Chuyến bay qua biển Nauy
Painter nhìn thấy quần đảo Svalbard biến mất đằng sau khi chiếc phản lực tư nhân bay về phía Nam, vượt qua Bắc Băng Dương. Họ đã mất gần nửa ngày trởi để sơ tán nhóm người mắc kẹt trong hầm chứa hạt giống. Sau đó, ở Washington, Kat nhanh chóng đưa họ rời khỏi đảo trước khi cơn bão các phương tiện thông tin đại chúng ập đến.
Vụ đánh bom kinh hoàng đã làm cả thế giới chấn động. Sự náo động của đám săn tin quốc tế và các điều tra viên của NATO đã tập trung trên quần đảo nhỏ này từ trước đó. Việc thoát khỏi nơi này và cơn bão khó chịu đó đã cho phép Painter vừa kịp thời gian để lẩn trốn.
Nhưng ông không đi một mình.
Monk và Creed nằm ườn uể oải trên ghế trong cabin. Còn Thượng nghị sĩ Gorman thì ngồi nhìn chằm chằm vào một trong những cái ghế. Vị hành khách cuối cùng của họ ngồi phía bên kia của Painter.
Ivar Karlsen tình nguyện đi theo. Ông ta có thể sẽ khiến mọi thứ trở nên khó khăn nếu như không thể tự rút mình khỏi lãnh thổ Nauy. Nhưng một người đàn ông thì có thừa ý thức về danh dự. Thậm chí bây giờ ông ta ngồi thẳng trên chiếc ghế, dán mắt vào cửa sổ quan sát khi những hòn đảo biến mất. Rất có thể ông ta chính là mục tiêu chính của cuộc đánh bom tại Svalbard, nơi mà kẻ đã từng là đồng minh của ông ta nay đã trở thành kẻ thù.
Ông ta biết rõ mình nợ ai mạng sống này và rất tôn trọng món nợ đó.
Painter có ý định sẽ tận dụng mọi thuận lợi có từ sự hợp tác đó.
Chiếc phi cơ nhỏ cứ chao đảo trong vùng không khí bất ổn, khiến cho người trong cabin thêm căng thẳng. Họ bay tới London. Cả Painter và Kat không nghe tin gì từ đội của Gray. Anh vẫn muốn ở lại nước Anh để tiếp tục cuộc tìm kiếm ở Lake District. Tùy vào những gì sẽ tìm thấy, họ sẽ tiếp thêm nhiên liệu và tiếp tục đến Washington.
Nhưng trong suốt 5 giờ bay, Painter cần phải khai thác người đàn ông này tất cả những gì mà ông ta biết. Kat đã điều tra những địa điểm có cánh đồng sản xuất hạt giống, được thu hoạch khắp vùng Midwest. Tin tức thật ác nghiệt: đã tìm thấy một loạt những cái chết không giải thích được ở gần 15 trang trại thử nghiệm. Khám nghiệm tử thi trên một xác chết cho thấy nguyên nhân là một loài nấm chưa xác định. Và có thêm 63 nông trại khác vẫn đang được kiểm tra.
Karlsen nói, cảm thấy sự chú ý của Painter. “Tôi chỉ muốn cứu thế giới.”
Thượng nghị sĩ Gorman run lên, ánh mắt quắc lên giận dữ, nhưng Painter đưa ánh mắt nghiêm khắc nhìn ông ta. Đây là buổi nói chuyện riêng của ông.
Dán mắt vào cửa sổ, Karlsen không nhận thấy sự trao đổi thinh lặng này. “Mọi người nói về sự bùng nổ dân số, nhưng vẫn không chịu thừa nhận rằng nó đã xảy ra. Dân số thế giới đang gia tăng quá mức, rồi sẽ vượt xa nguồn cung thực phẩm. Chúng ta chỉ biết lặng lẽ đứng nhìn nạn đói, chiến tranh và những bất ổn đang xảy ra. Những lộ xộn vì thực phẩm xảy ra ở Haiti, Indonesia, châu Phi chỉ là sự khởi đầu.
Karlsen rời mắt khỏi cửa sổ quay sang nhìn Painter. “Nhưng không có nghĩa là quá trễ, nếu như có thể tập hợp được những người có cùng mục đích và quyết tâm.”
“Và ông sẽ tìm họ trong Câu lạc bộ Rome chắc!” Painter nói.
Mắt ông ta hé mở nhè nhẹ. “Đúng. Câu lạc bộ của chúng tôi không ngừng gia tăng cảnh báo, nhưng cứ như đàn gảy tai trâu. Những cuộc khủng hoảng triền miên đang thu hút sự quan tâm của giới truyền thông. Sự nóng lên toàn cầu, nguồn cung dầu, rừng mưa nhiệt đới thu hẹp. Danh sách các sự kiện ngày càng dài thêm. Nhưng tất cả lại chỉ quy về chung một vấn đề: người đông đất ít, nhưng không ai chịu thừa nhận điều này một cách trực tiếp. Người Mỹ gọi nó là gì nhỉ? Sai lầm chính trị, đúng không? Ôi, những vấn đề nhạy cảm không nên đả động tới như tôn giáo, chính trị, chủng tộc, kinh tế. Hãy sinh sôi và nảy nở khắp mặt đất, Kinh Thánh đã viết. Không ai dám nói khác. Dám thừa nhận sự thật sẽ là một cuộc tự sát chính trị. Đề ra giải pháp đi và họ sẽ kết tội anh là một kẻ theo thuyết ư sinh1. Ai đó phải đứng lên và đặt một sự lựa chọn nghiêm túc – không chỉ bằng lời nói mà còn phải bằng hành động cụ thể.
1: Thuyết ưu sinh cho rằng chủng tộc người có thể (hoặc phải) cải tiến bằng cách nhân giống chọn lọc có kiểm soát giữa những người có tính trạng mong muốn như sức khỏe, vóc dáng, trí tuệ. Đây là vấn đề đang tranh cãi, một phần do những khó khăn trong phán đoán vai trò tương ứng của nhân tố môi trường và di truyền. Nhiều người cho rằng đó là vấn đề đạo đức, bao gồm cả tự do của con người và mối nguy hiểm của việc sự dụng thuyết ưu sinh vào mục đích chính trị tàn bạo (theo Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam).
“Và đó sẽ là ông?” Painter nói, để khiến Karlsen cứ tiếp tục thuyết giảng.
“Đừng nói cái giọng đó. Tôi biết nơi mà tất cả những chuyện này sẽ kết thúc. Nhưng đó không phải là nơi nó bắt đầu. Tôi chỉ muốn tạo một cái phanh để hãm tốc độ gia tăng dân số. Để số lượng người giảm đi vầ để chắc chắn chúng ta sẽ không phải tiến gần đến đỉnh quá nhanh. Ở Câu lạc bộ Rome, tôi đã tìm thấy được toàn bộ nguồn lực tôi cần. Một kho sáng kiến, những công nghệ tân tiến nhất, và quyền lực chính trị. Tôi đã vạch một kế hoạch vững chắc để tiến đến mục tiêu, tập trung những người có cùng chí hướng.”
Karlsen nhìn Thượng nghị sĩ rồi quay đi.
Mặc dù Painter đã cảnh báo, nhưng Gorman vẫn nói. “Anh lợi dụng tôi để gieo rắc mầm bệnh.”
Karlsen liếc nhìn xuống đôi bàn tay đan lại trong lòng mình, rồi nhìn lên, không một chút nao núng. “Chuyện đó xảy ra sau. Một sai lầm. Tôi có lỗi, nhưng tôi tìm đến ông là vì ông ủng hộ nhiên liệu sinh học, biến các vụ mùa như ngô và mía thành nhiên liệu. Điều đó cũng đủ để ủng hộ một lí do có vẻ tốt như thế này. Một nguồn năng lượng có thể tái tạo có thể giải phóng ta khỏi sự lệ thuộc vào dầu. Nhưng cũng để phục vụ cho mục tiêu của tôi mà thôi.”
“Là gì?”
“Là kiểm soát nguồn cung cấp thực phẩm của thế giới.” Karlsen không rời mắt khỏi Painter và nói một cách thẳng thừng. “Ai kiểm soát được thực phẩm, người đó điều khiển được con người.”
Painter nhớ lại đã nghe thấy câu nói này từ Henry Kissinger, Karlsen chỉ tóm gọn lại. “Kiểm soát được dầu, bạn có thể điều khiển các quốc gia. Nhưng kiểm soát được thực phẩm, thì bạn sẽ điều khiển được loài người.”
Ra đây là mục tiêu của Karlsen. Kìm hãm việc cung cấp thực phẩm để hạn chế sự gia tăng dân số. Nếu thực hiện đủ khéo léo, thì điều đó có thể xảy ra.
“Làm thế nào thông qua việc ủng hộ nhiên liệu sinh học ông có thể điều khiển được thực phẩm?” Painter có thể đoán được câu trả lời, nhưng ông muốn nghe từ chính miệng người đàn ông này.
“Những vùng đất trồng trọt tốt nhất trên thế giới đang bị khai thác quá mức, buộc người nông dân phải chuyển sang những vùng đất khó trồng trọt. Họ có được lợi nhiều từ việc trồng các mùa vụ cho việc sản xuất nhiên liệu sinh học hơn là thực phẩm. Ngày càng nhiều các nông trại màu mỡ đang chuyển sang việc sản xuất nhiên liệu, không phải thực phẩm. Và điều này hoàn toàn không hiệu quả. Lượng ngô cần để sản xuất đủ ethanol chứa đầy trong bình nhiên liệu của một chiếc xe hơi đa dụng SUV có thể cung cấp lương thực một năm cho một người. Và dĩ nhiên tôi ủng hộ nhiên liệu sinh học.”
“Năng lượng sinh học phải được khai thác độc lập…”
Karlsen gật đầu. “Nhưng có thể xem như là một cách kìm hãm nguồn cung cấp thực phẩm.”
Thượng nghị sĩ Senator kinh hãi khi biết được vai trò của mình trong chuyện này.
Painter lưu ý đến sự nhấn mạnh kì quặc trong câu nói của Karlsen. “Ông nói một cách là có ý gì?”
“Đó chỉ là một kế hoạch. Tôi còn nhiều kế hoạch khác.”
★ ★ ★
5h31 sáng
Monk luôn theo sát cuộc trò chuyện, một phán đoán đang dần hình thành trong anh.
“Để tôi đoán.” Anh nói. “Một cái gì đó liên quan đến những con ong.”
Anh hình dung về những tổ ong to khác thường bị che giấu dưới trung tâm nghiên cứu.
Karlsen lướt mắt nhìn Monk. “Đúng. Viatus đã và đang nghiên cứu về Sự Hỗn loạn gây Sụp đổ. Nó là khủng hoảng toàn cầu mà tôi chắc rằng anh đã biết. Ở châu Âu và Mỹ, hơn một phần ba tất cả loài ong mật đã biến mất, rời bỏ các vùng đất và không bao giờ trở lại. Một số vùng còn mất khoảng 80% số ong.”
“Và ong thì thụ phấn cho cây ăn trái.” Monk nói, và bắt đầu nhận ra vấn đề.
“Không chỉ có cây ăn trái.” Creed xen ngang, ngồi kế bên Monk trên ghế sofa. “Đậu, bơ, dưa leo, đậu nành, bí. Thực sự, một phần ba sự phát triển lương thực ở Mỹ cần đến sự thụ phấn. Mất những con ong, chúng ta mất nhiều hơn chỉ là trái cây”
Monk đã hiểu sự quan tâm của Karlsen trong Sự Hỗn loạn gây Sụp đổ. Điều khiển được ong, ông ta có thể điều khiển phần lớn các nguồn cung cấp thực phẩm khác.
“Ông đang nói là chính ông gây ra cái chết lần lượt cho những con ong?”
“Không. Nhưng tôi biết cái gì đã làm, và đó chính là cái mà Viatus đang muốn tận dụng.”
“Khoan, đợi đã.” Monk xích lại gần, “ông nói ông biết cái gì đã giết những con ong?”
“Nó không phải là bí ẩn gì lớn lao, ngài Kokkalis à. Giới truyền thông kích động những lí thuyết về những vật nhỏ bé, trái đất nóng lên, ô nhiễm không khí, thậm chí là cả người ngoài hành tinh. Nhưng nó đơn giản hơn nhiều - và đã được chứng minh. Chỉ có giới truyền thông mới lờ điều này và chọn những tin giật gân.”
“Và nguyên nhân là gì?”
“Một loại thuốc trừ sâu gọi là imidacloprid, hay viết tắt là IMD.”
Monk nhớ lại những mã tem trên cái tổ khổng lồ. Chúng đều có cùng những kí tự: IMD.
“Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân là hóa chất, cùng với những thứ tương tự có tên gọi là fipronil. Trong năm 2005, Pháp đã cấm các loại hóa chất này và trong một năm sau đó, bầy ong đã trở lại trong khi những tổ ong còn lại trên thế giới tiếp tục bị bỏ hoang.” Karlsen lướt nhìn quanh cabin. “Mà có ai trong các anh có nghe về điều đó chưa?”
Không ai trả lời.
“Nó chưa đáng để đưa thành tin,” Karlsen giải thích. “Chất imdacloprid, fipronil thì không đặc sắc như người ngoài hành tinh. Giới truyền thông vẫn không đả động đến thành công ở Pháp. Thật tốt cho tôi. IMD có sự hữu dụng của nó.”
Monk cau mày. “Ong càng ít thì thực phẩm càng ít.”
“Cuối cùng thậm chí khi mà giới truyền thông tỉnh ngộ ra thì Viatus vẫn tiếp tục nghiên cứu chính hợp chất của nó - để kết hợp IMD vào những cây ngô của chúng ta.”
“Chính xác là giống như Monsanto đã nghĩ ra việc tập hợp khả năng diệt cỏ của nó vào trong hạt giống GM.” Creed thêm vào. Anh ta có lẽ đã tìm hiểu về các nghiên cứu gen.
“Nếu IMD bị cấm mãi mãi,” Monk nhận ra, “Ông sẽ vẫn tiếp tục điều khiển số lượng những con ong.”
Karlsen gật đầu. “Và lần lượt đến… sự cung cấp thực phẩm.”
Monk ngồi lùi lại. Hắn ta quả là một con quái vật - nhưng cũng là một kẻ thông minh.
★ ★ ★
5h40 sáng
Painter cần giải đáp thêm một số nghi vấn. Ông khai thác Karlsen theo một hướng khác. “Nhưng Viatus còn đang làm nhiều hơn là chỉ đơn thuần kết hợp thuốc trừ sâu vào trong mùa màng.”
“Như tôi đã nói, chúng tôi có nhiều kế hoạch.”
“Rồi hãy nói cho tôi nghe về những xác ướp trong than bùn - một thứ nấm đã tìm thấy trên xác họ.”
Cái nhìn điềm tĩnh của Karlsen giờ đã bớt sự chắc chắn. “Với tư cách là một công ty công nghệ sinh học, chúng tôi đã thử nghiệm hàng ngàn chất hóa học mới mỗi năm, được tìm thấy từ khắp nơi trên thế giới. Nhưng loài nấm cổ này…” Giọng ông ta đầy kinh ngạc. “Nó thật đáng ngạc nhiên, tính chất hóa học tự nhiên và cả cấu trúc gen của nó thật hoàn hảo cho mục tiêu của tôi.”
Painter cứ để người đàn ông này tự tiết lộ.
“Từ những cái xác khô, chúng tôi đã thu lấy những bào tử nấm có thể phát hiển được.”
“Sau một thời gian lâu như thế à?” Monk hỏi.
Karlsen nhún vai “Những xác ướp chỉ mới một ngàn năm tuổi. Ở Israel, các nhà thực vật học đã trồng một cây chà là từ một hạt giống hơn hai ngàn năm tuổi. Than bùn là một môi trường bảo quản hoàn hảo. Cho nên, chúng tôi đã phát triển những bào tử, để biết thêm về loài nấm. Khảo sát trên những xác chết đã cho thấy cách mà nấm xâm nhập vào cơ thể để phát triển.”
“Bằng cách nào?”
“Nó vẫn đang được điều tra. Các nhà pháp y của chúng tôi đã phát hiện rằng những cái xác ướp này đã đói đến chết. Tuy nhiên trong dạ dày của họ lại đầy lúa mạch và lúa mì. Những loại nấm này đều có mặt trong tất cả các loại thực phẩm trong dạ dày người chết. Chúng là một loài nấm mốc mùa màng độc hại, giống như những hạt cựa1 trong các vụ mùa ngũ cốc. Những loài nấm này có khả năng nhiễm vào bất cứ loài thực vật nào. Tất cả chỉ vì một mục đích.”
“Mục đích gì?”
“Làm chết đói động vật khi chúng ăn phải thực vật nhiễm nấm.” Karlsen hoàn toàn thấu hiểu những cái nhìn hoảng hốt trên khuôn mặt người nghe. “Các cây trồng bị nhiễm nấm không thể tiêu hóa được. Thêm vào đó, nấm sẽ xâm chiếm ruột, làm suy giảm thêm sự hấp thụ thức ăn. Thật là một cỗ máy giết người hoàn hảo, khiến cho vật chủ bị đói đến chết mà trong bụng vẫn có rất nhiều thức ăn nhằm chống trả cơn đói.”
“Nghĩa là ta cứ ăn và ăn, mà vẫn bị chết đói.” Painter lắc đầu. “Điều đó có lợi gì cho những cây nấm này?”
Monk trả lời. “Nấm là một trong những nguyên nhân chính khiến cho những thứ đã chết phân hủy. Cây, xác người, thứ gì cũng được. Bằng cách giết đi vật chủ, chúng sẽ tự tạo ra phân bón để tự phát triển trên chính vật chủ.”
Painter hình dung những cây nấm phát triển trong dạ dày của xác ướp. Vì ông cũng nhớ sự mô tả của Monk về các phát hiện trong phòng thí nghiệm, về những cái kén chứa bào tử trưởng thành của cùng một loài nấm. Đó là cách chúng lan đi, phát tán bào tử vào không khí sau đó xâm nhập vào những cánh đồng khác và lại tiếp tục vòng đời.
Karlsen thu hút lại sự chú ý của Painter. “Mục đích của chúng tôi chỉ là lấy ra hóa chất đã khiến cho những cây ngũ cốc trở nên khó tiêu hóa. Nếu chúng tôi có thể có thể cấy chúng vào trong ngô, chúng tôi có thể làm giảm khả năng tiêu hóa của nó. Với những cây ngô này, anh phải ăn nhiều hơn để đạt đủ năng lượng cần thiết cho cơ thể.”
“Và một lần nữa,” Painter nói, “Ông có thể hạn chế nguồn cung cấp thực phẩm.”
“Và bằng cách đó chúng tôi có sự kiểm soát toàn diện. Bằng việc thao túng các gen này, chúng tôi có thể thay đổi khả năng tiêu hóa của lúa thóc cao hay thấp giống như việc lên dây cót đồng hồ. Đó là tất cả những dự định của chúng tôi. Và không hẳn chúng tôi là những người tiên phong trong việc tìm kiếm sự điều khiển gen như thế này.”
Painter tập trung vào những từ cuối cùng. “Ý ông là sao?”
“Trong năm 2001 một công ty sinh học gọi là Epicyte đã công bố rằng họ đã phát triển một loại ngô được cấy ghép với tác nhân tránh thụ thai. Sự tiêu thụ những hạt giống này sẽ làm giảm khả năng sinh sản. Nó được đề nghị như là một giải pháp cho vấn đề dân số quá đông. Tất cả lời tuyên bố công khai này đã khiến họ chịu hàng loạt tai tiếng từ báo chí, và loại ngô này biến mất. Như tôi đã nói, thừa nhận vấn đề này một cách công khai chỉ nhận được sự trừng phạt. Nó phải được giữ bí mật, tránh xa công luận. Đó là một bài học mà tôi đã có.”
Và đó mơí chính là sai lầm. Painter giữ giọng bình thản. “Nhưng loại ngô chuyển gen mới của ông không ổn định.”
Karlsen khẽ lắc đầu. “Nấm đã tỏ ra ranh ma hơn chúng tôi tưởng tượng. Loại thực vật này đã tiến hóa song song với những cây chủ mà nó kí sinh qua bao nhiêu thiên niên kỉ. Chúng tôi chỉ muốn cấy ghép duy nhất một khả năng của chúng - sự tác động lên khả năng tiêu hóa - nhưng các dạng nấm khiếm khuyết đó đã biến đổi trong những thế hệ kế tiếp và trở lại dạng nguyên thủy. Nó có khả năng giết chóc. Và tệ hơn hết, nó phục hồi luôn khả năng phát tán.
“Và ông biết điều đó khi nào?”
“Trong khi làm dự án ở châu Phi.”
“Tuy nhiên ông đã đề xướng việc sản xuất hạt giống này ở Mỹ và các nước khác?”
Giờ đây Karlsen biểu lộ sự phiền lòng. “Là do sự khẳng định và cam đoan của các lãnh đạo dự án và người đứng đầu nghiên cứu di truyền học. Cô ta nói theo kết quả kiểm tra sơ bộ thì mọi thứ khá an toàn để tiếp tục. Tôi đã tin; và không tự mình kiểm tra lại kết quả”
“Cô ta là ai?” Painter hỏi.
Thượng nghị sĩ Gorman đoán, giọng ông đầy cay đắng và nghiêm nghị. “Krista Magnussen.”
5h52 sáng
Ivar Karlsen biết ông ta không thể nào tránh cơn tức giận của ngài Thượng nghị sĩ. Nhưng Karlsen cũng thoáng nhìn ánh mắt của ông. Thay vì phải cúi mặt xuống. Ông ta lấy từ túi một cái đồng xu và để nó nằm trong lòng bàn tay. Nó là đồng 4 mark Frederick IV, được đúc vào năm 1725 bởi kẻ phản bội Henrik Meyer. Nó nhắc ông ta về cái giá của sự phản bội.
Những ngón tay của Karlsen siết chặt đồng tiền, nhận ra ông ta đã đi quá xa, bị Krista Magnussen dẫn đi chệch hướng. Cuối cùng ông ta cũng ngước mắt lên và đối mặt với Thượng nghị sĩ Gorman. Người đàn ông đã trả một cái giá quá đắt là bằng máu. Ivar không thể chối bỏ sự thật với ông.
“Thượng nghị sĩ nói đúng. Tôi đã thuê Magnussen khi chúng tôi bắt đầu bộ phận nghiên cứu sinh học gen trên các mùa màng sáu năm trước. Cô ta đến với một lô thư giới thiệu từ Harvard và Oxford. Cô ta trẻ, thông minh và năng động. Cô ta làm việc rất hiệu quả năm này qua năm khác.”
“Và cô ta không phải là người như ông nghĩ,” Painter nói.
“Đúng,” Ivar nói. “Khoảng một năm trước, chúng tôi bắt đầu gặp những vấn đề nghiêm trọng tại nơi nghiên cứu của mình. Sự đốt phá ở Rumani. Sự tham ô ở những nơi khác. Sự lan rộng hành vi cướp bóc. Sau đó Krista tiết lộ rằng, cô ta đã tiếp cận một tổ chức có thể chống đỡ an ninh của chúng tôi trên toàn cầu, không ồn ào và hiệu quả. Cô ta mô tả nó như một kiểu hợp tác của một hợp đồng quân sự bí mật.”
“Tổ chức đó có tên ch?”
“Cô ta gọi nó là Guild.”
Painter không phản ứng gì khi nghe cái tên ấy. Thậm chí một cái giật mình cũng không. Sự thản nhiên của ông đã khiến Ivar tin rằng ông biết về Guild, có khả năng là nhiều hơn những gì ông ta biết.
“Mọi việc đã được sắp xếp,” Painter nói. “Tai nạn, hỏa hoạn, trộm cướp… Guild đã gây ra những điều đó. Họ cần ông. Vì thế mà họ đã ngon ngọt mua chuộc lòng tin, giúp ông thoát khỏi khó khăn trong một thời gian dài, và ông sẽ mất dần quyền điều khiển, ngày càng phụ thuộc vào họ.”
Chắc chắn điều đó là không thể, nhưng lập luận Painter đưa ra quá rõ ràng, như những cú đánh chí tử.
“Để tôi đoán,” Painter tiếp tục, lập luận thêm. “Khi biết có vấn đề… tại nông trại thử nghiệm ở châu Phi… ông đã nói với ai?”
“Krista, dĩ nhiên rồi,” Ivar nghẹn ngào thừa nhận. “Cô ta báo cáo rằng vài trại tị nạn đã có dấu hiệu bệnh sau khi ăn ngô. Cần phải có biện pháp. Nhưng chúng tôi đã trồng ở rất nhiều cánh đồng trên khắp thế giới. Cô ta nói mọi chuyện có thể giải quyết được, nhưng cô ta và tổ chức sẽ cần tự do hành động. Cô ta cảnh báo tôi cần phải có một trái tim sắt đá. Để cứu thế giới, một chút hi sinh có đáng là gì! Ôi! Những lời lẽ ấy. Lạy Chúa, tôi đã liều mạng tin họ.”
Hơi thở của Ivar dồn dập. Tim ông ta muốn vọt ra ngoài. Ông ta nhớ lại cảnh Krista khỏa thân, hôn ông, đôi mắt thật mãnh liệt. Ông ta đã nghĩ là mình nắm rõ cuộc chơi nhưng…
Tôi thật ngốc làm sao.
Painter tiếp tục câu chuyện, như thể ông đang đứng bên Ivar trong những ngày đó. “Guild san bằng những ngôi làng và bảo ông làm như vậy là cần thiết để ngăn chặn sự lây lan. Họ mang xác của những dân làng xấu số về để nghiên cứu. Để những cái chết này không trở nên vô ích. Nếu biết thêm được điều gì, thì những người khác sẽ được cứu. Và với sự sản sinh hạt giống đã bắt đầu rồi, thì vấn đề chỉ còn là thời gian.”
Thượng nghĩ sĩ Gorman ngồi với đôi mắt mở to, tay bấu chặt đầu gối. “Còn con trai tôi?”
Ivar biện hộ một cách khổ sở. “Krista bảo tôi rằng cô ta đã thấy Jason sao chép dữ liệu mật. Cô ta nói anh ta sẽ bán nó cho ai trả giá cao hơn.”
Gorman thoi một quả đấm vào đùi Ivar. “Jason không bao giờ - ”
“Cô ta đưa tôi email của anh ta với những tập tin bị đánh cắp đính kèm. Tôi đã bí mật xác định nó được gửi cho một vị giáo sư ở Princeton.”
“Princeton sẽ không chịu hợp tác làm gián điệp cho công ty.”
Ivar thấy khổ sở khi kể cho Gorman về con trai ông. “Tổ chức của cô ta đã chứng minh rằng tiền đã chuyển đến một chi bộ khủng bố ở Pakistan. Anh ta lộ diện, chúng tôi cũng sẽ bị lộ. Nó sẽ hủy diệt toàn bộ sự nghiệp của ông. Krista đã cố nói chuyện với con ông, để thuyết phục anh ta đưa ra bản hợp đồng và giữ bí mật. Cô ta nói anhh ta đã từ chối và cố chạy trốn, một trong những người của cô ấy đã hoảng sợ và nổ súng.”
Gorman ôm mặt.
Ivar cũng muốn làm như vậy, nhưng ông ta không có quyền. Ông ta đã góp phần vào cái chết của chàng trai này, khiến Jason bị bắt và bị tra khảo bởi những tên lính đánh thuê tàn bạo.
Lúc đó Painter đánh tan sự hiểu lầm cuối cùng của Ivar. “Jason vô tội. Tất cả đều dối trá.”
Ivar nhìn chằm chằm phía bên kia cái bàn, chết điếng người. Ông ta muốn gạt bỏ những lời mà Painter đang nói.
“Jason bị giết là bởi tình cờ gửi dữ liệu buộc tội này cho giáo sư Malloy. Đó là lí do mà họ đều bị giết. Để che giấu bằng chứng tính bất ổn của mùa màng. Guild không muốn nó bị lộ.”
Painter nhìn Ivar cay nghiệt. “Khi thông tin bị rò rỉ, họ cần một kẻ chết thay. Ông chính là vật hi sinh đó. Sau khi họ giết ông ở Svalbard, Guild có thể biến mất một cách an toàn và mang theo toàn bộ chiến lợi phẩm: cả vũ khí sinh học mới và những phương tiện để điều khiển những gì đã xảy ra. Sự ô uế trên toàn cầu bởi vụ mùa của ông sẽ được quy trách nhiệm cho tham vọng táo bạo của một vị lãnh đạo đã chết. Ông bị thanh trừng, sẽ không còn ai tiết lộ điều đáng xấu hổ này. Đối với Guild, ông không hơn gì một con tốt thí.”
Ivar im lặng, toát mồ hôi lạnh. Ông ta không thể phủ nhận bất cứ điều gì. Và tận sâu thẳm trong lòng, có lẽ ông ta biết rõ sự thật suốt thời gian đó nhưng không dám đối mặt.
“Nhưng tôi vẫn còn một thắc mắc,” Painter tiếp tục. “Một điều tôi không thể trả lời.”

Ông đẩy một xấp giấy qua bàn, trên đó là một kí tự quen thuộc.
Vòng tròn và hình chữ thập.
Painter vỗ nhẹ xấp giấy. “Tôi hiểu tại sao Guild phải giết Jason và giáo sư Malloy, nhưng tại sao lại ám sát nhà khảo cổ tòa thánh Vatican? Điều này có lợi gì cho kế hoạch của Guild?”
★ ★ ★
6h12 sáng
Painter biết Karlsen gần như không còn chịu nổi nữa, đôi mắt trở nên vô hồn, giọng nói thều thào, rõ ràng đang vùng vẫy trong hố sâu vực thẳm của sự phản bội. Nhưng Guild là bậc thầy sử dụng những mánh khóe và sự ép buộc, thâm hiểm và dối trá, hung ác và tàn bạo.
Thậm chí Sigma đã từng là nạn nhân của chúng.
Nhưng Painter không nói lời nào an ủi Karlsen.
Karlsen chậm rãi. “Cha Giovanni đã tiếp cận tổ chức của chúng tôi hai năm trước để gây quỹ cho nghiên cứu của ông ta. Ông ta tin rằng những cái xác ướp được tìm thấy trong đầm lầy chính là những nạn nhân của cuộc chiến cổ xưa giữa Cơ đốc giáo và ngoại giáo. Rằng nấm đã được sử dụng như một vũ khí để tiêu diệt mùa màng và quét sạch làng mạc. Và cuộc chiến bí mật này đã được ghi chép trong một văn bản thời Trung cổ có tên là Sổ Điền thổ. Những tài liệu minh chứng của ông ta thật ấn tượng. Ông ta tin rằng có một tác nhân phản tác dụng cho sự phát tán nấm, nó là một phương thuốc, một cách để trừ tận gốc những thứ nấm này khỏi đất đai và con người.
“Và ông đã tài trợ cho việc nghiên cứu những nhân tố phản tác dụng đó?”
“Đúng vậy. Nó có hại gì đâu? Chúng tôi nghĩ ông ta có thể phát hiện những hóa chất mới mà chúng tôi có thể khai thác. Nhưng có một thời gian chúng tôi bắt đầu nghi ngờ rằng mùa màng mới không ổn định, và nghe thấy cha Giovanni đã làm một bước đột phá to lớn. Ông đã tìm thấy một vật tạo tác mà ông khẳng định sẽ dẫn đến nơi cất giữ chiếc chìa khóa thất lạc.”
Painter đã hiểu. “Một tác nhân phản tác dụng như thế, nếu nó tồn tại sẽ giải quyết được tất cả những vấn đề của ông.”
“Tôi đã nhờ Krista nói chuyện riêng với ông ta để đánh giá giá trị của những công bố này và để chiếm lấy tác nhân ấy.” Ivar nhắm mắt lại. “Chúa tha thứ cho con.”
“Nhưng vị linh mục đã bỏ trốn.” Painter nói.
Karlsen gật đầu. “Tôi không biết điều gì đã xảy ra. Bất cứ điều gì ông ta nói cho Krista trên điện thoại đều được tổ chức của cô ta quan tâm. Và sau thảm họa ở châu Phi, chúng tôi phải tìm được tác nhân đó. Thậm chí chỉ cần tìm thấy một chút khả năng mong manh là nó có tồn tại…”
“Nhưng ông đã mất dấu nó. Cha Giovanni đã bị giết.”
“Tôi không bao giờ biết chi tiết chính xác. Sau vụ lộn xộn ở châu Phi, tôi có thêm hàng mớ việc cấp bách trước mắt để giải quyết. Tôi để những vấn đề này cho Guild giải quyết, và chờ xem liệu thật sự những công bố của cha Giovanni có thật hay không.”
“Và mọi chuyện sau đó thế nào?”
Ông ta lắc đầu. “Lần cuối cùng tôi nghe từ Krista là có một nhóm khác vẫn đang truy tìm tác nhân này.”
Đó chắc hẳn là Gray, Painter suy đoán.
“Krista quả quyết với tôi rằng Guild đã cài gián điệp vào đội này.”
Painter rụng rời khi nghe thấy điều đó.
Nếu Guild xâm nhập vào nhóm của Gray thì…
Bằng mọi giá ông phải báo tin cho họ. Thậm chí ông vẫn không biết rằng liệu họ còn sống hay đã chết. Mà cho dù họ sống hay chết, thì ông cũng không thể làm gì hơn.
Họ phải tự lực cánh sinh.