phách trong căn phòng lớn. Những cô gái đang ở đó cũng làm công việc tương tự, chuẩn bị cho đám đông khách hàng thường lui tới, hầu hết họ đều hẹn lịch trễ hơn và giờ giấc văn minh hơn. Nàng vừa đặt cuộn lụa sọc cuối cùng lên trên đống vải thì người giữ cửa đưa đoàn vương tôn Nhật Bản vào.
Madame Eilse họ Isaacson vội chạy tới, rê chân, nhún gối trước bốn phu nhân mảnh dẻ phương Đông đang đứng như những con nai sợ sệt trong khung cửa. Tất cả đều nhìn chăm chăm vào mũi giày phong cách phương Tây của mình, hai bàn tay ép sát vào váy. Đường ngôi chia mái tóc đen như mun nổi bật thành hàng thẳng tắp, trắng như khuôn mặt màu sứ của họ. Madame Elise cất lời chào trang trọng bằng giọng Pháp trong trẻo, và mời họ vui lòng đi theo mình.
Rồi bà ta lùi lại. Đến bước thứ ba, rõ là chẳng có phu nhân Nhật Bản nào chịu đi theo. Họ vẫn đứng yên đó, nhìn đau đáu xuống sàn nhà.
Madame Elise liếc người giữ cửa và hé miệng, Phu nhân Inouye? Lông mày nhướng cao. Người giữ cửa dường như hơi nhún vai một chút. Bà ta buộc phải nói to hơn, bằng tiếng Anh, không nhấn giọng, “Phu nhân Inouye, tôi có thể mạo muội nhận lấy vinh dự này không, thưa phu nhân?”
Không ai lên tiếng. Một trong hai phu nhân Nhật Bản ở khuất phía sau yếu ớt ra hiệu bằng tay về phía người đứng trước mặt mình. Madame Elise bước một bước về phía đó. “Thưa phu nhân?”
Cô gái Nhật đặt nhưng ngón tay lên môi. Cô ta khẽ mỉm cười sau bàn tay, rồi bật ra một tiếng khúc khích e lệ. Bằng giọng nói nữ tính, dịu dàng, chỉ to hơn tiếng thì thầm một chút, cô ta nói điều gì đó không rõ, cứ như thể vừa ngậm nước vừa cố hát vậy. Rồi cô ta khẽ cúi người, chỉ ra cửa và lại cúi xuống.
“Ồ,” Madame Elise nói, “tôi cứ ngỡ phu nhân nói tiếng Anh.”
Cô gái lại chỉ tay ra cửa. Sau đó đặt ngón tay lên cổ, nghiêng người, và ho một tiếng rất giả tạo. Rồi lại chỉ tay ra cửa.
Mọi người ngơ ngác đứng im.
“Madame Elise?” Leda đánh bạo lên tiếng. “Có khi nào Phu nhân Inouye không tới chăng?”
“Không tới ư?” Giọng Madame Elise thoáng sợ hãi.
Leda bước lên. “Phu… nhân,” nàng nói, chậm rãi và rõ ràng, rồi đặt bàn tay lên cổ, ho giống cô gái khi nãy và cũng chỉ tay ra cửa.
Cả bốn phu nhân người Nhật cúi mình, nghi thức chào hỏi của họ rất đa dạng, từ cúi thấp ngang eo đến một cái gật đầu khẽ.
“Ồ, ồ,” Madame Elise nói.
Một khoảnh khắc im lặng nữa trôi qua.
“Cô Etoile,” Madame Elise đột ngột bảo Leda, “cô có thể ra tiếp khách.” Bà ta nắm khuỷu tay Leda và kéo nàng lên trước, chưng nàng ra như một món quà rồi nhún gối lùi lại, rời khỏi hàng.
Leda hít một hơi. Nàng không biết ai là công chúa và ai là vợ quận công, nhưng đoán chắc họ là hai người đứng trước, chỉ hơi gật đầu chứ không cúi chào. Nàng khoát tay, cố gắng ra hiệu cho họ đến ngồi ở những chiếu ghế đã để sẵn quanh quầy hàng lớn nhất.
Như một đàn ngỗng nhỏ ngoan ngoãn, họ bước từng bước rất ngắn về phía ghế ngồi. Hai người ngồi vào ghế, hai người khác duyên dáng quỳ xuống sàn, mắt nhìn xuống.
Tốt thôi, rõ ràng hai người ngồi ghế thuộc hoàng tộc, hai người còn lại chắc là tùy tùng. Leda lấy một cuốn sách thời trang từ quầy hàng. Giữa công chúa và quận công phu nhân, nàng cũng không chắc ai có thứ bậc ưu tiên nên quyết định đưa nó cho người lớn tuổi hơn.
Bà ta hơi ngả ra sau với một cử chỉ từ chối, phẩy tay trước mặt như cái quạt.
Leda nhún sâu gối tạ lỗi với người kia, đồng thời đưa quyển sách sang.
Người này cũng từ chối nhận cuốn sách dày. Leda đứng với quyển sách dày cộp trên tay, tuyệt vọng nhìn hai người đang quỳ dưới sàn. Chắc chắn là không… có lẽ nào ở nước họ người có địa vị cao lại ngồi thấp hơn? Nàng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đưa cuốn sách cho vị phu nhân quỳ gần mình nhất.
Đó là người lúc trước đã ra dấu hiệu về việc Phu nhân Inouye bị khó ở. Giờ đây, cô ta cũng giương một bàn tay từ chối nhận sách. Rồi cô ta quay sang nói nhỏ nhẹ với vị phu nhân trẻ hơn đang ngồi trên ghế, người này thì thầm đáp lại. Leda ngơ ngác đứng im trong lúc họ lầm bầm trao đổi. Rồi cô gái quỳ dưới đất quay lại, cúi thấp trán xuống sàn và nói, “San-weesh.”
Leda cắn môi rồi trấn tĩnh lại rất nhanh. “San-weesh,” nàng lặp lại. “Thời trang?” nàng nói thêm, đưa cuốn sách ra lần nữa.
Nhưng nó vẫn bị dứt khoát từ chối. Leda nhún gối lần nữa và đi ra sau quầy hàng. Nàng nhấc hai cuộn vai nhung và đem ra. Cũng có thể họ muốn chọn vải trước.
Đó là một nỗ lực bất thành. Các vị phu nhân Nhật Bản nhìn chằm chằm cuộn vải nhung nhưng không có ý định chạm tay vào. Rồi họ bắt đầu rì rầm trò chuyện với nhau.
“San-weesh,” người tùy tùng đang quỳ nói lại với Leda. “San-weesh aye- ran.”
“Xin thứ lỗi,” Leda bất lực nói. “Tôi không hiểu.” Nàng thử một tấm lụa màu xanh như vỏ chanh. Có thể họ đang tìm loại vải nhẹ hơn.
“San-weesh aye-ran,” vẫn là câu trả lời nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng. “San-weesh aye-ran.”
“Ồ!” Leda bỗng thốt lên. “Ý cô là đảo quốc Sandwich?”
Cô gái đang quỳ vỗ tay và cúi mình. “San-weesh!” cô vui vẻ lặp lại. Tất cả quý phu nhân người Nhật cười khúc khích. Người phụ nữ lớn tuổi hơn - có hàm răng đen khiến miệng bà tưởng như một khoảng trống tối om khi bà mở miệng - làm một động tác kỳ lạ và thực sự gây bối rối.
“Có phải cô muốn chờ nữ hoàng của đảo quốc Sandwich?” Leda hỏi.
Cô gái tùy tùng trả lời bằng một tràng tiếng Nhật. Leda nhún gối rồi lưỡng lự đứng đó. Các vị phu nhân đặt những bàn tay trắng mịn nhỏ nhắn vào lòng và cụp mắt xuống.
Trong hai tiếng đồng hồ, cho đến cuộc hẹn lúc mười giờ của Nữ hoàng đảo quốc Sandwich, tất cả đều giữ nguyên tư thế, với Leda đứng hộ tống cho nhóm nhỏ, họ vẫn kiên nhẫn ngồi chờ, không nhìn trái cũng không nhìn phải, chỉ đôi khi thì thầm to nhỏ với nhau. Ngắt quãng duy nhất của cuộc tra tấn tinh tế là khi Madame Elise có nhã ý đem đến một khay trà và bánh Savoy, các phu nhân thưởng thức với sự nhiệt tình duyên dáng và những tiếng khúc khích. Họ như những con búp bê luôn tươi cười, nhỏ bé và thẹn thùng.
Căn phòng trưng bày to lớn yên ắng đến mức ai cũng có thể nghe thấy tiếng xe ngựa dừng ngay bên ngoài tiệm và nhiều giọng Anh vang lên ở cửa trước. Leda nhẹ nhõm đến mức quên luôn cái lưng mỏi nhừ và nhún gối thật sâu. “Đảo quốc Sandwich,” nàng hồ hởi cất tiếng, chỉ ra cửa sổ.
Tất cả các phu nhân Nhật Bản nhìn lên và mỉm cười, rồi cúi mình ở các mức độ khác nhau.
Một thoáng sau đoàn Hawaii đã đến trước cửa. Một phụ nữ trang nghiêm, chậm rãi bước vào phòng trưng bày trước tiên, khoác một bộ váy lụa tím vừa khít với vòng một đầy đặn. Theo sau là một phu nhân cũng đậm người và duyên dáng không kém, trẻ hơn và xinh xắn hơn một chút, tóc nâu, gò má rộng, và có vẻ điềm tĩnh mang khí chất vương giả.
Madame Elise bước tới và nhún gối chào thật sâu. Người đi sau nói, “Chào buổi sáng” bằng giọng Anh êm ái và hoàn toàn dễ hiểu. Bà gật đầu về phía người phụ nữ mặc váy lụa tím. “Chị gái ta, Nữ hoàng Kapiolani.”
Với một tiếng thở nhẹ nhõm rõ to, Madame Eilse trở lại với giọng Pháp đặc trưng. “Rất vinh hạnh khi có sự hiện diện của Nữ hoàng tại cửa tiệm hèn mọn của Madame Elise,” bà ta đon đả, dẫn hai vị phu nhân vào trong.
Ở phía đằng sau, những người còn lại đều dừng chân trước ngưỡng cửa. Leda nhìn nên, và nàng suýt nữa quên mất phép lịch sự trong giây lát vì không thể che giấu cái nhìn đầy ngưỡng mộ.
Cùng đứng trong khung cửa là hai phụ nữ xinh đẹp nhất nàng được chiêm ngưỡng đồng thời tại cùng một nơi. Họ có gò má cao và làn da bóng mượt như nhau, mái tóc đen nhánh óng ả và cặp mắt đẹp diệu kỳ, người mẹ và con gái tạo nên một khung cảnh làm say lòng người. Cả hai đều ăn vận giản dị, Phu nhân Ashland trong bộ váy màu xanh dương sậm, khiêm tốn phủ lên khung độn váy khá kín đáo, khác xa vẻ ngoài nhìn nghiêng như gà mái của chiếc áo choàng Leda đang mặc. Cô con gái - tiểu thư Catherine, tấm danh thiếp gọi như vậy - mặc bộ váy hồng nhạt cho thiếu nữ lần đầu ra mắt, thân váy phồng nhỉnh hơn chút xíu so với độ rộng đang là mốt.
Madame Eilse vẫn còn bận bịu với cuộc giao tiếp giữa Nữ hoàng đảo quốc Sandwich và các phu nhân Nhật Bản nên Leda bước tới chào đón Phu nhân Ashland và con gái.
Phu nhân Ashland mỉm cười thân thiện, làm lộ nhưng nếp nhăn quanh mắt không có ở cô con gái. “Chắc cô bận bịu lắm,” bà nhã nhặn nói. “Chúng tôi sẽ không làm cô mất nhiều thời gian đâu - Nữ hoàng muốn một bộ váy ban ngày đặc biệt từ Madame Elise. Người đã dặn chúng tôi nói với các cô là không cần gấp lắm.”
Leda lập tức muốn ưu tiên cho bạn bè của vị phu nhân dễ chịu này trước những người khác. “Được phục vụ Nữ hoàng là vinh dự lớn lao, thưa phu nhân. Chúng tôi rất vui lòng được giúp phu nhân bằng bất cứ hình thức nào phu nhân yêu cầu. Sẽ không hề phiền hà gì cho cửa tiệm chúng tôi…”
Phu nhân Ashland cười và nhún vai. “Chà, ta không mấy ưa thích ba cái chuyện thời trang tầm phào, nhưng có thể…” Bà nhìn con gái dò hỏi. Leda trông thấy mái tóc đen nhánh của bà điểm xuyết những sợi bạc. “Con có định chọn gì không, Kai?”
“Mẹ ngu ngơ tội nghiệp ơi,” tiểu thư Catherine nói bằng giọng Mỹ sôi nổi. “Mẹ biết con cũng thích coóc xê nhiều như mẹ mà.” Cô nghiêng đầu và mỉm cười đầy tin tưởng với Leda. “Tôi không thể chịu nổi nhưng thứ khủng khiếp đó.”
Không coóc xê? Tiểu thư Catherine được trời phú cho dáng người sẽ vẫn thanh lịch kể cả khi khoác bao tải bột mì, nhưng không mặc coóc xê ư? Leda có thể nghe tiếng quý cô Myrtle văng văng từ hầm mộ. “Chúng tôi có áo cánh màu hồng phấn,” nàng nói. “Nó rất hợp với một bộ áo dài buổi sáng. Thoải mái và nhẹ, nhưng cũng rất trang nhã.”
Người phụ nữ trẻ hơn hơi nhìn lên từ dưới hàng mi, một ánh mắt thích thú khó nhận thấy mà Leda để ý ngay lập tức. Cô mỉm cười và phất tay về phía quầy hàng.
“Phu nhân Tess?” Giọng trầm và ngọt ngào của công chúa người Hawaii ngắt quãng cuộc trò chuyện của họ. “Có chút khó khăn với đoàn hoàng tộc đây.”
Mọi hy vọng về việc Nữ hoàng đạo quốc Sandwich có thể giao tiếp với những phu nhân Nhật Bản dường như đã tan tành. Madame Eilse trông khá lo âu khi đứng giữa nhóm người xa lạ, nơi một số người của đoàn Nhật đang vẽ những hình thù mơ hồ trong không khí, và có vẻ chúng hoàn toàn vô nghĩa với chị em Nữ hoàng Hawaii.
“Chúng tôi không có người phiên dịch,” Leda giải thích với Phu nhân Ashland, “nhưng có vẻ họ rất kiên quyết với một ý tưởng nào đó mà chúng tôi không tài nào đoán ra.”
“Samuel!” Phu nhân Ashland và con gái đồng thanh.
“Anh ấy đã đi chưa nhỉ?” Tiểu thư Catherine bật thốt, chạy đến cửa sổ. Cô nâng khung cửa lên và nghiêng người ra ngoài. “Samuel!” cô gọi to, bằng tông giọng hơi thiếu đoan trang. “Mano Kane, chờ đã! Vào đây đi!” Giọng cô hạ xuống thành tiếng lẩm bẩm trìu mến. “Bọn em cần anh, Mano, đến cứu nguy lần nữa đi nào.”
Phu nhân Ashland chỉ đứng đó, không có động thái nào muốn kiềm chế màn phô bày bừa bãi của con gái. Tiểu thư Catherine quay lại. “Túm được rồi!”
“Quý ông Gerard có thể phiên dịch,” Phu nhân Ashland nói.
“Ồ, đúng đấy, anh ấy nói tiếng Nhật thạo lắm.” Tiểu thư Catherine gật đầu khích lệ với các quý bà phương Đông. “Thật may vì anh ấy đưa chúng tôi đi sáng nay.”
Đúng vậy, với Leda, đây đúng là tình huống may mắn đặc biệt, vì nàng cho rằng không thể có nhiều người với tài năng khác thường như thông thạo tiếng Nhật lại tình cờ tháp tùng các quý bà quanh những tiệm may váy London trong quãng thời gian này. Nhưng Phu nhân Ashland và con gái bà đã sống gần nước Nhật hơn, dĩ nhiên.
Ít nhất thì đó là phỏng đoán của Leda. Chính nàng cũng không hoàn toàn biết chính xác vị trí của quần đảo Sandwich.
Nàng quay mặt về phía hành lang, chờ đợi những nhà kinh doanh Yankee để ria mép rong ruổi khắp chốn trong chiếc gi lê gọn gàng và giọng nói ầm ĩ. Người giữ cửa bước vào phòng, và trong âm sắc phô trương mà Madame Elise quả quyết sẽ đem lại ấn tượng thật trang trọng, hô to: “Ông Samuel Gerard!”
Căn phòng toàn phụ nữ chợt lặng ngắt khi quý ông Gerard xuất hiện nơi ngưỡng cửa… tiếng hít vào vang lên đồng thời khi họ thấy bóng dáng anh - một thiên thần Gabriel giáng thế với mái tóc vàng hơi rối, chẳng thiếu gì ngoài đôi cánh.