Đảo Bardsey, xứ Wales
Khi Gray chuẩn bị xuống hầm mộ, đảo Bardsey đã hoàn toàn nằm trong tâm bão. Như thể ông trời đang cảnh báo việc xâm nhập khu mộ.
Một ánh chớp dữ dội xé toạc bầu trời. Mưa rơi như bom đang oanh tạc những ngôi mộ và các tấm bia. Ở phía Bắc, sét cứ lóe liên hồi.
“Tôi sẽ đi trước dẫn đường,” giọng Gray lẫn trong tiếng sét.
Cậu bé Lyle nhanh chóng chạy vào một nhà nguyện nhỏ gần đó để tìm một sợi dây thừng. Nhưng mưa như trút nước thế này, Gray sợ hầm mộ sẽ bị ngập nước trước khi họ có cơ hội thăm dò nó.
Lối vào hầm mộ là một cái hang nhỏ trên mặt đất rộng hơn nửa mét, chỉ vừa đủ một người vào. Sàn đá của hầm mộ cách nó chừng hơn 2 mét. Bên dưới thì rộng hơn, có vẻ như gấp đôi lối vào. Anh cũng không thể thấy gì hơn nếu như không tự mình xuống đó.
Gray vịn vào thành hang rồi lách người chầm chậm vào trong. Anh trụ vững hai chân, sau đó leo vào đoạn đường còn lại. Anh chạm đất với tư thế khom mình sau đó rút ra nhanh chiếc đèn pin.
Anh nhìn lên mọi người.
“Cẩn thận đấy,” Rachel nói.
“Hãy cho tôi biết anh thấy gì nhé,” Wallace thêm lời.
Cả Kowalski và Seichan đứng cách xa cái hang hơn.
Gray bật đèn và quan sát khu hầm chính. Vách hang có dạng vòm làm bằng đá tự nhiên tạo nên những bức tường gạch, có vẻ hỏi mỏng manh. Anh tưởng tượng ra những chiếc quan tài và hài cốt đằng sau những miếng gạch. Và có lẽ một trong những thi hài đó là của vua Newborough.
Khi nước mưa chảy xuống tường, Gray dành thời gian để xem xét bề mặt. Anh lướt đôi bàn tay để tìm những viên đá rời ra, tìm một vài dấu hiệu cho thấy cha Giovanni đã từng ở đây và đã khám phá ra điều gì đó.
“Sao rồi?” Wallace hỏi vọng xuống.
“Chưa thấy gì cả.”
Rachel đứng lùi ở xa, nhưng giọng cô vẫn vang đến tai anh. “Lyle đã quay lại và mang theo một sợi dây thừng.”
Giờ thì Gray chú ý sang bức tường thứ tư. Ở đây, những viên gạch được xếp thành hình vòm thấp, chỉ cỡ ngang thắt lưng. Gray khom người và lia ánh sáng vào trong. Không gian này chắc chắn dùng để chứa quan tài. Sau đó, mái vòm này mới được xây tường lên giống như những cái khác. Nhưng hiện giờ thì hốc tường vẫn còn trống.
Anh biết cái hốc này rất quan trọng. Bức tường này đối diện với tàn tích của tòa tháp tu viện. Chống hai tay xuống đất và quỳ trên vũng nước, Gray bò vào trong cái hốc. Nó khá sâu. Chỉ trừ lối vào có viền gạch thì phần còn lại bên trong vẫn là đá cứng. Gray rà soát chậm rãi phía sau ngôi mộ.
Anh vỗ nhẹ vào vách đá rồi lướt lòng bàn tay trên bề mặt.
Không có gì.
Dù hơi nản chí, nhưng anh vẫn tin tưởng. Bất kể là cái gì được che giấu chắc chắn nó phải nằm dưới khu tàn tích của Thánh Mary. Nhưng rất có khả năng anh nhầm lối vào. Có lẽ không phải là hầm mộ này. Cha Giovanni có thể đã tìm kiếm nó theo sự gợi ý của Lyle - cũng như Gray đang làm bây giờ - và vẫn không bỏ cuộc.
Anh nghe thấy tiếng lõm bõm ở phía sau, ai đó đã nhảy xuống hầm mộ.
Anh lùi lại và leo ra khỏi cái hốc. Rachel đã đứng đó. Tóc cô bện lại và bám vào mặt vì ướt. Mắt cô sáng lên đầy hi vọng dưới ánh đèn pin. Anh không thể khiến cô thất vọng.
“Ngõ cụt hả?” cô hỏi.
Anh cau mày, không thích lời này chút nào, cũng chẳng vui vẻ khi không tìm thấy gì hết. “Không có dấu hiệu cho thấy cha Giovanni đã từng ở dưới đây.”
“Em có thể thử không” cô hỏi và đưa tay có ý muốn lấy đèn pin của anh.
Sao anh có thể từ chối đây?
Anh đưa cô cây đèn. Cô chống một tay, khom người chui vào cái hốc rỗng. Thân hình nhỏ nhắn cho phép cô luồn sâu vào không gian hẹp hơn. Cô quét đèn dọc theo những bức tường.
“Thấy gì không?” anh hỏi.
“Không.”
Ở phía trên, Wallace nói đúng nỗi lo ngại của Gray. “Có thể chúng ta nhầm nơi.”
Rachel chào thua và quay người lại tính bước ra. Nhờ vào sự mềm dẻo của mình, cô xoay người rất dễ dàng trong cái hốc nhỏ hẹp rồi hướng đến lối ra - bỗng cô khựng người lại.
“Gì thế?” Gray hỏi.
“Đến đây xem này.”
Ánh đèn chiếu thẳng vào mắt khiến anh hơi nheo lại, rồi bò về phía cô.
“Không phải,” cô cảnh báo. “Trườn vào bằng lưng ấy.”
Gray nghe theo. Anh nằm xuống vũng nước, ưỡn người rồi dùng khuỷu tay chống đỡ sau đó dùng chân đẩy để trườn vào cái hốc. Mặt ngửa lên, đây chính là tư thế của người nằm trong mộ.
“Thấy gì ở dưới đó rồi?” Wallace la lên.
“Vẫn chưa biết,” Gray trả lời khi anh trườn vào sâu hơn.
“Trườn thêm nữa,” Rachel giục.
Anh tiếp tục trườn vào trong. Cuối cùng đầu anh chạm vào hai gối của cô. Cô ngả người về phía anh với ánh đèn. Cô thoảng mùi của len ẩm. Anh thì lại chăm chú nhìn vào ngực cô phía trên đầu mình.
“Nhìn kìa,” cô nói.
Tất nhiên là anh đang nhìn, nhưng ý cô là muốn anh nhìn về phía đèn soi. Anh buộc phải chống khuỷu tay để ngẩng đầu dậy và nhìn về phía lối vào. Thoạt đầu, anh vẫn chưa phát hiện điều bất thường, hốc đá phía sau bức tường cũng không có gì đặc biệt.
“Để ý cách mà những viên gạch được đặt nằm ngang, nhưng hãy nhìn vào ba viên gạch vòng quanh viền khe hở trên đỉnh và hai bên góc.”
Gray cũng đã phát hiện ra điều đó. “Chúng được đặt thẳng đứng.”
Khe hở có dạng bán nguyệt hoàn hảo. Ba viên gạch đứng đánh dấu vị trí của 12 giờ, 3 giờ và 9 giờ.

Anh nghĩ nó có ý nghĩa gì không?” Rachel nói.
Gray nói. “Nó trông như một nửa của chữ thập thần thánh.”
Nhờ sự phản chiếu từ vũng nước, anh có thể thấy toàn bộ vòng tròn. Và cũng nhờ đó mà anh đã hình dung ra toàn bộ ký hiệu này, nếu vẽ những đường thẳng nối những viên đá nằm đứng lại thì nó sẽ tạo thành một cây thánh giá của các tu sĩ thuộc dòng Xentơ cổ mà họ đã theo dấu ngay từ ban đầu.

“Nhưng nó có ý nghĩa gì.” Rachel hỏi.
“Để anh thử cái này xem.”
Gray lại trườn ngược trở ra cũng bằng những động tác giống lúc vào. Sau đó anh lật người rồi bò vào trở lại, nhưng lần này thì chân vào trước. Anh hi vọng sẽ không nằm trên vũng nước như hồi nãy.
Wallace hét xuống, “Sao rồi?”
“Vẫn đang tìm,” Gray trả lời bằng giọng căng thẳng.
Anh đang ở gần lối vào và kiểm tra ba viên gạch. Hai viên ở hai góc vó vẻ không có gì đặc biệt và được cố định vào tường bằng vữa. Duỗi tay đưa lên, anh túm lấy viên gạch trên đỉnh. Dường như cũng chả có khác biệt gì - cho đến khi những ngón tay anh đụng trúng mép trên của nó. Có một vết lõm không sâu, giống y như một cái rãnh.
Anh cắm những ngón tay mình vào đó và giật mạnh viên gạch.
Viên đá bật ra. Anh giữ nó một lát, rồi sau đó khi anh kéo mạnh hơn, một tiếng tách của kim loại vang lên đằng sau anh - theo sau đó là tiếng ken két của đá. Họ đều vặn người và liếc nhìn phía sau qua vai họ. Bức tường sau lưng từ từ mở ra để lộ một cầu thang hẹp đi xuống.
“Lối vào,” Rachel rì rầm bên tai anh. “Chúng ta tìm thấy rồi.”
Họ phải đi lùi một cách khó khăn về phía bức tường mới được mở để đến chỗ cầu thang. Mặc dù hẹp, nhưng nó đủ rộng để có thể đứng dậy.
Rachel rọi đèn xuống lối đi ngắn gồm các nấc thang bằng gạch. “Có một đường hầm ở phía chân cầu thang sao?”
Gray trèo xuống để quan sát, nhưng khi chân anh đạp vào nấc thang thứ năm, anh cảm thấy bậc thang lún xuống một chút do sức nặng.
Một tiếng tách khác lại vang lên.
Tim anh như ngừng đập khi tâm trí anh bật ra một từ.
Bẫy.
Phía sau họ, cánh cửa đóng lại. Rachel hét lên và phóng thật nahnh để thoát ra. Nhưng không kịp. Cánh cửa đã khép lại cùng với một tiếng cách.
Cô đấm vào cánh cửa đá, nhưng vô ích.
Họ đã bị nhốt bên trong.
★ ★ ★
12h42 trưa
Seichan nghe thấy tiếng hét của Rachel - sau đó lại một tiếng thét đinh tai khác vang lên khiến mọi người đứng ngoài gần như bị điếc.
Khi tiếng vang ấy qua đí, Wallace cúi mình về phía cái hang. “Hai người đã tìm thấy gì ở dưới đó à?”
Không có câu trả lời.
Seichan cũng để ý thấy ánh sáng của chiếc đèn pin bên dưới đã biến mất. Có gì không ổn. Theo bản năng, cô ta thu tay lại rồi nhảy nhẹ nhàng vào lối đi hẹp, chạm mặt đất bằng đầu gối, nước văng tung tóe. Cô ta đưa tay vào trong hốc tối, ánh sáng từ cái bật lửa trên tay tỏa ra lung linh soi rọi khắp nơi đằng sau hầm mộ.
Nó trống không.
“Có chuyện gì thế?” Wallace hỏi từ phía trên.
“Họ biến mất rồi.”
Kowalski di chuyển gần hơn đến khu hầm mộ, người ướt sũng với cái mặt sưng sỉa. Lyle chạy đi tìm một vài cây dù. “Tôi đã nói với ông thế nào… đừng bao giờ chui xuống lỗ với Pierce.”
“Đôi khi nó có thể là một điều tốt,” Wallace nói.
Kowalski nhìn ông bằng ánh mắt xui xẻo.
“Chắc họ đã tìm thấy lối vào bí mật,” Wallace nói thêm vào.
Nhưng tiếng la của Rachel chẳng có vẻ gì là hay ho khi phát hiện ra nó cả.
Seichan khom mìn vào trong cái huyệt. Cô ta la to hết cỡ. “PIERCE! RACHEL!”
Ánh chớp lóe lên và tiếng sét ầm ầm phía bên ngoài, nhưng Seichan vẫn l oáng thoáng nghe thấy có tiếng nói yếu ớt. Cô ta tiến vào sâu hơn.
“TÔI KHÔNG HIỂU!” cô hét lên.
Một tiếng tóe nước lớn khiến cô ta giật mình. Cô ta liếc nhìn qua vai và thấy Wallace đang đứng đằng sau cô ta, một tay vẫn giữ sợi dây thừng.
“Tôi không xuống đó đâu,” Kowalski cảnh báo ở trên.
“Im lặng nào!” Seichan ngắt lời.
Cô ta căng tai lắng nghe, cố hiểu từng lời của Gray. Cô ta nhắm mắt lại, căng thẳng. Những lời hướng dẫn của anh cứ ngắt quãng. Cô ta nghĩ chắc anh cũng đang phải gào thét dữ lắm.
“Ở PHÍA TRONG! VIÊN GẠCH ĐỨNG! TRÊN LỐI VÀO! GIẬT MẠNH NÓ!”
Phải cần cả hai tay để rà soát, cô ta cất chiếc bật lửa và đưa toàn bộ thân mình len lỏi vào trong huyệt. Mò mẫm trên lối vào, cô ta sờ mó những viên gạch và tìm thấy một viên đúng như mô tả của Gray. Cô đưa tay rờ trên mép đỉnh và phát hiện có một cái rãnh được khắc để bấu những ngón tay vào nắm viên đá, cô giật mạnh.
Một tiếng tách lớn vang lên.
Bức tường sau lưng rung lắc và mở ra. Cô thấy vẻ mặt sợ hãi của Rachel còn Gray thì đứng ngay phía sau đó.
“Bị nhốt,” Gray nói. “Bảo mọi người cẩn thận bậc thang thứ năm. Nó sẽ đóng cánh cửa.”
Đằng sau Seichan, Wallace rọi chiếc đèn của ông vào họ. “Anh đã tìm thấy lối vào bên trong. Thông minh! Thật thông minh!”
Sau một phút tranh luận ầm ĩ, tất cả họ đều đã xuống được chân cầu thang an toàn. Hành lang bằng đá đen hướng xuống khá dốc.
Kowalski từ chối nhập bọn, nói vọng xuống. “Mấy người đi đi. Tôi đứng đợi mấy cây dù.”
Phía bên trong đường hầm, Rachel la lên. “Nhìn cái này xem.” Cô lia đèn pin vào một cái đòn bẩy bằng đồng dày ở trên sàn gần chân cầu thang. “Tôi nghĩ nó có thể mở lối vào bí mật này.”
“Có thể là cách mà cha Giovanni đã đi vào và ra đi,” Gray nói. “Tuy nhiên, chúng ta vẫn nên giữ lối ra mở phòng có gì bất trắc.”
Để đề phòng, anh đã chèn một bia đá lấy từ nghĩa trang để giữ cho cửa vẫn mở. Seichan đồng tình. Cô ta cũng muốn để lối ra mở nếu như có gì nguy hiểm xảy ra.
Wallace hướng ánh đèn xuống đường hầm. “Các vị tu sĩ thường tạo ra các cửa bẫy và những căn phòng bí mật trong tu viện và nhà nguyện. Nơi này đầy những hành lang giống như vậy. Nó cũng là một trong những phương tiện giúp họ có thể tránh được những tên cướp. Hơn nữa, những đường hầm cũng trang bị luôn cách để theo dõi những vị khách của nó. Trí thông minh chính là tấm khiên vững chắc giúp họ vượt qua những lúc gian truân.”
“Nào giờ hãy cùng khám phá xem các vị tu sĩ đã giấu gì ở dưới đây,” Gray nói và dẫn đường.
Những người khác theo sau. Seichan bọc hậu.
Hành lang tuy khá dốc, nhưng cũng không dài lắm. Đường hầm dẫn đến một không gian hình vòm không có lối ra.
“Chắc chúng ta đang ở ngay dưới khu tàn tích của tòa tháp,” Gray nói.
Wallace miết bàn tay dọc theo tường. “Không có dấu hiệu đục khoét, hoàn toàn là một hang động tự nhiên.”
Nhưng đôi mắt của vị giáo sư vẫn tập trung vào giữa gian phòng. Một cái quách khổng lồ được đặt nằm trong trung tâm của căn phòng. Nó cao đến thắt lưng và trông như được chạm đúc từ một khối đá lớn.
Ở xa phía bên kia quan tài, một cây thánh giá Xentơ được đính trên tường.

Khi những người khác tiến đến cái quan tài bằng đá, thì Seichan nghiên cứu cây thánh giá. Nó không được trang trí công phu như những cái khác ở trong nghĩa trang tu viện. cây thánh giá này hoàn toàn trơn và được đục đẽo rất sơ sài khiến nó trông có vẻ cổ xưa hơn. Sự trang trí duy nhất của nó chính là một vài hình xoắn ốc được khắc nối, và vòng xoắn trên chữ thập được khắc tập trung trên một vùng hẹp.
Rời mắt khỏi cây thánh giá, những người khác chuyển sự chú ý đến một cái quan tài nằm trên sàn. Các mặt bên không có nét gì đặc biệt, nắp quan tài vẫn còn đóng.
“Liệu đây có phải nơi an nghỉ của vua Newborough không” Rachel.
Wallace chống một tay lên nắp quan tài và miết những ngón tay trên bề mặt gồ ghề. “Quá cũ. Nếu như Newborough nằm ở đây, có khả năng lớn là ông được an táng trong một hầm mộ được niêm phong khác. Đây là quan tài của một ai đó. Tuy nhiên, chiếc quan tài này được làm bằng đá xanh giống những viên đá tảng thuộc thời kì đồ đá mới có ở trong vùng. Nó phải được khai thác ở đâu đó trên đất liền và được chuyển đến đây. Tôi đoán đây là mộ của một trong những người xây dựng vòng tròn đá cổ, rất có thể là một trong những vị hoàng tộc.”
Rachel nói. “Giống như nữ hoàng Fomoria?”
“Đúng rồi, Đức mẹ da đen của chúng ta,” Wallace nói, nhưng bất chợt cau mày và khom người xuống, rọi đèn vào mặt bên của cái quách và soi khắp bề mặt. Ngón tay ông miết dọc theo đá. “Trông như đã từng có một vết khắc ở đây. Một kiểu trang trí, hay rất có thể là một bản ghi chép. Nhưng đã có ai đó đã mài để làm nó mờ hoàn toàn.”
Ông càng cau mày hơn trước sự mạo phạm này.
Gray nhìn lên. “Nếu niên đại của nó thuộc thời kì Đồ đá mới, Nhà thờ có thể đã xóa bỏ những vết khắc này.”
“Ừ. Có vẻ như thế. Nếu có điều gì đó nghịch lại với giáo lý của họ, nó sẽ phải bị hủy. Nhớ lại điều đã xảy ra cho bản chép tay của người Maya, một kho tàng kiến thức cổ vô cùng quý giá. Vậy mà nhà thờ lại quy nó là công việc vủa quỷ dữ nên đã đốt gần hết.”
Seichan nhận ra sự mâu thuẫn và tiến lại gần hơn. “Vậy tại sao họ không hủy luôn cái quách? Mà chỉ đơn giản là tẩy sạch nó?”
Wallace trả lời, “Nếu đó là người làm mộ, thì họ phải tôn trọng việc mai táng. Nhà thờ lúc đó cũng không vượt qua sự mê tín. Họ không muốn phá rối giấc ngủ của người đã chết.”
Gray nêu lên lời giải thích của mình. “Hoặc có thể thứ được chứa ở đây có giá trị nào đó đối với họ.”
“Đại loại như là chiếc chìa khóa Ngày Tận thế,” Rachel nói.
Seichan làm ngơ trước cái nhìn của Rachel. Cô ta đứng nhìn và khoanh tay.
Gray khom người và kiểm tra nắp hòm. “Trông có vẻ nó được hàn lại bằng sáp.” Anh nhấc tay cọ xát những mảnh sáp vương trên ngón tay mình. “Nhưng ai đó đã mở nó.”
“Hẳn là cha Giovanni,” Rachel nói. “Nhìn đây xem.” Lúc này, cô đã di chuyển sang cây thánh giá cổ và chỉ vào những bức tường ở hai bên.
Những tính toán ghi chú được viết nguệch ngoạc bằng than. Trông giống như cha Giovanni đã đo đạc kích cỡ của cây thánh giá. Ông cũng vẽ một vòng tròn hoàn hảo xung quanh. Và thêm những đường thẳng giao nhau được vẽ lên trên tạo thành một mô hình khó hiểu. Đối với Seichan, nó trông đầy bí ẩn.
Marco đã làm gì ở đây?
Gray xem xét kỹ cây thánh giá. Seichan thấy những tính toán vẫn đang tiếp diễn trên khuôn mặt anh. Nếu ai đó có thể tìm ra chiếc chìa khóa đó, thì chính là người đàn ông này.
Cuối cùng Gray lùi lại rồi quay đi, Seichan ngờ rằng anh vẫn tiếp tục phân tích những bí ẩn của cây thánh giá, nhưng anh lại chỉ về phía cái quách.
“Nếu Marco đã mở nắp, thì chúng ta cũng nên xem ông ta đã tìm thấy cái gì.”
★ ★ ★
1h03 chiều
Nắp quan tài khá nặng nên cần hết mọi người để mở nó.
Sao cha Giovanni có thể tự làm được nhỉ? Gray tự hỏi khi anh phải trụ chân chống để đẩy cái nắp. Hay ông được ai giúp? Hay có thể ông mang theo một vài dụng cụ đặc biệt?
Sự hợp lực đã có kết quả. Bằng cách kéo lê một phiến đá trên một tảng đá, họ đẩy chiếc nắp lệch qua nhưng vẫn giữ nó thăng bằng ở trên cái quách.
Gray rọi đèn pin vào bên trong. Tảng đá xanh này được khoét bên trong tạo thành một không gian trũng xuống. Anh đang mong đợi một bộ xương khô, mặc dù bên trong vừa đủ để đặt một thi hài, nhưng cái quách trống không.
Ngoại trừ một vật.
Một cuốn sách to được bọc một lớp da dày nằm ở chính giữa quách. Nó rộng và dày chứng ba tấc, dài chừng sáu tấc, có vẻ được bảo quản rất kĩ. Anh có cảm giác ngôi mộ như chưa hề bị xâm phạm kể từ lần nó được đóng nắp và niêm phong bằng sáp.
Gray với tay định cầm nó.
“Cẩn thận,” Wallace chợt nhắc nhở. “Anh không muốn làm hỏng nó chứ. Chúng ta nên đeo găng vào.”
Gray ngập ngừng, cố đoán tuổi của cuốn sách.
Mặc dù chính mình nhắc nhở phải cẩn thận, nhưng Wallace lại phất tay ra hiệu một cách thiếu kiên nhẫn về phía Gray. “Anh còn đợi gì nữa?”
Anh nuốt nước bọt, Gray thận trọng đặt hai ngón tay mình lên rìa cuốn sách. Chắc chắn cha Giovanni ít ra cũng đã mở nó một lần rồi. Khi Gray nhấc cái bìa khá nặng của cuốn sách, cứ như thể nó có những sợi gân khô liên kết với nhau để kháng cự người đang mở nó.
“Nhẹ tay thôi,” Wallace giục.
Gray kéo mở bìa sách nằm hẳn ra rồi tựa ngực vào thành đá để cúi xuống nhìn. Trang đầu tiên để trống, nhưng trong suốt để có thể thấy rất nhiều màu sắc nằm ở trang sau.
Wallace nhón chân để có thể cúi xuống gần hơn. “Ôi Chúa ơi…”
Vị giáo sư đưa tay xuống và lật trang đầu tiên lên. “Nó là giấy làm bằng da bê,” ông vừa nói vừa chà xát tờ giấy bằng ngón tay trỏ và tay cái của mình. Nhưng mắt ông dần mở to hơn khi phát hiện cái nằm bên dưới.
Phía dưới chùm ánh sáng của đèn pin, màu mực ở trang tiếp theo rực rỡ như đá quý được nấu chảy. Những màu đỏ thẫm, màu vàng của vàng thỏi và màu tím rất đậm khiến trông chúng như vẫn còn ướt. Những hình ảnh minh họa trên trang giấy vô cùng tỉ mỉ và chi tiết, mô tả những hình dáng con người đã được cách điệu quấn vào nhau thành một cái nơ và được bao bọc xung quanh bởi những trang trí hình cuộn phức tạp. Ở trung tâm của trang sách đầu tiên, được bao quanh bởi rất nhiều hình vẽ mang tính mỹ thuật và xúc cảm cao là một người đàn ông có râu đầu đội vương miện ngồi trên ngai vàng.
Rõ ràng hình ảnh này có ý mô tả Chúa cứu thế.
“Đây là một kiểu viết tay cách điệu,” Rachel nói, thán phục vẻ đẹp của nó.
Wallace lật thêm vài trang nữa. “Nó là một cuốn Kinh Thánh.”
Ngón tay của ông lần mò trên những dòng chữ sinh động chi chít trên những trang sách bằng tiếng Latinh. Kiểu viết chữ rất công phu, những hình ảnh kì lạ ở trong những kí tự viết hoa. Mép giấy cũng được trang trí với rất nhiều hình ảnh những con thú thần thoại, những đứa trẻ có cánh, dây xoắn và nơ.
“Sự mô tả bằng tranh này khiến tôi nhớ lại Cuốn Sách của Kells,” Wallace nói. “Một kho báu rực rỡ của Ireland có từ thế kỉ XVIII, thành quả lao động của những vị tu sĩ sống ẩn dật trong một thập kỉ. Và cuốn sách đó chỉ bao gồm nội dung của bốn quyển kinh thánh trong Tân Ước.”
Giọng Wallace run run. “Tôi nghĩ cuốn sách này là toàn bộ Kinh Thánh.” Ông lắc đầu. “Nếu thế, sự vô giá của nó vượt ngoài sức tưởng tượng.”
“Nhưng tại sao lại để nó ở đây?” Seichan hỏi. Thậm chí Seichan cũng tiến lại gần hơn để nhìn cuốn sách.
Wallace chỉ có thể lắc đầu. Nhưng khi ông đang cẩn thận lật thêm một vài trang Kinh Thánh trở lại, thì câu trả lời xuất hiện.
Những trang sách được lật lên đã làm lộ ra một cái lỗ lớn ở tâm cuốn sách. Cái lỗ được cắt ra thành từng miếng mỏng đều đặn xuyên qua những trang giấy và hình thành một chỗ kín đáo có diện tích đáy hơn 6,5cm và độ 2,5cm chiều sâu.
Wallace thở hổn hển trước sự phá hoại này.
Gray cúi người gần hơn. Chắc chắn cái lỗ này dùng để cất giữ một vật gì đó. Không quay lại, Gray đưa tay mình về phía Rachel. Cô đưa tay vào túi áo khoác.
Tất cả mọi người đều biết phải có cái gì từng được giấu ở đó.
Một lát sau, Rachel đặt một món đồ bằng da lên bàn tay Gray. Cái hộp da trông như được làm cùng chất liệu với lớp da bọc cuốn sách. Anh giữ nó phía trên cái lỗ. Nó khít một cách hoàn hảo.”
Cha Giovanni lấy đi món đồ tạo tác này, nhưng để lại cuốn Kinh Thánh,” Gray nói, hình dung về ngón tay của xác ướp ở trong hộp. “Tại sao?”
Chỉ hai từ nhưng chất chứa đầy nghi vấn.
Wallace tiếp lời anh. “Tại sao Marco không kể cho bất kì ai về điều này?”
“Có thể ông ta đã kể,” Seichan nói một cách lạnh lùng. “Bị săn lùng và bị giết, ông ta hẳn phải kể cho ai đó.”
“Cô ta đúng đấy,” Gray đã nhận ra. “Có lẽ Marco đã không thổ lộ tất cả những gì ông biết - như việc phát hiện cuốn Kinh Thánh, nhưng đã kể cho ai đó điều gì đó đủ để khiến ông bị giết.”
“Ôi, trời…” Wallace bất chợt la lên.
Gray quay lại phía ông.
“Khoảng hai năm trước, Marco có tìm tôi. Ông ta cần một số tiền để tiếp tục chuyến du lịch. Tôi đã kể về người bảo trợ của tôi, công ty Viatus có thể sẵn sàng tài trợ chó bất kì cuộc nghiên cứu nào có liên quan đến việc khai quật của tôi đang tiến hành. Tôi cho ông ta biết tên của người cần liên hệ. Tên cô ta là Magnussen.”
Seichan như muốn đóng băng bên cạnh Gray, nhưng cô ta vẫn giữ im lặng.
“Nhưng tôi không nghe gì từ Marco kể từ sau đó.” Wallace trông có vẻ mệt mỏi. “Tôi đã cho rằng ông ta không quan tâm. Và tôi đã quên khuấy cho đến giờ. Ôi, lạy Chúa, có thể tôi đã trực tiếp đưa ông ta đến với kẻ đã giết ông ấy.”
Gray hình dung ra chuỗi sự kiện trong đầu mình. Có lý. Viatus đã thuê Marco, đặc biệt là khi ông đề nghị tìm cho ra thế lực nào đã giết những xác ướp. Làm sao họ có thể từ chối? Nhưng sau đó, trong quá trình tìm kiếm, Marco đã phát hiện ra thứ gì đó khiến ông vô cùng sợ hãi và chạy đến Rome để gặp Vigor Verona và thổ lộ tất cả những gì ông biết. Kể ra những người thuê ông cũng thật thông minh khi đoán biết kế hoạch và bắt ông về.
Wallace bậm miệng, vẫn còn bị sốc. Ông đẩy nốt những trang sách còn lại lên cái lỗ trong cuốn Kinh Thánh bằng tay còn lại, tránh sự xâm phạm cuốn sách như thể nó khiến ông cảm thấy nhẹ tội đi.
Rachel nói khi cô nhận lại cái hộp da từ Gray. “Cha Giovanni đã cướp món đồ, những câu hỏi lớn nhất vẫn là ai đã đặt nó ở đây từ ban đầu và tại sao?”
Những lời của cô đã đưa họ về trung tâm của sự bí ẩn. Mạng sống cô phụ thuộc vào việc tìm ra những câu trả lời đó.
“Tôi có thể trả lời câu hỏi ai đã để lại cuốn Kinh Thánh,” Wallace nói và hít một hơi để lấy tinh thần.
Gray nhìn ông, ngạc nhiên. “Ai?”
“Có khả năng là chủ của cuốn sách.”
Wallace chỉ lại cuốn sách, hướng về phía bên trong bề mặt của trang bìa bằng da. Một trang giấy da bê được dán ở đó.
Trước đó, Gray đã quá tập trung vào nội dung của cuốn sách mà không để ý đến trang giấy bị trang bìa che khuất. Giờ anh xem xét nó kĩ hơn. Nó cũng được minh họa rực rỡ và dày đặc như những trang khác, nhưng nội dung xoáy quanh một cái tên được cách điệu, có khả năng là của chủ cuốn sách vô giá này.

Wallace đọc ngay cái tên được cách điệu ấy. “Mael Maedoc Ua Morgair.”
Cái tên này chẳng có nghĩa gì với Gray. Lỗ hổng kiến thức này hiện rõ trên khuôn mặt anh.
“Anh không thế sống ở đất nước này mà không biết đến cái tên đó,” Wallace giải thích. “Một giáo sư như tôi lại càng không?”
“Là ai vậy”
“Một trong những vị thánh Ireland nổi tiếng nhất, chỉ đứng sau Thánh Patrick. Tên của ông là Mael Maedoc, và được dịch sang tiếng Latinh là Malachy.”
“Thánh Malachy,” Rachel nói, rõ ràng là cô nhận ra tên này.
“Ông ta là a?” Gray hỏi.
“Có lẽ ông ta sinh gần năm mà Sách Ngày Tận thế được viết.” Wallace im lặng một lúc như để mọi người nhận ra vấn đề sau đó ông tiếp tục. “Ông ban đầu là cha trưởng tu viện Bangor rồi sau đó trở thành tổng giám mục. Ông dành hầu hết thời gian để đi hành hương.”
“Và rất có khả năng là ông ta đã đến đây?”
Wallace gật đầu. “Malachy là một người thú vị, chức tổng giám mục là do ông miễn cưỡng nhận lấy. Ông ta rất thích đi đây đó, hòa nhập với các con chiên ngoan đạo cùng với những người ngoại giáo trong vùng để truyền bá đức tin. Ông thường xuyên lui tới cả hai thế giới này và cuối cùng đã thiết lập được hòa bình vĩnh cữu giữa Nhà thờ và những người theo đạo giáo cũ.”
Gray nhớ lại trước đây, Wallace tin chắc rằng những người ngoại giáo còn lại đã dấy nên cuộc chiến chống lại người theo đạo Cơ đốc, có khả năng đã sử dụng vũ khí sinh học cổ xưa. “Ông có nghĩ rằng một phần của việc thiết lập hòa bình này cũng bao gồm luôn những hiểu biết về bệnh dịch cùng thuốc chữa cho nó, và sau đó được một cách hoa mỹ là chìa khóa của Sách Ngày Tận thế?”
“Dấu tay của ông ta vẫn còn ở đây.” Wallace hướng về cuốn sách.”Nhưng cũng có một lý do khác để Malachy được phong thánh, lý do tại sao ông xứng đáng là một vị thánh.”
“Tại sao thế?”
“À, đó mới là vấn đề, Wallace nói. “Cả cuộc đời của Malachy được biết đến là phép lạ chữa bệnh. Vị thánh này đã sáng tác một bài kinh nguyện dài để chữa bệnh lạ lỳ.”
“Giống như lịch sử của đảo Bardsey à,” Gray nói.
“Nhưng tôi cũng nhớ một câu chuyện khác về Malachy. Từ chính đất nước Scotland xinh đẹp của tôi. Malachy đã vi hành khắp thung lũng Annandale. Có một lần ông xin vị chủ đất ở đó tha mạng cho một kẻ móc túi. Ông ta đồng ý, nhưng cuối cùng vẫn treo cổ tên cướp. Cảm thấy bị sỉ nhục, Malachy đã nguyền rủa ông ta - và không chỉ mỗi mình ông chủ đất chết mà tất cả mọi người trong gia đình vị chủ đất đều phải chết.”
Wallace nhìn Gray một cách đầy ý nghĩa.
“Chữa lành và nguyền rủa,” Gray lẩm bẩm.
“Có vẻ như Malachy đã biết được điều gì đó từ những người bạn Druid mới của mình, một thứ gì đó mà Nhà thờ đã quyết định giữ bí mật ở nơi này.”
Rachel cắt ngang. “Nhưng ông đã không nhắc đến thánh Malachy nổi tiếng nhất là cái gì.”
“À, ý cô là những lời tiên tri,” Wallace đưa mắt đăm chiêu rồi nói.
“Những lời tiên tri nào?”
Rachel trả lời, “Những lời tiên tri về các vị Giáo hoàng. Người ta kể rằng trên đường hành hương đến Rome, Malachy đã rơi vào tình trạng xuất thần và thấy được tất cả các vị Giáo hoàng từ thời của ông cho đến tận thế. Ông nghiêm túc ghi chép lại tất cả.”
“Vớ vẩn,” Wallace phản đối. “Câu chuyện thực ra là Nhà thờ đã tìm thấy quyển sổ của Malachy trong hồ sơ lưu trữ của mình từ hơn 400 năm sau khi ông chết. Có lẽ cuốn sách đó chỉ là đồ giả.”
“Có một số người cho rằng nó chỉ là một bản chép lại từ bản gốc của Malachy. Nhưng dù là bản gốc hay bản chính, thì những sự miêu tả về mỗi Giáo hoàng qua các thế kỷ đã chứng minh sự chính xác của nó một cách kì lạ. Như hai vị Giáo hoàng gần đây nhất. Malachy đã mô tả John Paul II như De Labore Solis. Hay có nghĩa là đứa con từ sự đau đẻ của mặt trời. Ông ta sinh đúng vào lúc có nhật thực. Rồi còn vị Giáo hoàng đương nhiệm nữa, Benedict XVI. Được miêu tả như De Gloria Olivae. Vầng hào quang của nhành ooliu. Và biểu tượng cho dòng Benedict chính là nhành ôliu.”
Wallace phất tay thô bạo. “Quá nhiều đoạn trích khó hiểu bằng tiếng Latinh rồi đó.”
Rachel quay lại nhìn Gray tìm sự đồng tình. “Nhưng điều lo ngại nhất chính là vị Giáo hoàng hiện giờ là thứ 111 trong danh sách của Malachy. Vị giáo hoàng kế sau đó - Petrus Romanus - là vị cuối cùng theo như lời tiên tri. Vị Giáo hoàng đó sẽ lên ngôi khi đến ngày tận thế.”
“Và sau đó tất cả chúng ta đều chịu số phận bi đát,” Seichan nói, giọng có vẻ nghi ngờ giống Wallace.
“Tôi chắc chắn thế,” Rachel nói to đáp lại, khiến Seichan im lặng. “Trừ phi chúng ta tìm thấy cái chìa khóa chết tiệt đó.”
Gray vẫn giữ im lặng. Anh tránh đổ thêm dầu vào lửa. Nhưng Rachel đã đúng một điều. Họ cần phải tìm ra chiếc chìa khóa đó. Khi anh đứng dậy, trầm ngâm suy nghĩ về ý nghĩa của việc tìm thấy cuốn Kinh Thánh của vị thánh đã chết, được cất giấu trong quan tài của một kẻ ngoại giáo. Và quan trọng hơn –
“Ông có nghĩ ngón tay trong cuốn Kinh Thánh là của thánh Malachy không?” Gray hỏi.
“Không,” Wallace nói chắc chắn. “Cái quách này quá cũ. Quá cổ xưa. Tôi đoán nó thuộc thời kì Stonehenge. Ai đó đã được chôn ở đây, nhưng không phải Malachy.”
“Vậy thì là ai?” Gray hỏi.
Wallace nhún vai. “Như tôi đã nói, có khả năng là ai đó trong hoàng tộc thời Đồ đá mới. Có thể là nữ hoàng da đen. Dù sao, tôi vẫn nghi ngờ chiếc xương ngón tay là tất cả những gì còn lại của một ai đó được chôn cất đầu tiên ở đây.”
“Sao ông lại nghĩ như thế?”
“Rồi phần còn lại của cái xác đâ?” Rachel thêm vào.
“Có thể là do Nhà thờ đã di dời nó. Hay có lẽ là chính Malachy. Nhưng họ để lại mảnh xương ở đây như một tục lệ cổ thời đó. Thật là xúc phạm nếu di dời một thi hài khỏi nơi an nghỉ của nó trừ phi ta để lại một mẩu xương nhỏ.”
“Với di vật đó,”Rachel gật đầu nói, “thì xem như họ vẫn đang tiếp tục an nghỉ. Chú Vigor đã từng kể về điều này một lần. Nếu không làm như thế thì bị xem là một hành động báng bổ.”
Gray nhìn vào cái quan tài. “Malachy đã sử dụng cuốn Kinh Thánh của mình để bảo quản di vật. Ông ta đã phải tin rằng người được chôn ở đây xứng đáng với vinh dự này.”
Gray cũng nhớ lại sự mô tả của cha Rye về Marco vào cái ngày ông trở về hòn đảo trong tình trạng rối bời. Vị tu sĩ trẻ này đã cầu xin tha thứ suốt đêm. Có phải là vì ông đã đánh cắp di vật, do đó phá hoại nơi thiêng liêng đã được thánh hóa bởi chính vị thánh của nhà thờ nơi ông tu hành? Và nếu như thế, cái gì đã khiến ông phải làm như vậy? Tại sao ông nghĩ nó lại quan trọng đến vậy?
Rachel nêu lên một câu hỏi quan trọng khác. “Tại sao thậm chí thi thể cũng bị di dời?”
Wallace giải thích. “Có lẽ là để giữ an toàn cho cái gì đó được giấu ở đây. Trong suốt thời của Malachy, nước Anh và Ireland liên tục bị tấn công bởi bọn cướp biển Viking. Một hòn đảo không có sự phòng vệ rất dễ bị tấn công.”
Gray gật đầu. “Và nếu cái hầm mộ này là nơi giữ chiếc chìa khóa, thì vì lý do nào đó nó phải được chôn cùng với thi hài ở đây. Do đó để bảo tồn tri thức này, cả thi hài và chìa khóa phải được chuyển đến nơi an toàn hơn.”
“Nhưng cái chìa khóa đó là cái quái quỷ gì?” Seichan hỏi. “Thậm chí cái mà chúng ta đang tìm là cái gì?”
Gray nhìn về phía đầu mối duy nhất mà cha Giovanni để lại. Anh tiến về phía bức tường và nghiên cứu những ghi chú bằng than kế bên cây thánh giá. Anh đặt một tay lên tường. Marco đã cố tính toán cái gì?
Những người khác tập trung sau lưng anh.
Anh nhìn lên cây thánh giá Xentơ, nhận ra một vài điều. “Cây thánh giá,” anh nói, lia những ngón tay. “Nó cũng được làm cùng loại đá với cái quan tài. Thậm chí có vẻ cũng cổ xưa y như hầm mộ.”
Wallace bước lại gần. “Anh nói đúng.”
Gray quay đầu lại. “Không phải Malachy hay một người Cơ đốc ngoan đạo nào khác đã đặt nó ở đây để đánh dấu phần mộ.”
“Nó đã có ở đây từ trước.”
Gray nhìn cây thánh giá với một cái nhìn mới, không phải nhìn nó như một biểu tượng của người ngoại đạo. Liệu nó có cung cấp manh mối nào về chiếc chìa khóa thật sự không? Từ những ghi chú trên tường, cha Giovaanni đã cố gắng tính toán một cái gì đó.
Cần phải biết nhiều hơn nữa, Gray chiếu ánh đèn xuống dưới thánh giá. “Một tập hợp ba hình xoắn ốc gần chân đế. Chúng có mang ý nghĩa gì đặc biệt không?

Wallace di chuyển về phía Gray và Rachel. “Nó được gọi là bộ tam xoắn ốc. Nhưng thật sự không phải là ba. Chỉ là một. Hãy nhìn cái cách mà ba hình xoắn ốc này liên kết và hòa trộn với nhau để tạo nên một mô hình ngoằn ngoèo. Mô hình như thế này có thể được tìm thấy khắc trên những tảng đá cổ xưa ở khắp châu Âu. Và giống như nhiều biểu tượng ngoại giáo khác, Nhà thờ cũng đã dành riêng cho mình một cái. Đối với người Xentơ, thì nó là biểu tượng của sự sống bất diệt. Nhưng đối với Nhà thờ, nó là đại diện lý tưởng nhất cho Chúa ba ngôi. Cha, Con và Thánh thần trong đạo Cơ đốc. Tất cả hòa quyện vào nhau. Tuy ba nhưng là một.”
Gray đưa mắt lên nhìn biểu tượng xoắn ốc đơn lẻ nằm giữa chữ thập, giống như trục của một cái bánh xe.

Anh nhớ lại lời mô tả sơ bộ ban đầu của Painter về biểu tượng. Làm thế nào mà cây thánh giá ngoại đạo và hình xoắn ốc thường đi cùng với nhau, hình này nằm chồng lên hình kia. Thánh giá là biểu tượng của trái đất. Và hình xoắn ốc đánh dấu vòng luân hồi của linh hồn, khởi đầu từ thế giới này và đến thế giới khác, tựa như làn khói.
Gray chuyển sự chú ý sang những ghi chép của cha Giovanni viết trên tường. Anh cảm thấy ẩn sau những ghi chú và những dòng chữ có một vài ý nghĩa gì đó. Anh có thể gần như chạm được, nhưng ý nghĩa cứ mơ hồ và lánh xa khỏi tầm với cứ như thể muốn trêu ngươi.
Bước lại gần hơn, Gray đặt cây đèn pin xuống và chạm vào vòng tròn trên cây thánh giá, lướt ngón tay dọc theo nhưng dấu khắc lởm chởm.
Giống những cái nan hoa của bánh xe.
Khi suy nghĩ này xuất hiện trong đầu, anh vẫn đang nhìn chằm chằm vào hình xoắn ốc ở trung tâm chữ thập. Anh đã so sánh nó từ sớm với một cái trục bánh xe. Thậm chí trông nó có vẻ như đang xoay.
Và bất chợt anh nghĩ ra.
Có lẽ anh đã cảm thấy nó ngay từ đầu, nhưng anh đã không thể vượt qua sự suy nghĩ về biểu tượng của người Cơ đốc. Bây giờ khi xem xét cây thánh giá bằng một cách khác và để tất cả những nhận định ban đầu qua một bên, anh đã nhận ra cái gì đang lởn vởn trong đầu anh.
“Nó là một cái bánh xe.” Anh nhận ra.
Để chắc chắn hơn, anh nắm chặt vòng tròn đá và xoay nó theo chiều ngược kim đồng hồ, đúng với chiều cuộn của hình xoắn ốc.
Nó chuyển động!
Khi xoay bánh xe, đôi mắt anh hướng lên những tính toán trên tường. Thánh giá che giấu manh mối về chiếc chìa khóa, nhưng để mở được nó anh phải biết những quy tắc riêng. Vòng quay có lẽ hoạt động như một cái khóa bí mật để bảo vệ một cái hầm bí mật nào đó nơi mà chiếc chòa khóa được cất giữ.
Từ tất cả những tính toán ở trên tường, Marco đã tìm hiểu chuỗi sự kiện đúng đắn, cố gắng tìm ra những con số để nối kết sự kiện.
Thật không may, Gray nhận ra một vài thứ quá trễ.
Người ta chỉ có thể suy đoán một sự kết hợp duy nhất.
Và anh đã hiểu sai.
Một tiếng nổ lớn làm rung chuyển đất dưới chân anh. Mặt sàn bất thình lình sụp xuống. Anh vội bám vào cây thánh giá và bấu những ngón tay vào thanh ngang. Khi đang bị treo lơ lửng, anh nhìn qua vai và thấy một nửa mặt sàn gian phòng đã nâng lên. Toàn bộ mặt sàn đang nghiêng đi - và che lấp lối vào duy nhất.
Những người khác la hét và nằm sấp xuống để giữ mình không bị tuột.
Nắp đá rơi khỏi quan tài, trượt ken két trên mặt sàn nghiêng, và đổ nhào xuống cái hố rộng dưới chân Gray. Chiếc đèn pin cũng đã lăn xuống hố, ánh sáng của nó làm lộ ra một rừng chông bằng đồng nhọn hoắt dưới đáy, tất cả đều hướng lên.
Nắp đá đâm sầm xuống và làm gãy khá nhiều chông.
Đằng sau Gray, mặt sàn vẫn tiếp tục nghiêng, tiếp tục dựng đứng lên, cố gắng tống tất cả mọi người xuống dưới.
Wallace và Rachel đã chạy nhanh đến phía sau cái quan tài, xoay xở để giữ người không rơi. Cỗ quan tài vẫn ở chỗ cũ, cố định trên sàn. Seichan không thể đến chỗ đó từ trước nên giờ đang bị trượt về phía cái hố.
Rachel bất ngờ nhoài người và đưa tay nắm lấy phía sau áo khoác của Seichan khi cô ta trượt qua. Rachel kéo Seichan lại đủ gần để cô ta có thể nắm lấy cạnh mép của quan tài.
Rachel vẫn cố gắng giữ cô ta lại. Trong khoảnh khắc bấp bênh này, mạng sống của họ phụ thuộc vào nhau.
Khi mặt sàn đã hoàn toàn dựng thẳng đứng, Seichan cũng treo lơ lửng như Gray.
Nhưng Gray không có ai giữ anh lại.
Những ngón tay anh dần trượt khỏi cây thánh giá, và anh lao thẳng xuống những cây chông.