Đảo Bardsey, xứ Wales
Rachel suýt buông Seichan khi thấy Gray rơi khỏi vách bám. Anh trượt trên bề mặt cây thánh giá rồi kẹt lại chỗ chạm khắc hình ba vòng xoắn ốc phía dưới chân thánh giá.
Anh cố rướn lên trong chốc lát, sau đó với những ngón tay lên trên biểu tượng lồi ra ngoài. Liệu rằng nó chịu được sức nặng của anh không hay là sẽ vỡ ra?
Những lo lắng đan xen trong tâm trí, anh quyết định tránh di chuyển quá nhiều. Đôi ủng của anh đang treo lơ lửng trên cái hố sâu chừng 6 mét đầy chông.
Nhưng Gray không phải là người duy nhất đang hoảng sợ.
Rachel trượt dài trên cạnh của quan tài đá. “Nắm lấy chân tôi!” cô hét lớn bảo Wallace.
Vị giáo sư nắm lấy chân cô trên quan tài đá. Ông cố bám vào một cách chơi vơi giống như cô. Ông giữ chặt mắt cá chân Rachel và cô giữ cho thăng bằng.
Điều này có phần làm cho Rachel yên tâm hơn nhưng cũng chẳng được bao nhiêu.
Cô đang treo lơ lửng trên một cạnh của quan tài đá, nắm chặt áo khoác của Seichan. Người đàn bà đã từng hạ độc cô giờ đang trông chờ vào những ngón tay đang bám vào cạnh quan tài của cô.
Không ai trong họ có thể cầm cự được lâu hơn.
Một dư chấn nhẹ xuyên qua căn phòng. Mọi thứ ở đây đã quá cũ, vụ nổ có lẽ đã làm mất tính cân bằng vốn đã mong manh qua hàng thế kỉ nơi đây. Cô nhận ra tòa tháp phía trên đã rạn nứt. Cả nơi này sẽ sụp đổ.
Một chấn động khác lan trên sàn nhà vốn dĩ đã nghiêng đi vì chấn động trước đó. Từ trong quan tài đá, cuốn Kinh Thánh của Malachy thình lình rơi ra, lao thẳng xuống phía hố, bị một thanh chông đâm ngay giữa rồi nằm chơi vơi nơi ấy.
Wallace gào lên vì mất mát đó, nhưng rồi họ nhận ra rằng mình có nhiều điều hơn để quan tâm.
Bị ảnh hưởng bởi cơn địa chấn, Seichan đã vuột tay khỏi chỗ bám. Cô ta rơi trong lặng lẽ như thể đó là điều mà cô ta hằng mong chờ, đáng bị như vậy. Một tay Rachel đã trượt khỏi chỗ bám, nhưng tay còn lại đã kịp chộp lấy áo khoác của Seichan.
Cô đã chặn lại cú rơi bằng cú vặn mạnh trên vai cô ta. Nhưng sức nặng đã kéo trượt cô dọc theo cạnh quan tài. Wallace nắm chặt mắt cá chân cô để ngăn cả hai khỏi cú rơi tử thần.
Nửa thân trên của Rachel treo ngược xuống, hông và chân cô vẫn còn ở phía trên quan tài, như được Wallace ghim lại ở giữa. Thật khó thở. Seichan đung đưa phía dưới, treo lơ lửng trong chiếc áo khoác. Dấu hiệu sợ hãi duy nhất của cô ta thể hiện qua cách cô ta nắm chặt cái áo khoác qua cổ bằng cả hai tay.
Rachel thật rất muốn buông cô ta ra, nhưng cô ta lại là cơ hội sống duy nhất của cô.
Sàn nhà lại rung lên. Một mảng trần lớn bung ra. Một phiến đá lớn rơi xuống phía vực, đè lên những thanh chông.
Cô nhắm mắt lại và cố cầu nguyện để tìm lối thoát.
Đáp lại cho lời khẩn cầu đó là một câu trả lời thật khó nghe.
“Chuyện quái quỷ gì thế này?”
Tiếng la phát ra từ phía bên kia sàn nhà đang nghiêng, nơi mà địa đạo dẫn đến hầm mộ của Lãnh chúa xứ Newborough.
Là Kowalski. Hẳn anh ta phải bước xuống đây vì mất kiên nhẫn hoặc vì nghe thấy tiếng đá rung lên.
“Cứu!” Rachel gào lên, nhưng với lồng ngực bị kéo căng ra và bụng bị xoắn lại, những âm thanh đó cứ phát ra the thé.
“Chào?” Kowalski gọi. Anh ta đã không nghe tiếng kêu cứu của cô.
Với tư thế đang treo lơ lửng, Gray gào lên “Kowalski!”
“Pierce? Anh ở đâu? Tôi chỉ thấy cái hố và bức tường không thôi. Làm sao mà mọi người vượt qua được?”
Từ vị trí nơi mà Kowalski đang đứng trong đường hầm, tất cả những gì anh ta có thể thấy là cái sàn giả và cái hố.
Gray la lên lần nữa, “Lui lại và kéo thanh đẩy!”
“Kéo cái gì?”, anh ta hỏi lại.
“Cái đòn bẩy! Phía trên đường hầm!”
“À, ờ, được rồi! Chờ chút!”
Rachel nhìn xuống Seichan, rồi hướng mắt về phía Gray. Giữ chặt vào. Đó là tất cả những gì hiện giờ họ có thể làm.
“Nhanh lên!” Gray kêu lên. Anh sắp trượt tay lần nữa.
Giọng Kowalski đáp lại khe khẽ. “Đừng càu nhàu nữa!”
Rachel bám chặt hết sức. Cô nhắm mắt lại và tưởng tượng ra thanh đẩy nhô lên khỏi sàn mà cô đã phát hiện ra trước đó. Hẳn là phải có nút nào đó dừng những thứ này lại. Những người tạo nên các bẫy này có lẽ muốn diệt tất cả các tên trộm lẻn vào đây, và họ hẳn cũng sẽ cần một cách nào đó để phục hồi lại trạng thái ban đầu của cái bẫy. Nói cách khác thì phải có cái nút nào đó làm chuyện này. Những nút như thế hẳn phải nằm phía ngoài căn phòng.
Nhưng liệu đó có phải là thanh đòn bẫy không?
Cô thầm cầu cho trực giác của Gray đúng.
Một lát sau, cô đã có câu trả lời cho mình.
Toàn bộ sàn đột ngột rung lên. Tiếng ken két của hệ thống máy vang lên. Sàn bắt đầu nghiêng trở lại - nhưng không phải theo hướng thông thường. Nó xoay dựng đứng lên. Rachel thậm chí không dám la lên vì toàn thân cô hiện đang trượt trên tảng đá. Họ sắp bị lật ngược lại.
Rồi có gì đó bị mắc lại. Sàn nhà này lên rồi dừng hẳn lại. Sau tiếng ken két chói tai, sàn nhà chầm chậm đổi hướng rồi quay trở lại đúng vị trí ban đầu.
Rachel cố bám chặt, miệng cô rung lên khi cầu Chúa.
Cô nhìn lại cái góc sàn nhà trồi lên dưới mũi chân Gray và đẩy anh lên trở lại. Cô lăn qua phía bên kia của chiếc quan tài đá và rớt vào cái sàn nhà đã vừa dâng lên. Tất cả nằm bẹp gí, thở gấp. Gray thậm chí còn ngã qua phía bên kia của cây thánh giá.
Kowalski trở lại cùng một cây đèn pin. “Ơ, các bạn chơi đùa đã chưa…”
Rachel trừng mắt.
“Tôi tới đây để báo cho mọi người biết là cơn bão đã mạnh dần lên. Lyle nói chúng ta tốt hơn nên khẩn trương nếu muốn rời khỏi cái hòn đảo quỷ tha ma bắt này.”
Mọi người còn chưa kịp hoàn hồn thì một mảng khác của trần nhà đổ sập xuống, đập vô sàn nhà như bom nổ. Sau đó, nước cuốn theo. Cả cái tháp đang rơi xuống đầu họ.
“Chạy mau!” Gray hét to.
Mọi người chạy tóe khói về phía lối ra của đường hầm. Một tiếng rắc làm nứt cả mặt đất. Tháp bắt đầu lung lay và bập bênh như một cỗ máy cũ bị hỏng hóc một bộ phận nào đó.
Mất thăng bằng, Rachel té lộn nhào về một bên nhưng Gray kịp thời chụp lấy hông cô và cùng cô chạy thật nhanh về phía đường hầm. Tất cả mọi người chạy thục mạng trong khi nhiều phần của hang động đã đổ sụp.
Cảnh tượng cuối cùng mà họ nhìn thấy được là sàn nhà gãy vụn khi thác nước cuốn theo gạch và nước mưa tràn ngập khắp phòng. Họ bỏ lại cảnh tượn đó sau lưng khi đã lên cao hơn. Lát sau, một tiếng động dữ dội tưởng chừng như mặt đất đang vỡ nát. Một dòng chảy cực mạnh kéo theo vô số đá vụn, dâng lên theo đường hầm và tiến về phía họ.
Ho sù sụ, họ cuối cùng cũng đã đến được lối ra. Từng người một leo lên, tiếp tục đối mặt với cơn bão. Lên đến đỉnh, dù choáng váng nhưng Lyle vẫn mở dù ra che cho mọi người.
Rachel vớ lấy một cái, nhưng vẫn ngửa mặt lên trời để nước mưa rửa sạch thân thể.
Chúng ta đã thành công.
1h42 chiều
Gray nhìn trừng trừng về phía đống đổ nát của tháp tu viện, giờ chỉ còn là một đống ngổn ngang đang chìm. Nước đang bắt đầu bao lấy nó.
Hang động chắc chắn đã bị lấp hoàn toàn.
Một tiếng gầm rú trỗi lên sau lưng anh khi Lyle khởi động chiếc xe kéo. Cơn bão gào thét - cơn gió đã lớn dần lên. Mưa đã thay áo cho bầu trời, và được những cơn gió tiếp sức, tạo nên những vệt dọc quét qua biển Ireland và hòn đảo. Thậm chí sấm chớp cũng bị khuất phục như thể một con bò mộng ngoan ngoãn dưới làn roi của cơn bão.
Họ dồn hết lên phía sau xe để được chở qua ngọn đồi rồi tiến về phía cảng. Lyle ngồi lọt thỏm vào chiếc ghế và nhấn ga chiếc xe kéo. Chiếc xe giật lên mấy cái rồi mới chạy.
Tất cả đều ngồi thụp xuống để tránh những cơn gió và mưa.
Wallace bồi hồi nhìn về phía đổ nát của tu viện Thánh Mary. “Mguyên tắc đầu tiên trong ngành khảo cổ,” ông liếc Gray. “Đừng đụng vô bất cứ thứ gì.”
Gray không trách giáo sư vì đã mắng mình. Anh đã hành động và không suy xét đến hiểm nguy. Anh đã vô cùng kinh ngạc khi khám phá ra rằng thánh giá có trước Chúa, và những cấu thành của bánh xe thực sự có thể xoay. Anh đã quên câu cách ngôn “đừng bao giờ nhảy trước khi nhìn.” Không giống cha Giovanni. Theo như những tính toán của vị tu sĩ, ông đã cẩn thận giải mã các câu đố một cách có hệ thống.
Nhưng xét cho cùng, cha Giovanni đã được đào tạo như một nhà khảo cổ học, và cũng đã không rơi vào hoàn cảnh phải cứu mạng một cô gái.
Nhóm của anh chỉ còn hai ngày nữa để giải quyết bí ẩn này. Gray sẽ không xin lỗi vì đã theo đuổi cuộc điều tra, đã nắm lấy cơ hội, và đã bỏ qua những quy tắc an toàn để đạt được kết quả.
Tuy vậy, trong khi hình dung lại những ghi chú khó hiểu cùng những tính toán đau đầu của cha Giovanni, anh biết rằng vẫn còn sót một điều gì đó. Nhưng khi anh càng muốn xác định lại thì nó lại càng mơ hồ.
Wallace lắc đầu. “Hãy nghĩ về những gì mà chúng ta có thể phát hiện ra được, giá như chúng ta có thêm một ít thời gian với cây thánh giá…”
Gray nghe thấy sự trách móc đằng sau những lời nói bóng gió của Wallace. Sinh khí của người đàn ông đã bị cuốn theo đi những mệt nhọc, khủng hoảng, và không ít thất vọng. Chỉ với một sai lầm, họ đã phá hủy vật báu vô giá và mất đi tất cả những manh mối mà cây thánh giá đang cất giữ.
“Nếu chìa khóa vẫn còn ở dưới đó thì sao?” Wallace hỏi thẳng thừng.
Với Gray thì đã đủ lắm rồi. “Ông không tin nó ở dưới đó. Và tôi cũng vậy.” Những lời lẽ cất lên đầy cay nghiệt cho dù bản thân anh cũng không muốn thế, nhưng sự thật thì anh cũng đã kiệt sức lắm rồi.
“Sao anh chắc vậy?” Wallace hỏi.
“Bởi vì cha Giovanni đã bỏ đi. Ông ấy đã tiếp tục cuộc tìm kiếm. Tôi nghĩ ông ấy đã giải quyết được câu đố của chiếc thánh giá, đã tìm thấy một kho báu trống rỗng, nơi đã từng cất giữ chiếc chìa khóa, rồi ông ấy đi tiếp, đi lấy một món đồ mà ông ấy cần để tiếp tục việc tìm kiếm.”
“Di vật từ ngôi mộ,” Rachel nói.
Gray nhìn chằm chằm vào cơn bão. “Chìa khóa vẫn còn ở ngoài kia. Tôi không nghĩ rằng thánh giá đã giúp ích cho cha Giovanni nhiều lắm. Do đó ông ấy đã tiếp tục, và chính vì vậy chúng ta cũng phải đi tiếp.”
“Nhưng ở đâu đây?” Wallace lại hỏi. “Thậm chí chúng ta phải bắt đầu tìm ở đâu? Chúng ta lại quay trở lại điểm xuất phát rồi.”
“Không, không đâu,” Gray nói.
“Tại sao anh nói vậy?”
Gray phớt lờ câu hỏi của vị giáo sư rồi quay sang Rachel. “Sao em biết nhiều về Thánh Malachy vậy?”
Cô ngẩng đầu lên khỏi tấm ván, rõ ràng là đang rất bất ngờ. “Chú Vigor nói đó. Lời tiên tri đã khơi gợi trí tò mò của chú ấy. Chú ấy có thể thao thao hàng giờ về Thánh Malachy.”
Gray nghi lắm mà. Quý ông Verona đã luôn đam mê về những bí ẩn của giá đoạn trước Nhà thờ, luôn tìm kiếm những sự thật đằng sau thuốc chữa bệnh cùng những phép màu. Một hình ảnh như Malachy chắc chắn sẽ thỏa mãn trí tưởng tượng và gây sự chú ý với ông ấy lắm đây.
“Vậy là rõ vì sao cha Giovanni đã tìm chú của em,” Gray nói. “Ông ấy biết chìa khóa giải đáp bí ẩn của cuộc đời vị thánh đó. Cho nên Giovanni đi tìm nguồn tư liệu tốt nhất mà ông biết.”
“Vigor Verona.” Wallace ngồi thẳng lên, bất chấp cơn mưa gió.
“Có thể Marco đã biết về âm mưu của Viatus, hoặc có thể đã được chỉ điểm. Nhưng tôi nghi ngờ rằng nếu càng lún sâu vào ba cái chuyện lời nguyền và phép màu, ông ấy sẽ càng bị nguy hiểm. Đó là lí do vì sao ông ấy đã phải nhờ đến chuyên môn cũng như sự bảo vệ từ phía Nhà thờ.”
Từ đằng sau xe, Seichan thêm vào câu chuyện với một quan điểm nghe khá là rùng rợn. “Nhưng ông ta đã đi tìm họ quá muộn, ai đó đã biết kế hoạch.”
Gray gật gù. “Nếu chúng ta muốn khám phá ra nơi cất giấu chiếc chìa khóa của Ngày Tận thế, chúng ta phải cần một chuyên gia về Thánh Malachy.”
“Nhưng Verona còn đang hôn mê mà.” Wallace nói.
“Chẳng sao cả. Chúng ta có một người cũng biết khá nhiều đấy thôi.” Anh quay sang Rachel.
“Em hả?”
“Ừ, em sẽ ra tay giúp đỡ từ giờ trở đi.”
“Sao được?”
“Bởi vì anh đã biết chiếc chìa khóa cất giấu ở đâu rồi.”
Wallace nhìn anh như không tin nổi. “Cái gì? Ở đâu?”
“Cuốn Kinh Thánh của Malachy được để trong cái quan tài đá là có lí do. Hơn là chỉ để tẩy uế thánh vật. Nó được để lại như một dấu hiệu, một mẩu bánh vụn dẫn đường đến vị trí của nơi yên nghỉ mới. Trước khi có sự xuất hiện của những người La Mã, chiếc chìa khóa và mộ của hoàng gia luôn được cất giữ ở bên nhau. Chúng gắn kết với nhau. Và trong cái quan tài đá, chúng ta đã phát hiện ra cuốn Kinh Thánh của Malachy được gắn kết với thánh vật của một nhân vật cổ xưa, liên quan đến ông ta.”
“Anh đang nói cái gì vậy?” Wallace sốt ruột.
“Tôi nghĩ Thánh Malachy đã thế chỗ cho nhân vật này. Và rồi ông ta được nhiều người biết đến như là người giữ chiếc chìa khóa.”
Mắt Wallace mở to ra. “Vậy ý anh là, chiếc chìa khóa…”
“Đang ở ngôi mộ của Thánh Malachy.”
Kowalski rên rỉ và lấy cọng rơm khều khều cái móng tay. “Biết ngay mà. Nhưng tôi nói trước đó nha, tôi không có xuống dưới đó đâu á.”
Trước khi họ có thể thảo luận sâu hơn, chiếc xe đã dừng lại. Gray ngạc nhiên vì họ đã tới cảng rồi.
Lyle nhảy phốc xuống và ngoắc tay kêu họ ra. “Mọi người vào trong căn nhà cũ ở gần cảng để trú mưa. Đi mau lên, ướt hết rồi. Cháu sẽ vô sau.”
Khi Gray chạy xuống phía ngôi nhà bằng đá, anh nhìn chăm chăm ra phía biển. Mặt nước nổi bọt trắng xóa. Gần trong tầm tay, chiếc phà lắc dữ dội và kêu cót két, dù dã được che chắn trong cái đập chắn sóng của cảng. Sẽ là một “chuyến tàu bão táp” mới có thể về được lại đất liền.
Nhưng ngay lúc này đây, những cánh cửa sổ của ngôi nhà đang tỏa sáng hứa hẹn một bếp lửa ấm áp. Tất cả vào nhà, đóng lại phía sau cơn bão. Căn phòng được dựng nên bởi những cây thông mới đốn, để lộ cả những đòn ngang nặng nề của nó. Cái sàn nhà đi thì kêu canh cách dưới chân. Nơi này ám mùi khói từ ống tẩu. Một vài ngọn nến thắp sáng mấy cái bàn. Họ nhẹ nhàng đặt áo khoác lên trên mấy cái ghế gần đó.
Gray ngồi quay lưng với đám lửa, cảm nhận rõ hơi nóng từ chân lên đầu. Hơi ấm của đám lửa nhảy múa bập bùng đi một chặng đường dài để đánh bật lại sự tuyệt vọng đã bắt đầu xâm chiếm lấy họ.
Nhưng ngay lúc này họ đã có kế hoạch hành động.
Một nơi để tìm kiếm tiếp theo.
Cái cửa bật mở khi gió dập vào ổ khóa từ tay Owen Bryce. Ông giữ nó lại và cố đóng cửa. Ướt sũng, ông dậm chân và giũ sạch nước trên người.
“Ngoài đó trời rét lắm, chắc chắn đấy, người chèo thuyền vừa nói vừa nhe răng cười méo xẹo. “Và tôi e là tôi có vài tin tốt và tin xấu đây.”
Lời mở đầu như vậy chẳng bao giờ hay ho cả.
Gray bước ra xa đám lửa.
“Tin xấu là chúng ta không thể băng qua biển hôm nay được. Cơn bão đã thổi qua biển và trong tình trạng rất dữ dội. Các anh không biết đó chứ, tên mà xứ Wales đặt cho hòn đảo này là Ynys Enlli, có nghĩa là hòn đảo của bão dữ. Và đó là vào ngày nắng đấy.”
“Thế còn tin tốt là gì?” Kowalski hỏi lại.
“Tôi đã kiểm tra và có thể thuê phòng với giá rẻ phân nửa cho mọi người nghỉ ở đây tối nay. Rất tốt nếu ở đây hết tuần.”
Gray cảm thấy đói cồn cào. “Thế anh dự tính chúng ta có thể rời hòn đảo này sớm nhất là khi nào?”
Ông ta nhún vai. “Khó đoán lắm. Điện và điện thoại đều bị hư trên toàn đảo. Chúng ta phải chờ chỉ dẫn cụ thể từ trưởng khu cảng ở Aberdaron trước khi chúng ta nghĩ đến việc rời khỏi đây.”
“Thế anh đoán sớm nhất là khi nào?”
“Chúng tôi có một vài du khách ở đây năm ngoái đã mắc kẹt trong vòng mười bảy ngày.”
Gray chờ câu trả lời cho câu hỏi của mình. Anh nghiêm nghị nhìn người đàn ông đó.
Owen cuối cùng dịu lại, đưa tay lên trên đầu. “Tôi chắc là chúng tôi có thể giúp các anh trở lại Aberdaron trong hai ngày. Ba ngày là trễ nhất.”
Phía đằng kia, Rachel ngồi phịch xuống chiếc ghế.
Cô đâu còn nhiều thời gian như thế.