Svalbard, Nauy
Đầu đạn đã phát nổ theo kế hoạch.
Thậm chí nấp sau hai cánh cửa thép và những bức đá nền, Painter vẫn cảm thấy tiếng nổ giống như một mũi tên khổng lồ xuyên vào tai và cố bóp nát sọ ông. Tuy vậy ông vẫn nghe thấy những chiếc khóa hơi của hai hầm chứa hạt giống khác thổi bung lên. Âm thanh chấn động của nó như thể tên khổng lồ đang dậm chân mình lên mặt đất và nghiền nát mặt nền của những phòng khác.
Nấp mình bên cạnh cái khóa hơi, Painter nghe thấy cửa ngoài bung ra và bị ném vào bên trong cùng với một tiếng động lớn. Nhưng cánh cửa cuối cùng vẫn trụ được. Áp suất cao trong khóa hơi đủ để giữ mọi thứ an toàn trước sóng chấn động.
Painter chạm vào cánh cửa thép cùng tiếng thở phào nhẹ nhõm. Bề mặt nó ấm lên bởi ngọn lửa chớp nhoáng thứ hai của quả bom.
Tất cả ánh sáng đã vụt tắt hết sau vụ nổ. Nhưng nhóm người này đã chuẩn bị cho điều đó. Những chiếc đèn pin đã được rút ra và ánh sáng lập lòe từ chúng giống như ánh nến trong căn phòng tối.
“Chúng ta đã thành công,” Thượng nghị sĩ Gorman nói bên cạnh ông.
Giọng Gorman nhỏ xíu bên tai ông, có vẻ như thính lực của ông vẫn chưa hồi phục sau vụ nổ. Những người khác đang kéo nhau ra khỏi sàn. Những tiếng reo hò hân hoan, thậm chí một vài tiếng cười chưa ngớt sợ hãi, lan tỏa khắp đám đông tụ tập những vị khách và công nhân.
Painter ghét phải là người thông báo tin xấu, nhưng họ không có thời gian cho những hi vọng hão huyền.
Ông đứng dậy và giơ cánh tay. “Xin yên lặng!” ông la to để lôi kéo sự chú ý của mọi người. “Chúng ta vẫn chưa thoát khỏi đây! Chúng ta vẫn không biết vụ nồ có đủ sức phá thủng bức tường băng đã nhốt chúng ta ở đây không. Nếu chúng ta vẫn còn bị kẹt lại, thì việc giải thoát có thể sẽ tốn thêm vài ngày nữa.”
Painter ra hiệu cho kĩ thuật viên bảo trì khu hầm để xác minh. Anh ta sống ở đây. Anh ta biết rõ địa thế và những tài nguyên của quần đảo.
“Có thể mất hơn một tuần,” anh nói. “Và đó là nếu đường đi vẫn còn mở.”
Điều này thật không chắc chắn khu suy xét về hàng rào tên lửa mà Painter đã được tin báo. Nhưng ông vẫn im lặng, giữ điều đó trong đầu. Tin báo từ kĩ thuật viên đã đủ tệ rồi và ông không muốn giáng thêm một cú sốc nào nữa. Hiện giờ có nhiều việc hơn cần phải làm trước mắt.
Painter chỉ về phía cánh cửa. “Cơn bão lửa sẽ thiêu sạch oxygen ngoài đó. Ngay cả khi lối ra đã được thông, thì những vùng thấp hơn sẽ vẫn bị ngạt bởi khí độc. Chúng ta chỉ an toàn ở dưới đây. Nhưng không khí chỉ còn đủ trong một vài ngày, có thể là ba ngày nữa thôi.”
Viên kĩ thuật trông như muốn đính chính khi thấy Painter rút ngắn số ngày mà anh đã ước tính, nhưng Painter đã giơ tay ngăn lại. Painter không muốn phải thông báo lý do thật sự của sự vội vàng này.
Kẻ nào đó đã tấn công vẫn có thể quay lại.
Đám đông giờ đã trật tự hoàn toàn khi hiểu được tầm nghiêm trọng của tin mới nghe.
Karlsen cuối cùng cũng lên tiếng từ phía rìa đám đông. Những người ở đây hầu như là khách mời của ông ta. “Vậy chúng ta sẽ làm gì?”
“Ai đó phải ra ngoài và kiểm tra cánh cửa. Nếu nó đã thông, chúng ta sẽ phải chạy xuyên qua một nồi súp khí độc. Ai đó cần phải ra ngoài để tìm sự giúp đỡ. Những người còn lại sẽ phải chờ một lát ở nơi an toàn này.”
“Vậy ai sẽ người ra ngoài đó?” Gorman hỏi.
Painter giơ tay lên. “Tôi.”
Karlsen bước về phía ông. “Anh sẽ không một mình. Tô đi với anh. Anh có thể cần thêm một tay trợ giúp.”
Karlsen nói đúng. Painter không biết mình sẽ phải đương đầu với cái gì ngoài đó. Có thể có một phần chướng ngại vật, một mớ trang thiết bị đã bị phá hủy. Có thể cần vài người để di chuyển chúng. Nhưng ông nhìn Karlsen đầy vẻ hoài nghi, ông ta cũng không còn trẻ trung gì.
Karlsen đọc được sự lưỡng lự trên khuôn mặt ông. “Hai tháng trước tôi đã chạy được hơn 20km. Tôi chạy bộ mỗi ngày. Tôi sẽ không làm chậm chân anh đâu.”
Vị Thượng nghị sĩ cũng muốn cùng đi với ông. “Và cả tôi nữa.”
Rõ ràng là ông không muốn để kẻ đã sát hại con mình thoát khỏi tầm mắt. Thật ra thì Painter không muốn ai đi theo cả. Ông có một tá câu hỏi dành cho Karlsen, những câu hỏi có tầm quan trọng để tránh thảm họa sinh thái.
Tuy nhiên, ông vẫn muốn cả hai người đó ở lại.
Nhưng Karlsen vẫn kiên quyết khiến cho Painter không thể phản đối. Ông ta tiến về phía cánh cửa. “Tôi không muốn tranh luận, nhưng dù muốn hay không, anh cũng không thể bắt tôi ở đây. Tôi sẽ đi theo anh.”
Gorman bước lên vai kề vai với ông. “Chúng ta sẽ cùng đi với nhau.”
Painter không có thời giờ để tranh luận. Ông cũng không có quyền còng tay Karlsen. Thật sự, Karlsen có nhiều người ủng hộ hơn Painter.
“Chúng ta cùng đi vậy.” Painter lấy một chiếc đèn pin. Ông làm ướt một vài cái khăn quàng cổ và dùng nó để che phần dưới khuôn mặt, bảo vệ mũi và miệng. “Cố gắng thở càng ít càng tốt.”
Họ gật đầu.
Viên kĩ thuật cũng đã chuẩn bị một số bộ kính bảo hộ để bảo vệ mắt họ khỏi khói và hơi nóng.
Họ đã phòng bị hết mức có thể.
Khi đã sẵn sàng, Painter đứng ngay cửa. Ông giao lại trách nhiệm cho viên kĩ thuật bảo trì. Nếu họ thất bại , thì anh ta với kiến thức chuyên môn sẽ giữ chho những người còn lại an toàn càng lâu càng tốt.
“Khi tôi mở cánh cửa, áp suất trong đây hiện giờ đang cao hơn ngoài đó. Nó sẽ hút mạnh một ít không khí trong này. Cho nên hãy đóng cửa ngay khu chúng tôi rời khỏi và chỉ mở khi chúng tôi quay về và gõ cửa. Nếu lối ra vẫn bị bít, chúng tôi sẽ trở lại ngay. Nếu không, hãy cầu nguyện cho chúng tôi may mắn.”
“Tôi sẽ không ngừng cầu nguyện vì đã thấy quả bom đó,” viên kĩ thuật nói với một nụ cười méo xệch.
Painter vỗ vai anh ta và quay về phía Gorman và Karlsen. “Sẵn sàng chứ?” ông hỏi.
Họ gật đầu.
Painter ra hiệu cho viên kĩ thuật. “Mở cửa.” Rồi quay sang hai chiến hữu của mình. “hít thật sâu nào.”
Cánh cửa hé mở cùng với sức kéo của luồng khí thoát ra và xua bớt hơi nóng khủng khiếp. Painter xông thẳng ra đường hầm tối tăm, giống như đang lặn trong một bồn tắm hơi. Nhưng hơi nước ở đây kinh khủng hơn thế nữa. Painter đã cảm thấy da rát bỏng lên vì tiếp xúc với hóa chất. Không khí ngoài đây tệ hơn ông tưởng.
Ông nghe thấy tiếng chân của Gorman và Karlsen đằng sau.
Ngay khi Painter rời khỏi hành lang của hầm hạt giống và vào đường hầm chính, ông tắt chiếc đèn pin của mình và nín thở hồi hộp.
Liệu lối vào đã được mở ra chưa?
Ông nhìn về phía trước đường hầm tối đen như mực. Không có dấu hiệu nào của ánh sáng ở đầu đường hầm. Đường hầm vẫn sâu đen hun hút. Nếu lối ra đã thông, ít ra cũng phải có một ít ánh sáng chiếu vào như một cái đèn hiệu.
Ông đi chậm dần.
Chả được gì cả. Họ vẫn còn bị kẹt trong cái giếng độc này.
Nhưng sau khi mù mờ đi thêm vài bước, mắt ông giờ mới quen với bóng tối sau khi ánh sáng của chiếc đèn pin tắt. Nó không rõ lắm, nhưng đằng xa phía đầu đường hầm, ông đã thấy những tia sáng yếu ớt đang rọi qua màn đêm đầy khói.
Ông thở phào nhẹ nhõm, cho phép dưỡng khí quý giá trong phổi được thoát ra.
Khi hi vọng lại được nhóm lên, ông bật đèn pin và chạy nhanh hơn. Ông không biết liệu Gorman và Karlsen đã thấy được tia sáng đầy hứa hẹn đó chưa, nhưng họ đều biết kế hoạch. Nếu không có dấu hiệu nào của ánh sáng, họ được yêu cầu phải quay lại. Khi thấy Painter tăng tốc, họ đã biết điều đó có nghĩa là gì.
Tất cả tăng tốc, chạy xuyên qua khu phục vụ ăn uống đã đổ nát. Những chiếc bàn đã bị lật nhào và nằm lộn xộn ở cuối đường hầm. Tất cả thứ gì bằng nhựa đều đã tan chảy. Những bức tượng băng đã bốc hơi hết. Thứ gì dễ cháy thì đã bị thiêu rụi, nhưng cũng nhờ quả bom tiêu thụ oxygen nên đám cháy đã bị dập tắt nhanh chóng.
Làn khói vẫn đang treo cái chết lơ lửng trong không khí, nhưng khi họ chạy càng xa, thì nồng độ của nó cũng giảm xuống. Một lớp bột đen dày phủ lên mọi thứ, sản phẩm phụ của phản ứng đốt cháy nhôm fluorite.
Họ chạy về phía trước.
Painter buộc phải lấy hơi. Ông giữ chặt cái khăn ẩm lên mũi và hít một ngụm không khí. Nó có mùi cháy của cao su và vị chua giống của acid. Ông không biết oxygen còn bao nhiêu trong không khí, nhưng vẫn tiếp tục chạy. Càng chạy lên cao, không khí càng sạch - đặc biệt là nếu tấm chắn bằng đá đã bị vỡ vụn.
Ông chạy đã gần được nửa đường, chỉ còn gần 75 mét nữa. Giờ đây ông đã có thể thấy được ánh sáng le lói dù chiếc đèn pin vẫn sáng. Tuy nhiên ông càng buộc phải thở, thì đường hầm càng trở nên mờ ảo trước mắt ông. Phổi như muốn bốc cháy. Da thì như bị kim châm khắp nơi.
Tuy nhiên ông vẫn không chùn bước.
Ông liếc nhìn phía sau và thấy cả Gorman và Karlsen đang chậm dần. Thượng nghị sĩ Gorman trông rất tệ, bước đi lảo đảo. Karlsen đang kẹp lấy khuỷu tay để giữ ông này đứng vững và tiếp tục bước đi.
Painter đi chậm lại để giúp. Ông cần cả hai người còn sống.
Nhưng Karlsen phất tay dữ dội, mệnh lệnh đã rõ.
Đi tiếp.
Painter nhận ra ông ta đúng. Ông phải ra khỏi nồi súp độc hại này để tỉnh táo hơn. Nếu cần thiết ông có thể quay lại sau đó để giúp họ. Không còn lựa chọn nào khác, ông tiếp tục chạy về phía ánh sáng, chạy đến nơi có không khí trong lành.
Cuối cùng cánh cửa đã bị nổ xuất hiện, tắm mình trong ánh sáng xanh xanh. Một vài điểm sáng hơn làm chói mắt ông. Nhưng khi ông chạy đến gần, tim ông như ngừng đập.
Không thể nào.
Cánh cửa vẫn bị bít kín.
Ánh sáng mà ông thấy chỉ là ánh nắng khuếch tán qua băng. Vụ nổ đã không thể giải thoát họ. Dù sao Painter cũng đã chạy đến lối ra. Và không còn chỗ nào để đi nữa. Khi tiến đến gần hơn, ông nhận ra một vài điểm sáng hơn trên bức tường là từ những khe nứt trên băng.
Hi vọng lại dâng lên và đủ để ông chạy nhanh đến ô cửa, băng qua một trong những khe nứt, áp mặt mình lên nó để hít lấy không khí. Nếu không có gì khác, nó sẽ là khí mát tuyệt vời. Ông hít thêm vài hơi nữa, tỉnh táo hơn, sự mờ ảo cũng không còn nữa.
Ông quay lại và thấy Karlsen và Gorman cách đó hơn 15 mét. Karlsen giờ đã đỡ lấy nửa người ngài Thượng nghị sĩ. Painter rời khỏi bức tường băng và vội chạy về phía họ. Ông đỡ phía còn lại của Gorman.
Cùng nhau, họ khập khiễng đi hết quãng đường còn lại đến cánh cửa. Painter để hai người lấy hơi từ những vết nứt trên tường, sau đó ông tìm thấy ba vết nứt ở cao hơn. Khi đang lấy hơi, ông nhận ra tường băng không bị phủ bởi muội đen. Đây là băng mới. Vụ nổ chắc chắn đã phá vỡ lối vào - nhưng vụ tuyết lở thứ hai đã đổ ập xuống và niêm phong nó lại.
Nhưng tường băng này không dày.
Painter đặt mặt mình vào khe nứt. Ông có thể thấy bên ngoài.
Gần trên đỉnh của lối vào bị lấp bởi một mớ băng đá dày độ nửa mét. Chúng khá to, nhưng với thời gian, họ có thể tự đào mọi thứ ra.
Tuy nhiên, Painter biết họ không có nhiều thời gian. Đó là còn chưa nói đến một vụ tuyết lở khác có thể đổ ập xuống bất cứ lúc nào và khiến cho mọi thứ tồi tệ hơn.
Như thể nó biết được suy nghĩ của ông, Painter nghe thấy tiếng ầm ầm.
Ông cảm thấy băng đang rung lên dưới má mình.
Ồ, không…
★ ★ ★
1h20 chiều
Từ phía bên kia đồi, Monk đã quan sát vụ nổ. Tiếng nổ giống như tiếng sét vang trong đầu anh. Điếc tai và giật mình, anh đã té phịch xuống tuyết.
Creed và hai người Nauy cũng chẳng khá hơn.
Một vụ lở tuyết lớn và những ngọn lửa tuôn ra khỏi hầm hạt giống ngầm. Một màu đen lem luốc cuồn cuộn bốc lên bầu trời.
Như thể bị xúc phạm, những đám mây của cơn bão bất chợt tản ra. Tuyết rơi dày hơn. Một phút trước không có tí tuyết nào, giờ thì những mảnh bổng tuyết đã ngập trong không khí. Nhưng trước khi bức màn tuyết rơi xuống, Monk thấy vụ nổ đã làm lộ một cái hố bằng bê tông - chí ít là cũng trong vài giây. Sau đó, trận lở tuyết thứ hai đã trượt xuống và che lấp lối vào.
Liệu còn ai còn sống sót ở trong đó không?
Một vài tiếng súng vang lên, đến từ phía bên dưới. Monk không còn nhìn thấy đoàn xe của những tên lính đánh thuê nữa, nhưng chúng vẫn đang đến, vẫn dọn dẹp hiện trường.
Nếu vẫn còn ai đó sống sót qua vụ nổ, họ chắc sẽ không trụ được lâu.
Monk chỉ có một lựa chọn.
Ban đầu chỉ có Creed, nhưng cuối cùng anh đã thuyết phục được hai người Nauy.
★ ★ ★
1h21 chiều
Khi tiếng ầm ầm vang lên và tảng băng lắc lư, Painter đã cầu nguyện đợt lở tuyết này sẽ không lớn. Nhưng tiếng động này ngày càng lớn.
Sau đó bên ngoài lớp tuyết và gió, một chiếc xe trượt tuyết Sno-Cat xuất hiện, đang tiến lên từ bên dưới. Nó không giảm tốc độ mà còn tăng tốc.
“Lùi lại!” Painter thét lên.
Ông đẩy Gorman ra khỏi lối vào, sau đó chộp lấy nó trùm đầu của chiếc áo paca mà Karlsen đang mặc và ném họ ra khỏi bức tường băng.
Chỉ trong tích tắc.
Chiếc xe trọng tải lớn đó đã đâm sầm vào lối ra bị bít. Miếng đệm cao su mặt trước của nó đã hất tung bức tường băng. Và càng hãm xung của chiếc xe đã làm vỡ nửa trên của khung cửa. Những khối băng vỡ tung vào trong đường hầm và trượt đi.
Chiếc Sno-Cat lùi lại, cứ như đang chuẩn bị cho lần đâm thứ hai.
Painter xông thẳng về phía trước. Càng hãm lực đã tạo ra một cái lỗ đủ lớn để Painter có thể lách mình qua. Ông lao đầu vào khe nức lởm chởm răng nhọn, liên tục giơ tay bẻ và dùng khuỷu tay thúc vào những cạnh nhọn để làm thông thoáng lối đi xuyên qua cánh cửa.
Chiếc Sno-Cat bất ngờ dừng lại.
Cửa bên bật mở. Một dáng người quen thuộc nghiêng người nhìn ra.
“Chỉ huy Crowe?” Monk nói, mặt anh lộ rõ vui mừng.
“Monk… anh là người đem lại ánh sáng cho đôi mắt này.” Và mắt Painter thì đang đau nhức - đỏ ngầu và sưng tấy.
“Nhiều người vẫn hay nói với tôi như thế.” Monk nói và cười. “Nhưng chúng ta cần phải đi ngay.”
Painter quay lại. Karlsen đã trèo ra khỏi khe nứt, theo sau đó là Gorman. “Vẫn còn nhiều người đang bị kẹt lại ở sâu trong đó.”
“Và đó là nơi mà họ nên trú.” Monk nhảy ra khỏi chiếc xe, lục tìm trong chiếc Sno-Cat, và trở ra với những cây súng trường trên tay. “Các ông có thể bắn chứ?” anh hỏi Gorman và Karlsen.
Cả hai đều gật đầu.
“Tốt vì giờ chúng ta cần tập hợp càng nhiều hỏa lực càng tốt.”
“Tại sao?” Painter hỏi.
Trước khi Monk kịp trả lời, một tiếng gầm của động cơ nặng vang lên từ đằng xa trong cơn bão.
“Chúng ta có khách đến đấy.”
Painter chạy về phía Monk đang đứng ở cạnh chiếc Sno-Cat và lấy một cây súng. Ông chỉ thấy một người lính Nauy đi cùng Monk đang ngồi trong xe. Ông nhìn quanh.
“Creed đâu?” Painter hỏi.
“Đang ở cùng với bạn của vị chiến sĩ này trên chiếc xe trượt tuyết của chúng ta. Họ đang tìm sự giúp đỡ.”
Painter hi vọng họ có thể quay lại kịp lúc với những kị binh. Ông đã để lại một nhóm bảo vệ doanh trại.
Một chiếc xe và bốn tên lính.
Xem ra may mắn khó có thể thuộc về Painter.