Bóng Tối Và Ánh Sao

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 30 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17

❊ ❊ ❊

Quý cô Myrtle chưa bao giờ có mâu thuẫn nào với những tò mò vô hại, thật vậy, bà thường nói nó như một thứ gia vị cần thiết cho cuộc trò chuyện của những quý bà quý cô đã biết nhau quá rõ, những người không có thói quen xấu như buôn chuyện hay tọc mạch làm tổn hại đến danh tiếng. Các quý bà quý cô ở phố South cũng đồng ý là họ không hề có những thói quen đó.

Quý cô Lovatt có vẻ hơi sửng sốt sau khi Leda thông báo về công việc mới của nàng. “Amanuensis!” bà thốt lên.

“Một từ dài làm sao,” Phu nhân Cove thì thầm. “Em không thích bị bắt phải phát âm từ đó dù dám nói rằng người cha yêu quý của chúng ta sẽ nói thật lưu loát và chính xác được ngay.”

“Nó là tiếng La tinh, phải vậy không?” quý bà Wrotham tỏ ra e ngại. “Tôi chưa bao giờ thấy thoải mái với tiếng La tinh. Dường như nó là thứ ngôn ngữ rất nam tính, và là một tử ngữ. Sao người ta lại muốn nói cái thứ tiếng hết thời thế nhỉ?”

Phu nhân Cove rùng mình. “Như nuốt cá vậy.”

“Cá!” Quý cô Lovatt cau mày bực bội với em gái. “Từ đó không liên quan đến cá. Nó chỉ một người chuyên ghi chép.”

“Vâng,” Leda vội nói, “và cháu có phòng ngủ riêng trong biệt thự, cùng tất cả những gì cần thiết cho việc thư từ, giấy trắng, bút và những thứ tương tự, thay vì một cái bàn bình thường, quý ông Gerard cho phép cháu dùng cái bàn viết rất đẹp mà Phu nhân Ashland thừa hưởng từ cha, Bá tước Morrow quá cố, do chính ngài thiết kế và chế tác đến từng chi tiết, bằng thứ gỗ quý mang về từ vùng biển Nam. Ngài Morrow từng là một nhà du hành và thám hiểm xuất chúng, quý ông Gerard nói vậy, và trong nhà đầy những thứ mang từ nước ngoài về.”

“Quý ngài có nói tiếng La tinh không?” Quý bà Wrotham hỏi, vẫn tỏ ra băn khoăn.

Quý cô Lovatt cho rằng câu hỏi này không liên quan gì đến vấn đề chính. Sau khi mạnh bạo nhắc nhở quý bà Wrotham bằng một gợi ý sắc bén rằng chính quý ông Wrotham, không kể Ngài Cove, đều đã nói tiếng La tinh, hay ít nhất cũng đọc ngôn ngữ đó như bất kỳ quý ông nào từng theo học ở Eton, bà liếc một vòng quanh nhóm người và nói, “Mọi người đã nhận ra, tất nhiên, gia đình này là ai rồi chứ?”

Leda và các quý bà còn lại đều khiêm tốn thừa nhận sự kém hiểu biết của mình.

“Cháu thì quá nhỏ không nhớ được,” quý cô Lovatt trấn an Leda. “Nhưng Phu nhân Cove và quý bà Wrotham phải có ấn tượng chứ. Thảm kịch nhà Ashland… ồ, cũng đã bốn mươi năm còn gì. Cả gia đình, và bọn trẻ nữa, chết trong trận hỏa hoạn trên con tàu trở về từ Ấn Độ. Một chuyện khủng khiếp, khủng khiếp - ngài hầu tước già tội nghiệp đây chẳng còn gì trong tay - tôi tin người thừa kế của ông còn chưa kịp kết hôn và gia đình của cậu con thứ cũng ở hết trên tàu. Họ đều bị chết cháy.”

“Có, em còn nhớ!” Phu nhân Cove nói, buồn bã lắc đầu. “Đó đúng là nỗi bất hạnh kinh khủng. Em vẫn nhớ như in, đó là năm Ngài Cove tới Paris làm ăn, thậm chí tờ Chronicle ở St. James cũng viết về thảm kịch đó, bởi họ là gia đình dòng dõi, về những đứa trẻ đáng thương và chuyện bọn cướp biển đã giết chúng. Chẳng bao lâu sau thì diễn ra cuộc nổi loạn ở Ấn Độ, và ôi những câu chuyện đáng sợ đến khó tin! Em không thể chịu đựng nổi, em không dám đọc, nhưng thiên hạ liên tục nói về nó cho tới khi nó làm trái tim ta tan nát.”

“Ừ, đúng vậy… đáng sợ,” quý cô Lovatt nói, nhanh chóng bỏ qua cuộc nổi loạn. “Nhưng em có nhớ chuyện gì xảy ra với nhà Ashland ở đoạn kết không - đứa cháu trai không chết mà rong ruổi khắp thế giới cho tới khi trưởng thành, trên con tàu tưởng đã cháy rụi đó, sau đó trở về và trả thù người anh họ…”

Bà đột ngột dừng lại và cau mày, trông có vẻ bực bội. “Tôi tin đó là người anh họ, ngay lúc này thì chưa nhớ được tên cậu ta… Ellison… Elmore…”

“Eliot!” Phu nhân Cove nói, ngồi thẳng dậy, phấn khích phe phẩy hai tay. “Ồ, đúng vậy. Em vẫn nhớ rõ như thể chuyện mới xảy ra hôm qua! Một phiên tòa nổi tiếng!”

“Phiên tòa cuối cùng xử một quý tộc trước Thượng viện,” quý cô Lovatt nói, cố giữ giọng phù hợp với sự nghiêm túc của đề tài họ đang bàn luận. “Theo yêu cầu của Nữ hoàng. Vậy đó! Mọi người thấy gia đình này là thế nào rồi chứ.”

Leda và quý bà Wrotham chỉ chớp mắt bối rối trước kết luận đầy hoan hỉ cho câu chuyện nghe khá lằng nhằng. “Tôi chắc mình không hiểu việc những đứa trẻ bị chết cháy trong Thượng nghị viện thì có dính dáng gì đến Leda hơn là tiếng La tinh,” quý bà Wrotham nói với giọng dằn dỗi.

“Tất nhiên là không dính dáng gì đến tiếng La tinh,” quý cô Lovatt tuyên bố chắc nịch. “Leda hiện đang làm việc cho người đó. Ngài Ashland. Hầu tước.”

“Không, không,” Leda nói. “Ngài ấy không phải hầu tước. Ngài ấy là quý ông Gerard.”

Quý cô Lovatt nhìn nàng đầy thương hại. “Cháu là một cô gái ngoan, Leda, nhưng không quá thông minh. Ta chắc mình không biết cháu là dạng amanuensis nào nếu cháu cứ lúng ta lúng túng như vậy. Ta không nói về quý ông Gerard. Ta nói về những mối quan hệ của cậu ta. Ngài Ashland và phu nhân. Cùng là một người, cháu không thấy sao Vị hầu tước mất tích ấy.”

“Ồ,” Leda nhún nhường nói.

“Và ngài ấy lấy ai vậy?” Quý cô Lovatt tự hỏi. “Còn một vụ tai tiếng khác liên quan đến chuyện đó… ta không thể nhớ… Cháu nói là Morrow à?”

Leda được giao nhiệm vụ đi lấy quyển Danh sách quý tộc của quý bà Wrotham để trong phòng ngủ. Khi nàng trở lại, các quý bà xông tới cuốn sách như thể đó là tấm thẻ bài được mang từ trên núi xuống, tế nhị tranh luận xem ai là người thích hợp để nghiên cứu. Phu nhân Cove nhanh chóng bị loại vì không thể đánh vần, và quý bà Wrotham, dù giữ quyền sở hữu cuốn sách, lại không thể lật trang đủ nhanh cho quý cô Lovatt, người cuối cùng giành lấy nó và tiến hành việc nhận dạng.

“Meridon,” bà đọc to, soát dọc theo trang sách bằng cái kính cầm tay. “Gryphon, Arthur. G-R-Y-P-H-O-N. Đúng là cách đánh vần từ Griffon một cách ngớ ngẩn! Ngài Ashland, Hầu tước đời thứ sáu, Bá tước Orford đời thứ mười và Tử tước Lyndley đời thứ mười bốn, sinh năm 1838, con trai Ngài Arthur Meridon xứ Ashland và Calcutta với Phu nhân May Caroline Ardline, kết hôn với Phu nhân Terese Elizabeth Coliler, con gái Ngài Morrow, có một trai một gái, đi khắp nơi thám hiểm khoa học và thực vật học, cố vấn hải quân cho nhà vua Ka… Kala… tôi không tin mình đánh vần nổi cái tên đó - nhà vua của đảo quốc Hawaii, Chủ tịch Công ty trách nhiệm hữu hạn Arcturus, giám đốc của - một cái tên nước ngoài - K-A-I-E-A…”

“Ồ, đúng rồi,” Leda hăm hở nói. “Đó là công ty của quý ông Gerard.”

“Chú ý không ngắt lời người lớn, Leda,” quý cô Lovatt nói. “Ngài Ashland là người điều hành công ty này, chủ tịch một số tổ chức có vẻ là từ thiện liên quan đến thủy thủ, thành viên của nhiều câu lạc bộ, rất thích tiêu khiển bằng du thuyền. Cơ ngơi của ngài ấy ở Ashland, Hampshire. Những nơi khác bao gồm Westpark, Sussex, và Ho-no-lu-lu, Hawaii.”

“Họ đến cùng đoàn Hawaii để dự Lễ Jubilee,” Leda ướm lời, “nhưng quý ông Gerard nói họ chưa xác định ngày kết thúc chuyến thăm. Ngài ấy tin rằng họ có thể chuyển đến nhà phu nhân Ashland tại Westpark và ở đó cho tới mùa thu.”

“Ashland,” quý bà Wrotham lẩm bẩm, nhẩm ngón tay. “Ồ, tôi tin mình đã thấy cái tên đó - lấy cho ta thông cáo của triều đình nào, Leda yêu quý. Ta chắc nó ở ngay trên bàn trang điểm thôi.”

Leda, vốn biết quý bà Wrotham quá rõ, hơi nghi ngờ sự chắc chắn của bà, cuối cùng cũng tìm thấy tờ giấy trên tủ bát đĩa của phòng ăn sáng. Sau một cuộc đào sâu nghiên cứu nữa, những cái tên Ngài Ashland và phu nhân được ghi chú đã tham gia vài chương trình đặc biệt của Lễ Jubilee, như Leda đã nói, và con gái của hai người, tiểu thư Catherine Meridon được xác nhận đã có vinh dự diện kiến Nữ hoàng. Khi tên của quý ông Gerard được tìm thấy, khá tình cờ, ở dòng chữ in nhỏ xíu trong danh sách dài dằng dặc những người được mời dự tiệc trong vườn của Nữ hoàng, thì công việc của Leda đã được đảm bảo. Nếu văn phòng của quan thị thần xem quý ông Samuel Gerard đến từ Honolulu đủ tư cách có mặt trong các buổi lễ tại triều đình - những buổi không chính thức - thì các quý bà quý cô ở phố South đương nhiên cũng sẽ làm như vậy.

Những vụ tai tiếng xa xưa, chỉ còn mờ mờ trong ký ức được lãng quên ngay. Từ chỗ còn nghi ngờ công việc mới của Leda, các quý bà quý cô bắt đầu nể phục nàng và mối quan hệ cao quý đó, và quý bà Wrotham thấy mình nên đội chiếc mũ vải Paris tốt nhất thay cho chiếc mũ đăng ten hạng hai và xin Leda thứ lỗi vì đã coi nhẹ biểu hiện của sự tôn trọng đó. Leda van nài bà đừng để tâm nhưng quý bà lớn tuổi thực sự lo lắng, vài lần bày tỏ mong muốn Leda đừng nghĩ bà thiếu lịch sự, hy vọng nàng có thể ghé lại vào tuần sau để mọi thứ được chuẩn bị theo đúng lễ nghi, và quý bà Wrotham sẽ có thời gian đặt đầu bếp làm món bánh chanh đặc biệt mừng nàng ghé thăm.

Leda rời đi trong bầu không khí ấm áp của những lời chúc tụng nổ thành tràng tán thưởng khi họ nhận ra chiếc xe ngựa đang chờ nàng ngoài phố là do quý ông Gerard phái tới. Trong giây lát, quý cô Lovatt hơi cau mày và không chắc việc Leda bị nhìn thấy trong xe của một quý ông độc thân là đúng phép tắc, nhưng rồi bà tự thuyết phục rằng đó là chiếc xe mui trần, được trang trí giản dị chỉ với một đường viền mỏng màu vàng quanh những bánh xe, và một người giữ cửa ngồi cạnh người đánh xe, cả hai đều đội mũ cao, đi găng trắng, thực sự không ai còn tìm thấy chút thiếu đứng đắn nào trong việc này. Đó là biểu hiện quan tâm đúng mực, bà tin vậy, khi cho một chiếc xe phù hợp phục vụ thư ký của mình. Bà tin chắc quý ông Gerard phải là một quý ông xuất chúng.

Mặc dù Leda, với tư cách là mối quen biết thân tình ở phố South, đã kéo dài buổi thăm viếng của nàng lâu hơn mười lăm phút, nhưng nàng vẫn quay lại Dinh thự Morrow vào đầu giờ chiều. Sheppard thông báo với nàng rằng quý ông Gerard vẫn bận bịu với công việc trong phòng riêng. Mấy ngày qua, Leda đã biết ông chủ của mình dành nhiều thời gian làm việc trong đó, nhưng bản chất công việc thế nào thì không ai được biết, và nàng rõ ràng là người duy nhất thấy tò mò về nó. Nhưng sau đó, nàng nhận thấy mình tò mò mọi chuyện về quý ông Gerard, và đã phải nghiêm khắc nhắc nhở bản thân không được như vậy.

Anh đã nhắn Sheppard rằng anh muốn nàng đợi anh trong thư viện. Leda ngoan ngoãn chấp thuận sau khi nhận lời mời uống trà của Sheppard. Kinh nghiệm cho biết khay trà sẽ có đầy bánh hạnh nhân, xăng uých, bánh nướng và kem rất không đúng nghi thức, nhưng vì đã bỏ qua bữa trưa do sự thiếu thốn ở phố South, nàng rất sẵn lòng hành xử thiếu tế nhị.

Nàng nghĩ với khoản thù lao đầu tiên mà nàng tin là sẽ được trả vào thứ Hai, nàng có thể gửi một giỏ đầy đồ ăn ngon từ tiệm Harrods tới phố South - thậm chí có thể tổ chức bữa tối nhỏ trong một phòng riêng kín đáo ở Claridges nếu thuyết phục được các quý bà quý cô vào khách sạn.

Trước khi khay trà đến nơi, Leda xem xét tình huống cuộc gặp với quý ông Gerard trong thư viện, và mở cả ba cửa phòng. Anh sẽ không thích, chẳng nghi ngờ gì việc anh nhất định đòi đóng hết lại, nhưng Leda quyết tâm ít nhất cũng phải thử một lần. Nàng đứng một lát nhìn quanh căn phòng khiêu vũ vắng tanh, chiêm ngưỡng lớp sơn tường đẹp đẽ và những chùm đèn khổng lồ. Nơi này nổi tiếng là căn phòng trang hoàng lộng lẫy số một ở Mayfail. Thêm vào vẻ quý phái nhất hạng của pha lê và đồ mạ vàng, giữa mỗi cửa sổ là những giá cao đầy hoa lan tươi bung nở trong sắc vàng nhạt và vàng rực, tương phản với những bức tường phủ gấm đỏ thẫm. Leda tưởng tượng ra một điệu valse, nhưng chiếc váy xòe rộng quay tít đủ màu khi những quý cô nhấc đuôi váy trên cánh tay đi găng, các quý ông mặc lễ phục đen bảnh bao. Nàng không có cơ hội học nhảy valse nhưng nàng đã được xem một lần, và hình dung đó phải là cảm giác đê mê nhất khi xoay tròn trên sàn, trong tiếng nhạc du dương.

Nàng không thể cưỡng lại ý nghĩ sẽ khiêu vũ với quý ông Gerard và trở nên cáu giận với bản thân. Trà được người giữ cửa mang vào và Leda ngồi xuống chiếc ghế lưng thẳng giả tre.

Nàng đã mang về một tờ Illustrated News. Nếu có thời gian, và có can đảm, nàng đã đến tận trụ sở tờ Times và yêu cầu xem những tờ báo được lưu giữ từ bốn mươi năm trước, nhưng sự dũng cảm của nàng còn thua xa tính tò mò. Và rốt cuộc, nàng cũng tận hưởng niềm vui dễ chịu không thể chê trách được là nhấp trà, trầm ngâm nhai bánh hạnh nhân trong khi đọc tin tức mới nhất về Lễ Jubilee. Tuần sự kiện đầu tiên đã qua phân nửa - sẽ có vài cuộc thao diễn vào ngày mai và bữa tiệc trong vườn của Nữ hoàng vẫn diễn ra vào thứ Sáu. Leda đọc các chi tiết nhỏ với sự thích thú đặc biệt, giờ nàng đã biết quý ông Gerard cũng được mời, dù anh không thể tham dự.

Tim nàng đập thình thịch khi thấy tiêu đề ở trang hai. ĐÃ TÌM RA THANH KIẾM NHẬT. Bên dưới, dòng tít phụ cho biết Tên Trộm Vẫn Tự Do. Nàng cau mày đọc chăm chú, hóa ra chẳng có tiến triển gì trong việc xác định nhận dạng tên tội phạm, hoặc chí ít là, thông tin về độ tiến triển không được cung cấp cho các phóng viên. Thanh kiếm được tìm ra bởi một nhân viên địa ốc trong chuyến kiểm tra định kỳ một ngôi nhà không nội thất ở Richmond - cách Bermondsey nhiều dặm đường. Giờ đây, khi tất cả những thứ bị đánh cắp đã được thu hồi, như một nguồn tin riêng ở Scotland Yard đã thừa nhận, cuộc điều tra có thể tạm thời đình trệ, vì phần lớn nhân lực của cảnh sát đã bị điều đi làm những nhiệm vụ khác trong suốt dịp Lễ Jubilee. Tổng kết của vụ án quái dị này có lẽ cũng chẳng khác gì việc đóng cửa một số cơ sở chuyên cung cấp dịch vụ thiếu đứng đắn không phải chịu hình phạt nào ngoài việc bị bêu tên trên mặt báo. Các nhà ngoại giao đang bận rộn xoa dịu những cơn giận dữ, và dường như vụ trộm hàng loạt kia cũng đang bị báo chí dần lãng quên.

Nàng tập trung độc báo đến nỗi chỉ kịp nhận ra những tiếng nói trong phòng khiêu vũ khi Phu nhân Ashland đã lướt qua cửa, và kinh ngạc ngẩng lên.

“Thằng bé làm gì cơ?” phu nhân thốt lên, như thể bà không nghe rõ vậy.

Căn phòng khiêu vũ được xây theo thủ thuật đặc biệt nào đó, khiến tiếng bước chân của Ngài Ashland và giọng nói trầm trầm của ông vọng tới thư viện, rõ ràng như giọng của bà vợ. “Thằng bé xin phép theo đuổi Kai. Đó thực sự là cách thằng bé nói. Theo kiểu lạc hậu nhưng thú vị, anh nghĩ vậy. Em biết Samuel mà.”

Leda đông cứng người với tách trà vẫn chưa chạm vào môi. Tâm trí nàng rối bời, không biết nên ra mặt hay lặng lẽ rời đi, hay chỉ đơn giản đứng yên và đóng cửa lại - nhưng nàng chẳng làm gì cả. Nàng ngồi yên và im lặng, lắng nghe… với sự tò mò vô hại.

“Ôi, lạy Chúa… em biết chuyện này sớm muộn cũng xảy ra,” Phu nhân Ashland nói. “Em đã đoán được từ nhiều năm trước.”

“Em không thích sao?” chồng bà hỏi với giọng nhẹ nhàng hơn, có chút ngạc nhiên.

“Anh đã nói gì với thằng bé?” bà gặng hỏi.

“Anh bảo thằng bé cứ tự nhiên làm những gì nó muốn, dĩ nhiên, còn gì…” Ông dừng lại khi thấy thái độ căng thẳng của vợ. “Anh không biết em sẽ phản đối.”

Leda quay mặt đi. Qua khe hở của bức bình phong kiểu Nhật Bản, nàng có thể thấy hình ảnh của Phu nhân Ashland phản chiếu qua chiếc gương lớn trên mặt lò sưởi. Bà dùng những ngón tay che miệng, như cố kìm nén lời phản đối. Khi ông chồng đặt tay lên vai bà, bà lắc đầu và bước vào vòng tay ông. Leda choáng váng nhận ra phu nhân đang thổn thức.

Leda biết nàng nên rời đi. Đây không phải chuyện nàng nên nghe. Nhưng nàng vẫn giữ im lặng.

“Anh không biết em lại phản ứng thế này,” Ngài Ashland thì thầm, vuốt tóc vợ, luồn những ngón tay vào mớ tóc đen nhánh, không hề quan tâm khi nó rũ xuống hai bàn tay mình. “Tess… phải chăng vì xuất thân của thằng bé?”

Phu nhân Ashland như vỡ òa, vẫn lắc đầu. “Không!” Bà lắc đầu dữ dội hơn. “Không! Anh nghĩ em có bao giờ phản đối thằng bé vì chuyện đấy không? Em không hề lo cho Kai. Con bé sẽ làm Samuel tổn thương. Dù không cố ý, nhưng Kai sẽ hủy hoại thằng bé. Con bé sẽ xé Samuel thành nhiều mảnh. Con bé còn quá trẻ, nó không bao giờ hiểu được mình đang làm gì… không bao giờ có thể hiểu được chuyện đó!”

Giọng bà có chút hoảng sợ, nhưng ông chồng không hề cãi lại những lời buộc tội mạnh mẽ con gái của chính họ. Ông lại ôm bà, đung đưa bà trong vòng tay mình, thì thầm. “Tess, Tess… Tess xinh đẹp của anh. Anh yêu em hơn cả cuộc sống này.”

“Em muốn thằng bé hạnh phúc,” bà nói ngắt quãng, ngả đầu vào vai ông. “Anh biết.” Bàn tay ông vuốt lưng bà. “Anh biết.”

“Nếu anh từng thấy nó hồi đó.” Khuôn mặt bà rúm ró, và bà lại khóc. “Ôi, nếu anh từng thấy thằng bé…”

“Tess dũng cảm của anh… em thường xuyên nghĩ đến chuyện đó lắm à?”

“Thỉnh thoảng thôi,” bà nói nhỏ.

“Nghe anh này.” Ông hơi kéo bà ra, và vuốt tóc ở thái dương bà ra sau. “Bất cứ lúc nào em nghĩ về chuyện đó, hãy đến với anh. Bất kể anh đang ở đâu. Bất kể anh đang làm gì… không quan trọng. Đến và ôm lấy anh.”

Bà hít sâu và gật đầu. “Em hứa nhé?”

Bà ngước lên nhìn ông. Rồi đưa cả hai tay lên mặt ông và nhìn chăm chú như thể ông là một báu vật vô cùng quý giá. “Em luôn tìm đến anh.”

“Xin tuân lệnh, thưa ngài.” ông nghiêm trang nói.

Bà mỉm cười qua những giọt nước mắt. “Xin tuân lệnh, thưa thuyền trưởng.” Ông nắm tay bà và hạ chúng xuống, giữ trong tay mình.

“Chúng ta không thể bắt Samuel hạnh phúc, em yêu. Chúng ta đã làm những điều tốt nhất cho thằng bé. Đây là cuộc đời thằng bé.” Bà cúi đầu. “Giá mà anh không đồng ý.”

“Tess… sao anh có thể làm vậy? Cho dù có biết cảm giác của em đi nữa… anh cũng không có cách gì để nói anh không cho phép thằng bé nghĩ đến chuyện kết hôn với Kai. Anh nói thế nào hay đưa ra những lý do gì không quan trọng… em biết thằng bé sẽ tin theo một hướng khác mà.”

“Rằng chúng ta nghĩ thằng bé không đủ tư cách,” bà nói, giọng nghẹn lại khiến Leda mãi mới hiểu được.

“Còn tệ hơn thế. Lạy Chúa, còn tệ hơn thế nhiều. Chúng ta là những người duy nhất biết chuyện. Chúng ta là những người có thể làm tổn thương thằng bé khi chỉ dùng sai một từ đặc biệt là em. Đặc biệt là em đó, Tess.”

Bà gật đầu, cố nuốt xuống tiếng nấc nghẹn ngào.

“Nếu em bảo thằng bé đừng mơ tưởng đến Kai, nghĩa là em đã giết nó dã man hơn Kai cả trăm lần.”

“Vâng… đó là lý do em chưa bao giờ…” Bà bật ra một tiếng kêu nhỏ, bất lực. “Em đã nhận ra điều này từ rất lâu rồi, em biết hết, nhưng em không đủ dũng cảm để làm bất cứ điều gì. Em chỉ mong mọi chuyện sẽ trôi qua. Em đã ước sẽ có một điều kỳ diệu xảy ra, ai đó sẽ yêu thằng bé… Samuel xứng đáng với một người có thể thấu hiểu, và cũng yêu thằng bé, còn Kai…” Bà siết chặt hai tay. “Em sẽ không thay đổi con bé dù chỉ mảy may, nhưng Kai quá trẻ và vô tâm, con bé đối xử với Samuel như thể… con bé thậm chí còn chẳng thấy cái cách Samuel nhìn mình.”

“Rồi con bé sẽ trưởng thành. Khôn ngoan hơn, hy vọng thế.”

“Quá nhanh, ôi, quá nhanh! Mà vẫn không kịp.” Bà xoay khỏi người ông. “Không kịp với Samuel.”

“Thằng bé là người trưởng thành,” Ngài Ashland chậm rãi nói. “Nếu con bé từ chối, em nghĩ thằng bé sẽ vượt qua được chứ? Ít nhất thì Kai cũng không biết gì về thân thế của Samuel. Thằng bé sẽ không thắc mắc có phải con bé từ chối mình vì chuyện đó.”

“Anh nghĩ thằng bé không thắc mắc ư? Giọng bà buồn bã. “Anh có nghĩ trong tim Samuel sẽ không tin người ta có thể nhìn thằng bé mà không thấy điều đó ư?”

“Tess…”

“Thằng bé không hề quên. Em đã không kịp tìm thấy nó. Em chỉ muốn nó quên đi mà thôi.”

Ông lại nắm tay bà và ngắm nghía, ủ nó giữa hai bàn tay mình. “Em cũng không quên.”

“Không hề. Và chuyện xảy ra với em… với Stephen… vài tháng trời trong căn phòng lạnh lẽo… chẳng là gì so với những thứ Samuel đã phải trải qua trong nhiều năm. Nó chỉ là một đứa trẻ…” Giọng bà nhỏ xuống. “Một bé con…”

“Thằng bé không còn là đứa trẻ nữa, em yêu. Nó đã trở thành một người đàn ông lợi hại.”

Bà quay về phía cửa sổ và im lặng. Ông đến sau lưng bà, ôm bà vào vòng tay. Họ đứng cùng nhau trong ánh nắng chiều muộn đổ lên người, một phụ nữ với khuôn mặt đẫm nước mắt, một người đàn ông giản dị và kiên định, không đưa ra hy vọng và giải pháp nào, chỉ đứng vững chãi sau lưng bà, ôm bà thật chặt.

“Anh đã nói gì với Kai chưa?” bà hỏi ông. “Chưa. Anh còn chưa gặp con bé.”

“Vậy đừng nói với con bé.”

“Cũng chẳng thay đổi được gì, em yêu ạ.”

“Xin anh,” bà nói.

Ông đưa tay lên vuốt mái tóc xõa của bà, để những sợi tóc len qua các kẽ tay. “Anh sẽ không nói với con bé. Samuel cũng không đề nghị việc đó.”

Phu nhân Ashland dựa vào người ông, vẫn nhìn ra ngoài cửa sổ.

“Hãy để người trông coi nhà kính chăm sóc cây cho em… cậu ta sẽ tưới nước cho nó.” Ngài Ashland xoay bà lại, đối diện với ông. “Đi dạo với anh nhé.”

Bà lau nước mắt. “Trong bộ dạng này sao? Ở London à?”

Ông chìa khăn tay ra. “Vậy thì hay tự giam mình lại trong phòng. Chúng ta sẽ bỏ bữa tối và gây ra một vụ tai tiếng. Anh nghe những người hầu đang thờ ơ dần với sự lập dị của chúng ta đấy.”

Phu nhân Ashland bật ra một âm thanh lạ lùng, Leda bỗng nhận ra đó là tiếng cười nhẹ, nghẹn ngào nước mắt.

“Trong anh có một thôi thúc mạnh mẽ muốn làm chuyện gì đó thật kỳ quặc,” chồng bà nói. “Anh muốn thấy em lột da một thứ gì đó thật kinh khủng. Con thằn lằn, có lẽ vậy. Hoặc rắn.”

Bà đẩy ông. “Hoặc anh.”

Ông ôm eo bà và cúi mặt xuống bờ vai bà. Cặp mắt Leda mở to khi nàng thấy hai tay ông đang làm gì.

Phu nhân Ashland có vẻ không ngạc nhiên theo lệ thường. Bà khẽ ngửa đầu ra sau, nỗi đau khổ trên khuôn mặt bắt đầu dịu lại thành một biểu hiện khác.

“Quên cái giường đi,” Ngài Ashland lẩm bẩm. “Hãy hoang dại ngay trong phòng khiêu vũ nào.”

Ông chắc chắn đang làm điều đó. Leda nhắm mắt rồi lại mở ra, thấy rõ ràng đó là sự thật, rằng ông đang cởi khuy áo bà.

“Gryf,” Phu nhân Ashland cưỡng lại, nhưng không thuyết phục cho lắm. “Cửa…”

Leda ngồi lún sâu vào chiếc ghế đằng sau tấm bình phong chắc chắn khi nghe thấy tiếng bước chân có mục đích của ông hướng về phía cửa thư viện. Nó kêu rầm một tiếng, một giây sau có tiếng chìa khóa xoay trong ổ. Nàng đặt tay lên miệng. Từ cánh cửa mở ra đại sảnh một tiếng rầm nữa vang lên - cánh cửa còn lại dẫn vào phòng khiêu vũ đã được khóa.

Leda ngồi yên, hoàn toàn choáng váng với cơn tò mò thiêu đốt trong nàng.

***

Nàng vẫn ở đó, lún sâu trong ghế với bàn tay che miệng khi quý ông Gerard bước vào. Nàng bật dậy, hoảng hốt lao ra khỏi chỗ ngồi.

Anh dựa trên hai cái nạng và ném cho nàng cái nhìn lạ lùng. “Tôi có làm cô giật mình không?”

“Ồ, không! Tôi chỉ đang đọc báo thôi.” Anh nhướng một bên ông mày.

“Chà, tôi đang đọc mà,” nàng nói, phe phẩy tờ báo trong tay. “Ông vẫn chưa có chỉ thị nào khác dành cho tôi.”

Có tiếng động phía cửa thư viện. Nàng biến sắc liếc nhanh về phía đó. Có tiếng ổ khóa kêu lạch cạch nhưng cánh cửa vẫn đóng làm Leda nhẹ bẫng cả người, và sau vài giây tiếng bước chân, tiếng nói nhỏ nhẹ xa dần ra phía đại sảnh.

Nàng biết mặt mình đã đỏ bừng. Chỉ đơn giản là nàng không thể ngăn được việc đó.

“Giấu giếm những người hâm mộ bí mật à?” anh hỏi.

Leda không chịu lui bước. “Tôi tin ông muốn gặp ở đây để thuận tiện cho ông, thưa quý ông Gerard?”

Anh đưa cây nạng ra sau và đẩy cánh cửa khép lại. “Cô vui lòng đóng nốt cửa kia được chứ?”

Nàng chúm môi phản đối, nhưng anh chỉ đứng đó, nhìn nàng chờ đợi. Thở dài, Leda đứng dậy làm theo lời anh.

“Tôi đã nói chuyện với Ngài Gryphon,” anh nói, khi nàng quay lại.

Leda cố kìm nén để không buột miệng, Tôi biết. Thay vào đó, nàng đi tới bàn giấy và lấy cuốn sổ. “Chúng ta có thể gạch nó khỏi danh sách.” Nàng mở sổ ra và ngồi xuống. “Tôi đã xem xét những gợi ý cho bước tiếp theo nhưng tôi e vết thương của ông là một trở ngại. Ông không thể mời tiểu thư Catherine đi xem tranh ở Học viện Hoàng gia hay cưỡi ngựa với ông trong công viên.”

Anh dựa lưng vào cánh cửa. “Tôi không phải kẻ tàn tật.”

“Tôi đoán chắc ông nghĩ mình có thể nhảy lò cò khắp cả phòng triển lãm,” Leda chua chát nói. “Nhưng không. Trông ông không hề mạnh mẽ với cặp nạng thế này. Chí ít với tư cách người tháp tùng một tiểu thư trong lần đầu ra mắt giới thượng lưu.”

“Chuyện đó không còn là vấn đề nữa. Tôi sắp rời khỏi đây.” Leda vội vã ngước lên.

“Tôi nhận được tin từ Hawaii. Tôi cần phải về đó. Ngay lập tức.” Cú sốc làm nàng nghẹn lời. Nàng ngồi nhìn anh với vẻ thất thần.

“Tôi cần một cabin riêng trên con tàu hơi nước đầu tiên ra khơi. Cô hãy thu xếp qua điện thoại. Không quan trọng cảng nào - New York hoặc Washington đều được. Và một cỗ xe riêng đến Liverpool.” Miệng anh cong lên. “Tiếp tục thở đi, cô Etoile.”

Leda hít sâu một hơi và nuốt xuống. Nàng nhìn quyển sổ và viết bằng bàn tay run rẩy. Cabin riêng. Tàu hơi nước đầu tiên. Xe riêng.

Rồi nàng rụt rè đứng dậy. “Có phải cảnh sát đã phát hiện ra điều gì đó? Đó là lý do ông phải rời khỏi Anh quốc?”

“Không liên quan đến chuyện đó.” Giọng anh thoải mái và rất bình thường. “Ở Honolulu xảy ra khủng hoảng chính trị. Nhà vua bị phe cải cách ép thoái vị. Thứ Sáu này, Kapiolani và Công chúa Lydia sẽ nhận được thông báo. Họ cũng sẽ về, tôi đoán vậy, và nếu vẫn giữ được vương vị thì đúng là rất may mắn.”

“Ông còn biết tin trước cả họ?”

“Đúng thế.”

Nàng không hỏi anh bằng cách nào, có gì đó trong ánh mắt điềm tĩnh của anh ngăn nàng làm vậy.

“Tôi không thể quản lý chuyện làm ăn từ xa với một chính phủ bấp bênh,” anh nói thêm.

Leda nhìn xuống. Nàng đã biết chuyện này không thể kéo dài mãi. Nó quá tuyệt vời để duy trì được lâu. “Chà,” nàng nói bằng giọng thua cuộc, “rất vui và vinh dự được trợ giúp ông trong vai trò thư ký, thưa quý ông Gerard.”

“Tôi mong cô cũng sẽ thấy thế trong tương lai.”

Trái tim nàng nhảy dựng lên. “Ông muốn tôi đi cùng ư?”

“Không, không cần thiết. Cô cứ ở lại đây.”

Trong mớ hỗn độn của thất vọng và nhẹ nhõm, tất cả những gì nàng có thể nghĩ ra là câu hỏi, “Ở đây sao? Trong nhà này?”

Anh nhún vai. “Cả nhà ở đâu thì cô ở đó. Tôi đã nói với cô rồi, có thể họ sẽ chuyển xuống Westpark.”

“Họ không về Hawaii sao?”

“Mình tôi có thể lo liệu được mọi việc. Tôi cũng đã nói với Ngài Gryphon về chuyện này.”

Leda nhớ đến những tiếng nói trong phòng khiêu vũ đã không thu hút sự chú ý của nàng cho tới khi câu chuyện có liên quan đến anh. “Nhưng… họ thực sự không thấy phiền chứ? Họ có muốn tôi ở lại với họ?”

Anh khẽ mỉm cười. “Tôi tin họ xem cô như một cứu tinh thực sự giữa cơn bão thượng lưu.”

“Ồ,” nàng nói.

“Cô chỉ cần tiếp tục những gì đang làm… ngoại trừ việc tự do mở mọi cánh cửa trong nhà, một khi tôi rời đi.”

“Tôi không tin việc đó là cần thiết khi ngài đã rời đi,” nàng chặn lời, thêm vững tin về ý nghĩ mình là cứu tinh giữa cơn bão thượng lưu.

Trông anh hơi ngượng ngùng, nàng nghĩ. Có thể cuối cùng nàng cũng để lại chút ảnh hưởng tốt đẹp lên anh. Nàng tránh không nhắc đến việc Ngài Ashland và phu nhân cũng thích những cánh cửa đóng và lối cư xử không quá đúng mực.

Với khuôn mẫu như vậy, không ngạc nhiên khi anh chẳng có chút khái niệm nào về việc làm gương cho người giúp việc trong nhà.

Anh ném cho nàng ánh nhìn màu bạc. “Ý cô thế nào, cô Etoile, về việc tôi ngỏ lời với tiểu thư Catherine trước khi rời đi?”

“Ồ, ông không nên làm thế.” Leda túm quyển sổ khi nó trượt khỏi lòng nàng. “Làm vậy… làm vậy mà quá vội vàng.”

Nàng xoay xở bắt được quyển sổ trước khi nó rơi. Không nghĩ ngợi gì, nàng vội vàng phủi bụi như thể nó đã chạm xuống sàn.

“Cô ấy sẽ từ chối,” anh lạnh lùng nói, không có dấu hiệu của cảm xúc. Nhưng Leda bỗng dưng thấy những gì Phu nhân Ashland thấy - cách đôi tay anh nắm chặt cây nạng, nỗi lo lắng cực độ đằng sau vẻ ngoài lãnh đạm.

“Về chuyện đó tôi còn chưa dám chắc,” Leda bắt chước giọng học thuật của quý cô Myrtle, như thể đó là một câu hỏi bình thường về phép xã giao. “Nhưng cân nhắc theo bản tính nhạy cảm của một tiểu thư, các quý ông không nên làm cô ấy khó xử bằng việc bỏ qua phép tắc và đưa ra đề nghị quá vội vàng.”

Đôi bàn tay anh nới lỏng ra chút ít. Bóng dáng mờ nhạt của nụ cười đã quay lại. “Kể cả trong trường hợp khẩn cấp?”

“Ông không phải ra mặt trận, thưa quý ông Gerard.” Leda nhắc nhở anh. “Rõ ràng ông sẽ được trả về cho chúng tôi khỏe mạnh và lành lặn. Tôi không nghĩ một chuyến công cán bất ngờ lại được coi là trường hợp khẩn cấp.”

Anh nghiêng đầu. “Rõ ràng là cô nói đúng. Như thường lệ.”

“Tôi cảm thấy mình đúng trong vấn đề này,” nàng nhũn nhặn nói. “Với tất cả lòng kính trọng.”

“Còn một việc nữa,” anh nói, nếu cô đồng ý giúp tôi.”

“Tôi rất vui được giúp đỡ trong mọi khả năng của mình.”

“Tốt.” Anh dựa đầu vào cánh cửa và nhìn xuống nàng, cặp mắt khép hờ trong cái nhìn lấp lánh như người tuyết khiến Leda chợt thấy hối hận vì đã vội vã chấp thuận. “Có một vật cần mang về từ phòng trọ cũ của cô trước khi tôi đi,” anh thì thầm. “Tối nay, cô Etoile, cô và tôi sẽ đi lấy nó.”

ông thể nhắm mắt viết giấy giới thiệu cho Leda làm một chân đánh máy. Dù rất lấy làm tiếc, thực sự lấy làm tiếc, nhưng bà ta không biết gì về cô Leda Etoile ngoại trừ mẹ cô là người Pháp, và viết một điều như thế trong giấy giới thiệu phỏng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.