Chìa Khóa Ngày Tận Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
Ngày 12 Tháng 10, 10h12 Sáng

❊ ❊ ❊

Hawkshead, Anh

Khó mà truy tìm dấu vết kẻ sát nhân ở một miền quê bình dị như thế.

Gray lái xe xuống con đường dốc bao quanh bởi khu đồi nhấp nhô. Mỗi dặm đi qua, con đường càng thu hẹp hơn cho đến khi chỉ đủ rộng để chứa chiếc xe Land Rover họ thuê. Có một vạt rừng tán rộng nhô ra khỏi con đường, tạo nên một đường hầm chằng chịt những nhánh cây đan xen nhau. Khi ra khỏi đám rừng, khung cảnh mở ra trở lại, để lộ các chop tròn của vùng đồi đá xung quanh, hay thứ đã từng là đồi núi ở khu vực này của nước Anh. Tuyết đã phủ lên các vách đá một màu trắng xóa sau cơn bão tuyết đầu đông đã hoành hành ở khu vực này vào đêm trước.

Cách đó không xa, những đồng cỏ và dãy nông trại trải dài chia cảnh sắc thành một tấm chăn màu cỏ úa và cánh đồng bỏ hoang. Các nhánh sông và con suối lấp lánh giữa các hồ nước phẳng lặng như gương và các hồ nước nhỏ hơn trên cao nguyên. Băng đã đóng quanh rìa tất cả dòng chảy, gió tuyết bay rắc sương giá khắp khung cảnh.

Vẻ đẹp thiên nhiên lay động lòng người.

“Anh lạc đường rồi hả?” Kowalski buộc tội anh từ băng ghế sau.

“Tôi không hề lạc,” Gray nói dối.

Rachel đọc vội bản đồ đường, rồi nhìn Gray đầy nghi ngờ.

Được rồi, tất nhiên có lẽ là họ cũng hơi lạc lối chút...

Họ rời khỏi Liverpool hai tiếng trước, và đi theo hướng đơn giản nhất để lên đến Lake District nằm ở miền Bắc nước Anh. Những con đường cao tốc được đánh dấu rất tốt, nhưng khi Gray thoát khỏi con đường chính và tiến vào những con đường làng quanh co khúc khuỷu, không hề được đánh dấu, và một khung cảnh giao hòa của đồi núi, rừng và hồ.

Ngay cả hệ thống định vị toàn cầu GPS cũng chẳng giúp ích được gì. Không có con đường nào có trong phần mềm này cả. Có lẽ họ đã chạy ngang qua vùng đất mở.

Đích đến của họ là thị trấn Hawkshead, một trong những ngôi làng khai thác mật ong ẩn mình trong khung cảnh thiên nhiên kỳ thú của Lake District nước Anh. Họ sắp gặp mặt một đồng nghiệp của cha Giovanni, một nhà sử học của trường Đại học Edinburgh. Ông tên là Wallace Boyle. Giáo sư Boyle đã tổ chức cuộc khai quật ở một khu vực hẻo lánh ở giữa vùng đồi đá và vẫn đang theo dõi nơi đó. Ông đã đồng ý gặp họ ở một quán rượu trong khách sạn tại thị trấn Hawkshead.

Nhưng trước hết Gray phải tìm cho ra địa chỉ đó.

Rachel nghiên cứu bản đồ và trông ra ô cửa xem có dấu hiệu nào không. Phía sau Rachel, Seichan đang ngồi cạnh bên Kowalski, vừa ủ rũ nhìn ra vùng đồi và thung lũng nhấp nhô ngoài kia. Cô ta đã không nói lời nào từ lúc rời khỏi Ý, và tiếp tục lảng tránh khỏi cả nhóm, duy trì một khoảng cách thận trọng.

“Nếu chúng ta không mau đến một nơi nào đó không tồi lắm,” Kowlaski tiếp lời, “anh sẽ phải dừng lại ở một cái cây hay bụi rậm kế tiếp. Tôi sắp nhịn hết nỗi rồi.”

Gray tăng tốc lên đồi tiếp sau. “Nếu chú mày không nốc đến hai lít bia hồi ở Liverpool thì –”

“Đâu phải lỗi tại tôi. Tất cả là do mấy cái tên của chúng đấy chứ. Blackwater Brewery’s Buccaneer. Cains Double Bock. Boddington’s Bitters. Tetley’s Cask. Một người đàn ông không thể biết đó là gì nếu không nếm thử. Bỏ thời gian để xem loại nào ngon nhất chứ.”

“Nhưng anh uống tất đó chứ.”

“Tất nhiên là tôi có uống. Tôi sẽ bị cho là khiếm nhã nếu không uống.”

Rachel gấp tấm bản đồ lại bỏ cuộc. “Chỗ đó không thể xa hơn được,” cô nói có vẻ có lý. “Có lẽ chúng ta nên dừng lại hỏi thăm đường thôi.”

Một chốc sau, điều đó dường như không cần thiết nữa. Với lần lên dốc cuối cùng, thì chiếc Land Rover đã lên đến đỉnh kế tiếp, rồi một ngôi làng nhỏ xuất hiện, nằm trải dài ở thung lũng phía trước.

Gray thoáng nhìn sang Rachel. Sự nhẹ nhõm trên khuôn mặt của cô đã trả lời câu hỏi của anh. Đó chắc là thị trấn Hawkshead. Những con đường rải đá đan chéo qua các khu vường được rào lại và mấy ngôi nhà gỗ thấp lè tè. Tuyết phủ kín các mái ngói đen của làng, những làn khói mỏng manh bay lơ lửng từ các ống khói. Bên kia đường, một ngôi nhà thờ cổ bằng đá nép mình trên đỉnh đồi, trông xuống ngôi làng, trông như một kẻ trợ giáo dữ tợn đang quắc mắt nhìn thị trấn bên dưới vậy.

Khi họ đánh vòng xuống phía làng thì xuất hiện những bức tường đá xếp chồng dọc vệ đường. Các công trình xây dựng cũng như nhà cửa đều được làm từ xà cừ và vách đất với lớp gỗ phơi bày ra ngoài, rất đặc trưng cho một thị trấn thuộc vương triều Tudo của nước Anh. Những khu vườn nhỏ nhắn trước nhà và các ô cửa sổ biểu hiện sự rực rỡ vào mùa xuân và hè ở đây, nhưng sau trận bão đêm qua, lớp tuyết đã chất cao trên chop các ô cửa và khắp sân, tạo nên một khung cảnh Giáng sinh lạnh lẽo.

Gray cho chiếc Land Rover bò từ từ khi masy bánh xe cán lên đám sỏi phủ băng. Anh lái thẳng về phía quảng trường chính, họ hẹn gặp ở khách sạn Kings Arms. Họ đã đến trễ khoảng hai mươi phút. Đến quảng trường, Gray lướt chiếc SUV vào một bãi đậu xe nhỏ.

Khi họ bước khỏi xe, cái lạnh len lỏi vào bất kỳ phần da thịt nào không được che chắn. Cái ẩm ướt của Liverpool và khoảng thời gian nóng hầm hập trên xe cũng không giúp họ chống chọi lại cái rét của vùng Hồ trên cao này. Hơi gỗ thoảng trong mỗi làn hơi lạnh hít vào. Kéo lớp áo khoác dày chặt hơn, họ bước đi.

Khách sạn Kings Arms nằm ở phía xa của quảng trường chính. Những mái ngói đen thấp lè tè của mấy tòa nhà đã chào đón biết bao lượt du khách từ năm trăm năm qua, kể từ thời nữ hoàng Elizabeth. Một bức tường đá thấp ngăn trước khoảng sân có quán bia lộ thiên, mấy chiếc bàn ghế ở đó đã bị bao phủ một lớp tuyết mỏng, nhưng ánh lửa bập bùng ở những ô cửa sổ thấp bên trong hứa hẹn phục vụ những thức uống nóng hổi ấm lòng. Họ vội bước về phía đó.

Kowalski theo sau họ. “Này, mọi người hãy nhìn bọn gấu kìa…” Giọng anh ta tỏ vẻ khao khát, âm điệu không đúng lúc như một con bò mộng đột nhiên rống lên vậy.

Gray quay lại liếc nhìn anh ta. Kowalski đang nhìn chằm chằm vào ô cửa của cửa hiệu. Phía sau lớp kính mờ sương, ánh sáng nhàn nhạt soi rõ mấy chú gấu nhồi bông đủ kích cỡ và hình dạng đang được trưng bày. Bảng hiệu bên trên cánh cửa có ghi Những chú gấu giá sáu xu.

“Có một con mặc đồ như là võ sĩ quyền Anh vậy kìa!” Kowalski bắt đầu đi chệch hướng sang cái cửa sổ này rồi.

Gray hướng anh ta trở lại. “Chúng ta đã trễ rồi đấy.”

Kowalski nhún vai. Liếc nhìn lại cửa hàng lần cuối, anh tiếp tục đi theo họ.

Rachel liếc nhìn người đàn ông to lớn đang có vẻ bối rối.

“Cái gì hả?” Kowalski gắt gỏng. “Đây là dành cho Liz, bạn gái tôi mà, cô ấy thích sưu tnhập gấu bông.”

Rachel nhìn một hồi lâu, có vẻ nghi ngờ.

Kowalski thở ra bực tức và dậm chân đi về phía quán trọ.

Seichan đang đi kế bên Gray, khẽ huých vào tay anh. “Anh vào trong gặp nhà sử học đó đi. Tôi sẽ ở ngoài này canh chừng.”

Gray thoáng nhìn cô ta. Đó không giống với kế hoạch. Tuy vẻ mặt cô ta điềm tĩnh và không hào hứng gì, nhưng mắt cô ta vẫn đảo quanh quảng trường, chắc là đang nghiên cứu khu vực cóthể bị bắn tỉa, lối để tẩu thoát, cũng như nơi tốt nhất để ẩn nấp. Hay chỉ đơn giản là cô ta muốn tránh ánh mắt của anh. Có thật cô ta đang muốn bảo vệ họ hay muốn giữ khoảng cách lạnh lùng với họ?

“Có vấn đề gì sao?” anh hỏi, chân anh dợm bước.

“Không.” Mắt cô ta lóe lên tia giận dữ. “Tôi thích vậy đó.”

Gray không hề muốn tranh cãi. Sau tất cả vụ việc xảy ra ở Ý, có lẽ tốt nhất nên có người cảnh giới bên ngoài. Anh đi tiếp theo sau Kowalski và Rachel, còn Seichan vẫn ở lại.

Hòa vào dòng người, anh băng qua quán bia đóng băng ngoài trời và bước tới cửa trước. Anh chú ý thấy một bảng hiệu gần lối vào có ghi “Chào đón các bé ngoan và cún con”. Có lẽ ngoại trừ Kowalski. Gray tính ra lệnh cho cộng sự của mình ở lại bên ngoài với Seichan, nhưng như vậy sẽ chỉ làm cho cô ta giận dữ thêm thôi.

Gray kéo mở cửa ra. Một không khí ấm áp ùa ra, cùng với mùi thơi của bia và mạch nha. Quầy rượu ở ngay sảnh chờ của khách sạn. Một vài giọng nói vang lên về phía họ, kèm theo trận cười ồ lên. Gray theo sau Kowalski vào trong quầy rượu. Đồng nghiệp của anh nhanh chóng đi thẳng tới nhà vệ sinh.

Gray vẫn còn tần ngần ở lối vào và quan sát căn phòng. Quầy rượu của khách sạn Kings Arms hơi nhỏ, đây đó đặt vài cái bàn gỗ, còn quầy chính xây xung quanh cái lò sưởi xếp đá chồng lên nhau.

Một đám lửa bập bùng đã được đốt lên để chống lại cái giá lạnh. Kế bên lò sưởi là một bức tượng của một vị vua bằng gỗ to bằng người thật, chắc có lẽ là trùng tên với khách sạn này.

Chợt có tiếng cười ồ lên nữa làm Gray chú ý đến một góc quán gần lò sưởi. Có hai cư dân địa phương, mặc bộ đồ săn bắn và giày ống cao đến gối, đứng trước bàn ở góc cô quạnh.

“Mày nói mày té ngay vũng lầy hả, Wallace!” một trong hai người thợ săn lặng lẽ cười, lấy tay vỗ mạnh người kia cái bốp trong khi tay kia đang nhấc lên một ly bia đen cao.

“Dốc cạn nào! Vô đi,” người đàn ông trong quán đồng tình, một giọng nói rặt Scotland.

“Chuyện nực cười mà tao đã từng biết, đủ tốt đó chứ.”

“À, nhưng còn mùi hôi thối sau đó nữa, chàng trai ạ. Mà chắc mày cũng chẳng dám sẫn lại gần. Không đời nào.” Lại trận cười giòn giã nữa từ người đàn ông đang ngồi trong quán.

Gray nhận ra là Wallace Boyle như trong bức ảnh đăng trên trang web của trường đại học Edinburg. Nhưng vị giáo sư trong bức hình thì mày râu nhẵn nhụi và ăn mặc lịch sự, còn người đàn ông ngồi đây râu ria bụi bặm, lại còn ăn vận như mấy gã thợ săn khoác chiếc áo may bằng vải chéo chữ chi đã sờn bên ngoài áo ghi lê bông. Trên bàn là cái nón vải tuýt màu rêu xanh, đôi găng tay không ngón,và chiếc khăn choàng dày. Kế bên ông, dựng thẳng đứng trên băng ghế, là một cây súng săn đựng trong chiếc túi.

Giáo sư Boyle để ý thấy Gray nhìn mình nên quay sang. “Tavish, Duff, trông như những người phỏng vấn tôi hẹn gặp đã đến rồi đây.”

Đó là hai cái tên mà họ dùng để ngụy trang: cặp phóng viên quốc tế viết bài vụ đánh bom ở Vatican, lần theo cái chết của cha Giovanni. Kowalski đóng vai trò là nhiếp ảnh gia của họ.

Hai gã thợ săn liếc nhìn về hướng Gray. Khuôn mặt họ nghiêm lại như thường dân địa phương vẫn hay nghi ngờ khách lạ, nhưng họ cũng gật đầu chào có vẻ cảnh giác. Hớp thêm một ngụm bia cuối cùng, họ rời khỏi bàn.

“Rất vui mừng, ông Wallace ạ” một người cất tiếng khi ông ra đến gần. “Dù sao chúng tôi cũng đã đến được. Ngoài kia sắp bão lớn rồi đây.”

“Và trời sẽ lạnh giá hơn,” Wallace đồng tình, rồi vẫy tay gọi Gray và Rachel sang bàn ông.

Kowalski đã trở ra từ nhà vệ sinh, nhưng lại không đi qua quầy bar. Anh ta còn bận dán mắt vào bảng phấn phía trên lò sưởi liệt kê tên các loại bia địa phương. “Copper Dragon’s Golden Pippin? Là bia hay một loại thức uống trái cây nhỉ? Mình không muốn uống thứ gì có trái cây trong đó. Nếu loại trừ olive…”

Gray quay sang anh bạn đồng nghiệp khi bước tới bàn của Wallace. Vị giáo sư đứng lên, cho thấy chiều cao hơn một mét tám của ông. Dù đã xấp xỉ sáu mươi lăm, ông vẫn còn tráng kiện và vạm vỡ, như diễn viên Sean Connery thời trẻ vậy. Ông bắt tay họ, rồi nhìn Rachel một hồi lâu. Ánh mắt ông tê dại trong phút chốc, rồi giãn ra, che giấu điều nãy giờ làm ông bối rối.

Rachel bắt đầu bước vào quầy trước, rồi đột nhiên tê cứng. Một bên ghế đã bị chiếm. Một cái đầu lông tóc bờm xờm nhô lên và tựa cằm lên bàn gỗ, không xa đĩa xúc xích và đậu nghiền đang ăn dở.

“Rufus, nhích qua xem nào,” Wallace trách, nhưng không có vẻ gì nóng nảy hết. “Nhường chỗ cho mấy v ị khách của chúng ta chứ.”

Con chó sục màu vàng đen thở ra cáu tiết, rồi rục đầu bỏ đi, lăn ra dưới gầm bàn. Nó đi lại gần lò sưởi hơn, đảo hai vòng, rồi đánh phịch xuống với tiếng phì lớn.

“Con chó săn của tôi đó,” vị giáo sư giải thích. “Nó hơi hư hỏng. Nhưng ở tuổi đó thì đúng ra phải vậy. Giống cáo tốt nhất ở đảo rồi đấy. Vậy tại sao phải là nó ư? Đơn giản là nó được sinh ra và gây giống tại đây thôi. Loại chó săn nhỏ ở vùng Hồ đấy.

Giọng ông ta đầy kiêu hãnh. Đây chắc hẳn không phải là một vị giáo sư muốn về hưu sớm, thậm chí chưa hài lòng với những thành tựu đã đạt được trong sự nghiệp của mình. Tiến sĩ Wallace Boyle được xem như là chuyên gia hàng đầu trong lịch sử nước Anh, đặc biệt là trong thời kỳ Tân đồ đá khi đế chế La Mã còn chiếm đóng.

Họ đều đã ngồi vào quầy. Gray đặt một máy ghi âm điện tử nhỏ lên bàn, vẫn giữ vỏ bọc của họ là nhà báo. Sau vài lời xã giao về thời tiết và chuyến đi của họ, Walllace nhanh chóng chuyển sang đề tài chính.

“Vậy là, các vị vượt đường xa đến đây để xem chúng tôi phát hiện được gì ở vùng đồi này ư,” Wallace nói. Giọng nói ít rặt mùi địa phương hơn, văn phong có vẻ trang trọng hơn, điều chỉnh cho phù hợp với đối phương. “Từ khi cha Giovanni mất, tôi đã liên tục đặt ra câu hỏi và điều tra trong hai ngày qua. Tuy nhiên chưa có ai phù hợp để đến đây một mình. Lại nữa, bản thân vị cha xứ đáng kính đó cũng đã không hiện diện ở đây mấy tháng nay rồi.”

“Ý ông là sao? Rachel hỏi.

“Cha Giovanni đã rời khỏi đây vào cuối mùa hè rồi. Đi về phía bờ biển, rồi sang Ireland, đó là lần cuối cùng tôi nghe tin từ ông ấy.” Wallace lắc đầu buồn bã, rồi dùng móng tay gõ nhẹ vào ly bia trông như nâng ly cạn với người đã khuất vậy. “Marco rất thông minh. Thật sự là một mất mát to lớn. Nghiên cứu của anh ta và công trình về cội nguồn của đạo Cơ đốc của người Xentơ có thể đã thay đổi cách chúng ta nhìn nhận về lịch sử.”

“Tại sao ông ta lại đến khởi đầu ở đây vậy?” Gray hỏi. “Ở Lake District này.”

“Có lẽ anh ta sẽ không vĩnh viễn kết thúc sự nghiệp mình ở đây, tôi cho là vậy. Nếu như tôi không mời anh ta theo cùng vụ khai quật trên dãy núi.”

“Tại sao lại vậy chứ?”

“Vì niềm đam mê của Marco-hay giống nỗi ám ảnh của anh ta hơn - thúc giục anh đào bới bất kỳ và toàn bộ khu vực nào mà thần thánh và đạo Cơ đốc tồn tại lẫn nhau.” Wallace giơ tay lên để bao quát một vùng tổng thể . “Còn lịch sử của Khu vực này là câu chuyện của những mâu thuẫn gay gắt để lại trên đá và tàn tích. Người đến đây đầu tiên chính là dân Nauy, dong thuyền từ Ireland đến đây gây dựng nông trại vào thế kỷ IX, mang theo toàn bộ truyền thống của họ. Ngay cả từ fell trong tiếng Nauy để gọi là đồi.Thật ra, ngôi làng Hawshead được một người Nauy lập nên và đặt tên là Haukr, cái tên vẫn còn hiện hữu ở đây. Điều đó cũng cho các vị biết một số điều về lịch sử lâu đời của khu vực này rồi đó.”

Wallace hất đầu ra phía cửa sổ hướng về nhà thờ trông xuống thị trấn. “Nhưng thời đại đã đổi thay. Vào thế kỷ XII, toàn bộ khu vực đã nằm dưới quyền sở hữu của giới tăng lữ của Tu viện Furness, dấu tích của họ có thể tìm thấy cách đây không xa. Giới tăng lữ đã khai phá vùng này,buôn bán len và cừu, và cai trị tín ngưỡng dân làng rất khắc nghiệt. Căng thẳng kéo dài hàng thế kỷ giữa thần giáo và đạo giáo mới. Các nghi lễ cổ xưa vẫn tiếp tục được tiến hành trong bí mật, thường là ở những khu vực tiền sử rải rác khắp vùng quê.”

“Ông nói khu vực tiền sử nghĩa là sao?” Rachel hỏi.

“Những địa điểm có từ thời đồ đá mới. Khoảng năm ngàn năm về trước.” Wallace đếm trên mấy đầu ngón tay. “Đó là vòng tròn đá cổ, cột đá, mấy gò đất, mộ đá, đỉnh đồi có hào lũy bao quanh. Trong khi di tích Stonehenge có lẽ là nổi tiếng nhất, thì đó chỉ là một trong vài trăm những điểm như vậy trải rộng khắp đảo Anh quốc này.”

“Nhưng điều gì đã làm cha Giovanni thấy hứng thú trong cuộc khai quật của ông chứ?” Gray hỏi, tìm cách kéo vị giáo sư gần hơn vào trọng tâm của cuộc điều tra.

Wallace cau mày. “À, vậy thì anh phải tự tìm hiểu thôi. Nhưng tôi có thể cho anh biết điều khiến tôi tới đây.”

“Vậy đó là gì vậy?”

“Một mục đơn trong cuốn sách cổ. Một văn bản vào thế kỷ XI có tên gọi là Sách Ngày Tận Thế.”

Kowalski bước đến bàn họ. Anh chàng cầm theo một ly rượu pilsner trong mỗi tay, và uống cả hai bên. Anh ta mới hớp nửa ngụm thì dừng lại khi nghe lời nói của Wallace. “Ngày Tận thế,” Anh ta nói. “Hay thật. Cứ như chúng ta chưa có đủ rắc rối vậy.”

★ ★ ★

11h05 sáng

Seichan sải bước dài trên quảng trường. Trong đầu cô phát họa ra bản đồ khu vực địa phương. Mỗi chi tiết, từng viên gạch, mọi ngóc ngách, ngõ hẻm, tòa nhà, và chiếc xe hơi đậu. Tất cả đã in sâu trong đầu cô.

Cô để ý thấy hai gã mặc đồ săn khi bọn họ rời khỏi quán rượu. Cô lén bám theo khi họ thong thả bước tới chiếc xe tải đậu trong bãi. Cô cần chắc là họ đã lái xe đi khỏi.

Sau đó, cô tìm thấy một điểm lợi thế tốt để quan sát Khách sạn Kings Arms. Đó chính là cánh cửa ở một tiệm bán quà gần đó. Hốc tường ở đó cho phép cô ẩn náu tránh cơn gió lạnh cũng như không phải đứng ngay lối vào. Bên phải cô, ô cửa sổ của cửa hàng trưng bày tranh tầm sâu màu tùng lam của các con vật nhỏ bằng gốm mặc mấy bộ đồ nhỏ xíu như: heo,bò, vịt và dĩ nhiên, thỏ con nhỏ xíu… rất nhiều thỏ. Lake District này là quê nhà của nghệ nhân gốm Beatrix và sáng tạo Thỏ con Peter của cô.

Dù cần phải quan sát khách sạn, nhưng Seichan lại chuyển sang chú ý ô cửa của tiệm. Cô nhớ rất ít về tuổi thơ của mình, còn điều mà cô nhớ nhất thì cô lại ước gì mình có thể quên đi. Cô chưa bao giờ biết về cha mẹ mình, mà được nuôi lớn trong một cô nhi viện ngoại thành Seoul, Hàn Quốc. Đó là một nơi bẩn thỉu, thiếu thốn tiện nghi. Tuy nhiên lại có vài quyển sách, có cả cuốn của nghệ nhân gốm Beatrix, do một người truyền đạo Công giáo mang đến từ nhiều năm trước. Những quyển sách đó và mấy cuốn khác nữa thật sự làm nên tuổi thơ cô, nơi mà cô có thể trốn tránh cái đói, lạm dụng và thờ ơ. Khi còn là một bé gái, cô đã có thể làm được một chú thỏ đồ chơi từ những mẩu vải và dồn hạt gạo khô vào tronglàm. Để không bị đánh cắp, cô đã giấu nó sau một tấm bảng lung lay trên tường, nhưng rốt cuộc một con chuột đã tìm thấy và ăn mấy hạt gạo trong đó. Cô đã khóc suốt cả ngày ròng, cho đến khi một trong các ma xơ đánh và nhắc cô nhớ rằng ngay thương tiếc cũng là một điều xa xỉ.

Ở cửa ra, Seichan xoay lưng về hướng cửa sổ trưng bày, khép lại những ký ức cũ. Tuy vậy, không chỉ có quá khứ làm cô đau đớn. Qua cửa sổ, cô thấy Gray đang trò chuyện với một người đàn ông lớn tuổi mặc bộ đồ vải tuýt. Chắc hẳn đó là giáo sư Wallace Boyle. Seichan quan sát Gray. Mái tóc đen nhánh của anh đã dài hơn, đâm tua tủa ra trước trán. Khuôn mặt anh cũng già dặn hơn, làm cho xương gò má lộ rõ. Ngay cả đôi mắt màu xanh long lanh của anh cũng đã hằn vết chân chim - không phải do anh cười, mà do những năm tháng khó khăn vừa qua.

Đứng trong tuyết lạnh, Seichan lại nhớ đến đôi môi của anh. Trong một lúc yếu lòng, cô đã hôn anh. Không hề có sự rung động nào sau đó, mà chỉ là sự liều lĩnh và nhu cầu trỗi dậy. Còn nữa, cô không hề quên hơi nóng, râu ria lởm chởm quanh miệng anh, cũng như cái ôm siết của anh dành cho cô. Tuy nhiên, cuối cùng đều là vô nghĩa đối với họ

Tay đút trong túi áo khoác, cô khẽ chạm vết sẹo ngay bụng.

Họ đã chơi trò phản bội cô.

Như lúc này đây.

Chợt điện thoại cô rung lên trong túi.

Rốt cuộc thì.

Đây là lý do thật sự khiến cô phải ở lại bên ngoài trời giá rét. Cô lấy nó ra rồi bật nắp lên.

“Tôi nghe,” cô trả lời.

“Bọn chúng vẫn còn giữ gói đồ đó chứ hả?” Giọng nói trong điện thoại rất điềm tĩnh và cương quyết nhưng lại dễ vỡ, rặt giọng Mỹ. Đó chính là số liên hệ duy nhất của cô, người phụ nữ tên là Krista Magnussen.

Seichan ghét phải nghe lệnh của bất kỳ ai, nhưng cô không còn lựa chọn nào khác. Cô phải chứng minh bản thân. “Vâng, món vật cổ đó đang được an toàn. Lúc này, họ đang gặp người đã liên lạc trước.”

“Rất tốt. Chúng tôi sẽ đến ngay khi chúng có mặt ở khu khai quật trên núi. Một nhóm đã bố trí đặt mìn xong hồi tối qua. Đợt tuyết mới rơi sẽ che lấp mọi bằng chứng.”

“Vậy mục tiêu là gì?”

“Vẫn như cũ. Phóng hỏa sau lưng chúng. Trong trường hợp này, đúng nghĩa đó. Khu vực khai quật giờ thực là một của nợ chứ chẳng còn là tài sản nữa. Nhưng vụ phá hủy này sẽ rất tự nhiên.”

“Và cô đã dàn xếp vụ này rồi à?”

“Đúng vậy. Để cho cô tập trung hoàn toàn vào mục tiêu của mình đó.”

Seichan đọc được lời đe dọa ẩn sau câu nói đó. Sẽ không có lời xin lỗi cho thất bại. Nếu cô không muốn sống nữa.

Khi lắng nghe chi tiết về nhiệm vụ, cô vẫn quan sát cửa sổ khách sạn. Không còn tập trung vào Gray nữa, mà nhìn chằm chằm người phụ nữ Ý ngồi cạnh bên. Rachel mỉm cười điều gì mà vị giáo sư kia nói, mắt cô nhấp nháy ấm áp dù từ xa lạnh lẽo vẫn cảm nhận được.

Seichan không có hiềm khích gì với Rachel Verona cả - nhưng điều đó không có nghĩa là cô dừng việc làm tổn thương cô ta.

★ ★ ★

11h11 sáng

Rachel lắng nghe khi câu chuyện vẫn đang tiếp tục. Dù bài giảng lịch sử của vị giáo sư rất hấp dẫn, nhưng cô vẫn cảm thấy có gì đó sâu xa hơn đang diễn ra ở đây - liên quan đến câu chuyện của cha Giovanni và một điều gì khác nữa, điều không thể diễn tả được thành lời. Ánh mắt ông ta cứ nấn ná ở cô, không hề có tà ý, nhưng hình như là đang dò đoán cô. Cô cảm thấy khó khăn khi cứ phải nhìn đối mặt với ông ta.

Chuyện gì đang xảy ra đây.

“Tôi vẫn chưa hiểu,” Gray nói bên cạnh cô. “Sách Ngày Tận thế đó có liên quan gì đến việc khám phá của ông trên núi cơ chứ?”

Wallace giơ tay lên khuyên anh nên kiên nhẫn. “Trước hết, tên thật của quyền sách đó không phải là Ngày Tận thế (Doomsday), mà là Sổ Điền thổ (Domesday). Sau gốc từ tiếng Anh, dom, có nghĩa là “tính toán”. Quyển sách này do vua William soạn ra để làm phương tiện ước tính giá trị của vùng đất mà ngài đã chinh phục được, cũng là cách tính thuế và thuế lũy tiến. Nó bao khắp nước Anh, xuống tận từng thị trấn, thôn làng, điền trang, cũng như thống kê nguồn lực địa phương, từ số thú vật và cái cày trên đồng ruộng, đến số con cá trong sông suối. Cho đến tận ngày nay, quyển sách này vẫn còn là một trong những tổng quan tốt nhất về đời sống trong thời kỳ đó.”

“Vậy là được rồi,” Gray nhấn mạnh, chỉ mong thúc giục ông vào vấn đề. “Nhưng ông lại đề cập đến một mục đơn khiến ông tiến hành vụ khai quật hiện thời mà. Vậy ông đang nói về chuyện gì vậy?”

“À, thì giờ sắp nói đây! Anh biết sao không, Sổ Điền thổ được viết dưới dạng chữ Latinh bí ẩn, chỉ do một học giả tổng hợp mà thôi. Vẫn còn đó một số điều khó hiểu là tại sao lại cần bảo mật tài liệu này. Một vài nhà sử học tự hỏi liệu có mục đích thứ hai nào đó cho cuộc thu thập khổng lồ này không, có thể là số liệu tính toán bí mật chẳng hạn. Đặc biệt là một vài địa điểm liệt kê trong sách lại được đánh dấu báo điềm gở bằng một từ Latinh nghĩa là bỏ hoang.Hầu hết các nơi đó đều nằm ở khu vực Tây Bắc nước Anh, nơi biên giới liên tục thay đổi.”

“Gần Tây Bắc sao,” Rachel hỏi, “ý ông là như ở nơi này, Lake District ư?”

“Chính xác. Địa hạt Cumbria đang bị chiến tranh biên giới hoành hành. Và rất nhiều điểm bị đánh dấu bỏ hoang là nơi quân đội của nhà vua đã bị phá hủy một thị trấn hay ngôi làng. Chúng được đánh dấu bởi vì không thể đánh thuế nơi không còn tồn tại nữa.”

“Thật sao?” Kowalski hỏi, quắc mắt nhìn hail ly rượu. “Vậy là ông chưa nghe đánh thuế người chết ư?”

Wallace liếc nhìn Kowalski sang Gray.

“Đừng để ý đến anh ta,” Gray nhắc khéo.

Wallace hắng giọng. “Nghiên cứu sâu hơn về Sổ Điền thổ đó tiết lộ một chút bí ẩn. Không phải toàn bộ vùng bỏ hoang đều là hậu quả của cuộc chinh phạt. Các chỗ tham chiếu rải rác không rõ lý do. Những chỗ đó được đánh dấu bằng mực đỏ, như thể ai đó đang tìm kiếm cái gì quan trọng vậy. Tôi tìm một số lý giải và dành gần trọn mười năm để nghiên cứu một trong những mục trong đó, liên quan đến một ngôi làng nhỏ nằm trên vùng núi đá cao hiện không còn tồn tại nữa. Tôi đã tra cứu các tài liệu ghi chép về nơi đó, nhưng cứ như là nó đã bị xóa sổ vậy. Tôi gần như đã từ bỏ hẳn cho đến khi tôi tìm thấy một chi tiết kỳ lạ trong nhật ký của viên điều tra hoàng gia tên Martin Borr. Tôi tìm thấy quyển sách này ở Thánh đường Michael.”

Ông hất tay về phía nhà thờ trên đồi ở ngoài rìa thị trấn. “Phát hiện ra cuốn sách đó dưới một hầm gạch trong quá trình nâng cấp. Ngài Borr được chôn cất trong nghĩa trang của Thánh đường Michael, tài sản của ông để lại cho nhà thờ. Tuy quyển nhật ký của ông không nói rõ chuyện gì đã xảy ra với ngôi làng đó, ông cũng đã ngụ ý điều gì đó rất khủng khiếp, và đề nghị rằng tên chính xác hơn của quyển sách này phải là Ngày Tận thế mới đúng. Ông cũng đánh dấu quyển nhật ký của mình bằng một ký hiệu thần thánh, từ đó khiến tôi phải tìm đến bắt đầu với bộ sách này.”

“Một ký hiệu thần thánh ư?” Tay Rachel lần vào túi áo khoác, chỗ cô đang cất giữ chiếc túi da có chứa những thứ rùng rợn.

Gray áp tay mình lên mấy ngón tay cô, rồi siết nhẹ, thể hiện ý định rõ ràng của mình. Cho đến khi anh biết rõ hơn về người đàn ông này, thì anh vẫn chưa muốn Rachel đưa cho ông ta xem thứ mà cô đã tìm thấy. Rachel nuốt vào trong, cảm nhận được sức nóng từ lòng bàn tay của Gray lên da mình. Cô lướt tay ra chỗ khác, rồi đặt lên trên bàn.

Wallace không để ý thấy sự giao tiếp ngầm của họ. “Ký hiệu đó chắc chắn là thần đạo. Đây để tôi cho các vị xem.” Ông thọc ngón tay vào ly rượu, rồi vẽ lên mặt bàn gỗ, chỉ với vài đường khéo léo, tạo ra một vòng tròn và chữ thập, một biểu tượng quen thuộc.

“Một vòng tròn ngăn bốn à,” Gray nói.

Wallace nhướng mày lên, rồi nhìn chằm chằm Gray. “Chính xác. Anh sẽ tìm thấy dấu hiệu này được khắc lên rất nhiều khu vực cổ xưa. Nhưng khi tìm ra một cuốn nhật ký của đạo Cơ đốc có khắc biểu tượng này làm tôi thấy lạ.”

Rachel cảm thấy họ đang đến gần hơn trọng tâm của bí ẩn rồi. “Vậy chính quyển sổ đó đã giúp ông tìm được ngôi làng bị mất dấu đó ở dãy núi này ư?”

“Thật ra là không.” Wallace mỉm cười. “Thứ tôi tìm được còn thú vị hơn nhiều.”

“Ý ông là sao cơ?” cô hỏi.

Wallace ngồi lùi lại , khoanh tay, rồi lướt nhìn họ khắp lượt. “Trước khi tôi trả lời thì sao các vị không kể cho tôi nghe trước về điều gì đang thực sự diễn ra đi? Chẳng hạn như các vị ở đây làm gì?”

“Tôi không hiểu,” Gray nói, giả vờ bối rối, ra sức giữ vỏ bọc họ là phóng viên.

“Đừng tưởng tôi khờ. Nếu các vị là nhà báo, thì tôi sẽ là kẻ khùng à.” Wallace nhìn hẳn vào Rachel. “Ngoài ra, hãy vào thẳng vấn đề đi, tôi nhận ra cô đó, cô gái trẻ ạ. Cô chính là cháu gái của ngài Verona.”

Hết sức bất ngờ, Rachel liếc nhìn Gray. Anh trông cứ như vừa bị đi guốc trong bụng vậy. Kowalski chỉ đảo mắt, nhấc ly rượu lên, rồi nốc cạn nhanh chóng.

Rachel thấy không còn lý do nào để lẩn tránh nữa. Cô quay sang nhìn vị giáo sư. Bây giờ cô đã hiểu ra tại sao ông ta lại nhìn mình kỳ cục như vậy. “Ông biết chú của tôi à?”

“Ấy chà. Không rõ lắm, nhưng có biết. Và tôi rất tiếc khi nghe ông ấy vẫn còn hôn mê. Chúng tôi đã gặp nhau trong một hội nghị chuyên đề cách đây mấy năm và bắt đầu thư từ qua lại liên tục. Chú của cô rất tự hào về cô - một điệp viên chịu trách nhiệm theo dõi mảng trộm cổ vật. Ông đã gửi anh của cô cho tôi xem, và ở tuổi của tôi không thể nào quên được khuôn mặt trẻ trung xinh đẹp như cô được.”

Rachel liếc nhìn Gray, trông có vẻ đang hối lỗi. Cô không hề biết đến mối quan hệ riêng tư này.

Wallace tiếp lời. “Tôi không hiểu lý do của sự lẩn tránh này, nhưng trước khi chúng ta có thể bàn sâu hơn, thì tôi cần nghe lời giải thích nào đó.”

Trước khi ai đó có thể mở lời, con chó săn của giáo sư khẽ gầm gừ trong họng. Con chó chồm lên bên cạnh lò sưởi, rồi nhìn chằm chằm về phía lối của khách sạn. Khi cánh cửa bật mở, thì tiếng sủa càng to hơn.

Một dáng người bước vào khách sạn, giũ tuyết khỏi đôi giày ống.

Chỉ có mình Seichan.

CHÌA KHÓA NGÀY TẬN THẾ James Rollins Bộ Sách: A Sigma Force Đánh Máy: Quách Thủy Tiên TVE-4u.org
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.