Chìa Khóa Ngày Tận Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19
Ngày 13 Tháng 10, 10h13 Sáng

❊ ❊ ❊

Aberdaron, xứ Wales

Gray lái chiếc xe đa dụng xuống đồi, hướng thẳng về ngôi nhà thờ nằm bên bờ biển. Họ đã thay phiên nhau lái suốt đêm. Trông ai cũng bơ phờ mệt mỏi.

Qua kính chiếu hậu, Gray thấy Rachel đang nhìn ra ngoài cửa sổ, hầu như không chớp đôi mắt thâm quầng. Rachel thường đặt tay trước bụng, hoang mang vì cái chất độc biotoxin chết người có thể giết cô trong ba ngày tới.

Ngồi phía bên kia là người đàn bà đã đầu độc Rachel. Cô ta trông khá dửng dưng. Seichan gần như ngủ cả đêm. Cô ta không ngại rằng họ sẽ trốn thoát. Họ không liều lĩnh gọi cứu viện. Nếu Seichan bị bắt thì Rachel sẽ không còn đường sống.

“Giáo sư,” Gray gọi to, đủ để lay Wallace dậy khi ông ta đang gật gà gật gù giữa hai người phụ nữ. Ở băng ghế sau, Rufus cũng tỉnh ngủ và đang vươn cổ ra.

“Đến rồi à?” Wallace gắt gỏng.

“Sắp rồi.”

“Chút xíu nữa thôi.”

Đêm thật dài. Họ đã cưỡi ngựa rời khỏi Lake District theo sự dẫn đường của tiến sĩ Boyle. Trước khi mặt trời mọc, họ đã đến ngôi làng Satterthawaite trên cao nguyên. Tại đó, họ để ngựa lại trên một cánh đồng. Gray đã lấy trộm một chiếc Land Rover cũ.

Nhưng trước đó, suốt chặng đường trên yên ngựa, Gray liên tục hỏi giáo sư Wallace về mục tiêu mà họ được lệnh phải tìm: chìa khóa của Sách Ngày Tận Thế. Theo Wallace, có một thần thoại về quyển sách khẳng định rằng ẩn sau những dòng chữ Latinh đầy bí hiểm đó là bản đồ dẫn đến một kho báu khổng lồ.

“Ôi, toàn chuyện vớ vẩn”, Wallace đột nhiên đổi giọng, mắt liếc về phía Seichan.

Cô ta nhún vai. Seichan cũng có nhiệm vụ của cô ta.

Cần chút thông tin để cả nhóm lần theo, Gray nài ép Wallace cho biết về chuyến đi của cha Giovanni, cụ thể là nơi mà các nhà khảo cổ của Vatican đã đến sau khi nghiên cứu di tích vòng đá ở bãi than bùn. Wallace biết rất ít chi tiết, vì cha Giovanni càng lúc càng trở nên bí mật. Manh mối có được từ vị giáo sư này quá ít ỏi để tiến hành cuộc điều tra.

“Sau những gì chúng tôi đã tìm thấy ở Lake District, Marco bỏ đi để khám phá một điểm khác được đánh dấu là bỏ hoang trong Sách Ngày Tận thế và cũng là điểm cổ xưa nhất có ghi trong sách.”

Wallace tiếp tục giải thích vì sao một hòn đảo có biển Ireland lại là địa danh đầu tiên được đề cập đến trong quyển sách. Đảo Bardsley nằm bên bờ biển xứ Wales. Theo Wallace, cha Giovanni đã đến gặp một linh mục vốn rất am hiểu về lịch sử của hòn đảo này.

Đó cũng là điểm đến tiếp theo của họ. Sau khi rời Lake District, họ di chuyển xuống phía Nam cả đêm, trở về Liverpool lần nữa rồi tiếp tục sang xứ Wales. Điểm dừng chân của họ nằm trên đỉnh một bán đảo ở xứ Wales có hình dạng như là một ngón tay chỉ thẳng về hướng Ireland.

Đảo Bardsey cách bờ vài dặm. Gray hướng về phía hòn đảo, đúng hơn là về phía vùng đất xanh tươi nổi bật giữa khí trời u ám. Đó là một hòn đảo nhỏ với chiều ngang hai dặm. Một cơn mưa quét qua đỉnh khối đất ấy rồi chầm chậm hướng về phía biển.

May mắn thay, đến lúc này, họ đã đến gần mục tiêu của mình. Nhà thờ Thánh Hywyn nằm bên bờ biển, giữa muôn trùng sóng gió. Từ nơi đây, cha Giovanni đã bắt đầu cuộc hành trình của ông.

Gray chạy xe thẳng vào bãi đậu.

Nhà thờ được xây dựng bằng đá xanh và lợp ngói. Những cánh cửa sổ lớn theo kiến trúc Gothic hướng thẳng ra một nghĩa trang gần đó. Qua các ô cửa, hiện ra làng chai với những ngôi nhà đầy màu sắc và những con đường uốn lượn quanh co.

Tất cả xuống xe, duỗi chân và co người trước những cơn gió lạnh khắc nghiệt từ biển “thổi vào. Những ngọn sóng ồ ạt đánh vào bờ. Không khí thoang thoảng mùi tảo biển và muối.

“Tôi sẽ ngồi trong xe,” Seichan nói. “Tôi không muốn ai đó lấy cắp nó nữa.”

Gray không thèm đếm xỉa, nén cơn giận không phải để tránh chọc tức cô ta, mà vì cô ta không đáng để anh phải làm như vậy.

Mừng vì sẽ không bị cô ta làm phiền, Gray đưa đoàn đi vòng qua nhà thờ để đến nhà của vị linh mục. Trên đường đến xứ Wales, anh đã dùng điện thoại của Seichan để liên hệ với nhà thờ này và sắp xếp một cuộc gặp với cha Timothy Rye. Vị linh mục đã rất vui vì sự quan tâm của Gray, cho đến khi ông biết được lí do của chuyến đi này.

“Marco đã chết?” cha Rye nói. “Tôi thấy thật khó tin chuyện này. Tôi vừa gặp ông ta vài tháng trước đây.”

Gray hi vọng ngài linh mục có những thông tin mà họ cần.

Trước khi họ đến được cửa của ngôi nhà, nó chợt bật mở. Ngài linh mục trông lớn tuổi hơn so với dự đoán khi Gray trò chuyện với ông qua điện thoại. Ông ốm như một thanh củi, và trên đầu chỉ có vài sợi tóc. Cả người ông lọt thỏm trong cái áo len trùm đầu. Ông run run, chống gậy đến chào họ với một nụ cười tràn đầy thiện cảm.

“Mọi người vào nhà tránh gió đi nào, trước khi nó làm hai hàm răng của chúng ta đánh lập cập.” Cha Rye vẫy cánh tay khẳng khiu để thúc mọi người vào nhà. “Tôi có một ấm trà trên lò sưởi, và cô Maggie đã nướng bánh nam việt quất rồi đây. Đây là những thứ tuyệt hảo nhất ở xứ Wales này đấy.”

Họ được dẫn vào một căn phòng lát sàn gỗ với những thanh xà thấp đến nỗi Kowalski phải lom khom. Các bức tường được xây với cùng một loại đá như ở nhà thờ. Lò sưởi bập bùng ánh lửa reo vui. Một cái bàn dài đã được chuẩn bị sẵn cho buổi trà sớm.

Dạ dày Gray cồn cào trước mùi bánh nướng mới ra lò, nhưng anh chỉ muốn bắt tay vào việc ngay. Anh không có nhiều thời gian. Anh nhìn sang Rachel để chắc rằng cô ấy vẫn ổn. Vị linh mục già vừa cười với cô, vừa đưa tay mời cô ngồi vào bàn.

“Cô ngồi đây, cạnh tôi.”

Cha Rye hơi lúng túng. Wallace vẫn còn quanh quẩn ở cửa với Rufus, hiển nhiên là vì ông đang phân vân không biết có nên để con chó một mình ngoài giá rét hay không.

“Anh còn chờ gì ở đó vậy,” ngài linh mục trách Wallace, “Coi chừng cảm lạnh đấy.”

Lời mời là dành cho cả hai, người và chó. Rufus ùa vào trước cả Wallace. Con chó săn chạy thẳng đến bên lò sưởi, cuộn tròn và nằm xuống, buông ra tiếng kêu như tiếng thở dài mệt mỏi.

Khi những người còn lại đã an tọa, Gray mở lời. “Thưa cha Rye, cha có thể kể cho chúng con biết tại sao cha Giovanni lại…”

“Thật tội nghiệp cho ông ấy,” vị linh mục ngắt lời Gray và làm dấu thánh giá trên ngực mình. “Cầu Chúa cho ông ấy được yên nghỉ.” Cha Rye quay lại và vỗ lên tay Rachel. “Và tôi cũng sẽ cầu nguyện cho chú của cô ở Rome. Tôi biết ông ấy là bạn tốt của Marco.”

“Đúng là như vậy ạ. Cám ơn cha.”

Cha Rye quay lại phía Gray. “Marco… để tôi nghĩ xem. Ông ấy đến đây lần đầu tiên là khoảng ba năm trước.”

“Đó chắc là thời điểm sau khi ông ấy ghé thăm một địa điểm mà con đang khai quật khi ấy.” Wallace thêm vào.

“Sau đó, ông ấy đến khá thường. Ông đi lang thang khắp xứ Wales này. Chúng tôi trò chuyện về tất cả mọi thứ trên đời. Đến tháng 6 vừa rồi, ông ấy trở lại đảo Bardsey trong tình trạng bị kích động. Cứ như là ông ấy bị ma nhập vậy. Ông ấy cầu nguyện cả đêm trong nhà thờ. Tôi nghe ông ấy cứ cầu nguyện mong Chúa tha thứ. Khi tôi thức dậy thì ông ấy đã đi khỏi.”

Gray qua trở lại câu chuyện về chuyến viếng thăm đầu tiên. “Thế cha Giovanni có nói rằng vì sao ông ấy lại đến đây không cha?”

“Có. Ông ấy chỉ làm một chuyến hành hương đến đảo Bardsley thôi. Cũng giống như nhiều người trước ông. Để thể hiện lòng tôn kính với người chết.”

Gray cố gắng xử lý lượng thông tin anh nghe được. Rõ ràng là cha Giovanni đã không thành thật với vị linh mục lớn tuổi hơn mình. Nhưng lời lẽ của ông quả là rất có lý. “Cha vừa nhắc đến người chết? Họ là ai?”

“Hai mươi ngàn linh mục được chôn dưới mặt đất Bardsley.” Vị linh mục già chỉ về phía ô cửa nhỏ hướng ra biển. Cả hòn đảo đang chìm trong màn mưa nặng hạt. “Marco muốn biết tất cả về lịch sử của người chết.”

Gray cũng như thế. “Vậy cha đã kể gì cho ông ấy?”

“Tôi chỉ kể về những người hành hương. Bardsey là một hòn đảo linh thiêng, có lịch sử lâu đời. Trở về thời kì của những người đã khai phá hòn đảo này. Họ là tác giả của những ụ đá cổ nơi đây.”

Wallace ngẩng lên. “Cha đang nói về các bộ tộc thuộc thời kỳ đồ đá mới, những người đầu tiên sinh sống ở các hòn đảo nước Anh?”

“Đúng vậy, con có thể nhìn thấy những túp lều của họ trên khắp đảo Bardsey, nơi vẫn còn linh thiêng cho đến nay. Ngôi nhà của hoàng gia. Con có biết chuyện kể của người Xentơ về người Fomorian không?”

Gray gật đầu. Sự tò mò hiện rõ trong đôi mắt Wallace. Dĩ nhiên là ông hiểu nhưng muốn nghe xem vị linh mục nói gì.

“Fomorian là cái gì ạ?” Rachel hỏi.

“Không phải vật, mà là người. Theo truyền thuyết Ireland, khi người Xentơ đầu tiên đặt chân đến những hòn đảo này, họ nhận ra rằng nơi đây đã bị chiếm đóng bởi một bộ tộc cổ xưa, khá kì dị. Có người ngờ rằng họ là hậu duệ của người Ham, những kẻ bị Noah nguyền rủa. Suốt hàng thế kỉ, người Xentơ và người Fomoria chém giết lẫn nhau vì những hòn đảo này. Không thạo dùng kiếm, người Fomorian được biết đến với khả năng gây bệnh truyền nhiễm cho những kẻ xâm lăng.”

“Bệnh truyền nhiễm?” Gray hỏi.

“Đúng. Theo một bài thơ của người Ireland, họ đã tạo ra một ‘cái chết đầy hổ thẹn’ cho kẻ thù.”

Gray liếc nhìn Rachel và Wallace. Điều này có thể nào giống như những gì đã xảy ra cho cả khu làng trên cao nguyên?

“Cũng có đầy rẫy những câu chuyện khác suốt mấy thế kỉ trước,” cha Rye tiếp tục nói, “về các cuộc chiến và tranh chấp giữa hai dân tộc. Những người kể chuyện Ireland đều thừa nhận rằng người Fomoria là những người truyền dạy kiến thức nông nghiệp cho người Xentơ. Nhưng cuối cùng, một trận chiến kinh hoàng diễn ra trên đảo Tory đã đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của hoàng đế người Fomoria.”

“Nhưng chuyện này ảnh hưởng gì tới đảo Bardsey?” Wallace hỏi.

Cha Rye nhíu một bên mày. “Như người ta nói, Bardsey là lãnh địa của hoàng gia. Theo chuyện kể dân gian, hoàng hậu của tộc người Fomoria đã định cư ở đây. Bà là một nữ chúa vĩ đại, có sức mạnh chữa lành mọi vết thương và cả bệnh dịch.

Wallace lầm bầm. “Thật không ngạc nhiên khi Marco cứ hay lui tới.”

Gray muốn hỏi rõ hơn ý của Wallace, nhưng cha Rye cứ tiếp tục câu chuyện.

“Do đó người Xentơ đã xâm chiếm tất cả các hòn đảo. Nhưng thậm chí những vị linh mục của họ, các tu sĩ Druid, đều nhận thấy sự linh thiêng của hòn đảo. Họ đã cho xây một trung tâm truyền giáo gần hòn đảo Anglesey. Sinh viên khắp châu Âu đều quy tụ về đây. Con có tưởng tượng được không? Vì chỉ có đảo Bardsey là nơi mà các tu sĩ Druid xem là nơi linh thiêng nhất. Chỉ có các tu sĩ Druid đắc đạo mới được chôn cất ở đây. Kể cả những người nổi tiếng nhất mọi thời đại.

Wallace hẳn đã biết về truyền thuyết này rồi. “Truyền thuyết về phù thủy Merlin.”

★ ★ ★

Ở bên ngoài chiếc Land Rover, Seichan đứng phía bên cản gió. Cô không ngừng gập lên gập xuống con dao xếp trong khi canh gác. Cô không sợ bất cứ kẻ nào trốn thoát, thậm chí là dùng điện thoại trong nhà của linh mục. Dù vậy để đảm bảo họ không dùng điện thoại, cô đã rảo quanh và cắt đường dây điện thoại.

Cô có thể vào trong với họ, nhưng lịch sử không phải là sở trường của cô. Cô nhìn vào con dao trên tay mình. Cô biết sở trường của mình là gì. Và cô không muốn Gray bị phân tâm. Seichan cảm nhận được cơn nóng giận của anh canfgngafy càng tăng lên từ khi cô đến. Vì vậy cô ở lại xe. Cô cần anh tập trung vào việc.

Tất cả vì mục đích của mỗi người.

Cô đã thấy một chiếc ô tô bốn chỗ hiệu Audi xuất hiện trong thị trấn ngay khi họ đến. Họ đang bị theo dõi từ xa. Kẻ sai khiến cô, Magnussen, đang kiểm soát cô chặt chẽ, theo dõi họ ngoài khu đồi núi. Bọn săn đuổi này khéo léo đổi được phương tiện đi lại. Cô đếm có ít nhất ba nhóm đang theo dõi. Và sẽ không có ai phát hiện ra chúng.

Nhưng cô thì khác.

Với một cái búng vào cổ tay, cô gập con dao lại rồi cho nó vào túi. Có người đang theo dõi mình, cô phải đi thôi. Cô rời khỏi chiếc xe và đi thẳng về phía nhà thờ. Mặt tiền bằng đá của nó trông thật lạnh lẽo và bệ vệ, xứng đáng là nơi người dân lui tới tránh bão. Có thể thấy được sức tàn phá của thời gian, ngay cả đối với cánh cổng đồ sộ, linh thiêng và cổ xưa này. Cô thử đẩy cửa. Nó không khóa.

Việc tìm thấy một cánh cửa không khóa luôn khiến Seichan thích thú.

Dường như có điều gì đó không ổn và bất thường.

Trước khi kịp suy nghĩ lại thì cô đã đẩy cửa mở ra. Gió lùa vào. Cô bước vào nhà thờ và đi dọc lối vào thẳng đến gian giữa giáo đường. Seichan mong chờ một nơi u buồn nhưng cô thật sự ngạc nhiên với không gian thoáng đãng của nơi đây. Các bức tường được sơn màu kem khiến chúng trở nên nhạy hơn với ánh sáng từ các ô cửa sổ. Hai bên là những dãy ghế trơn bóng và một tấm thảm xanh dương trải dài trên lối đi giữa các dãy ghế.

Nhà thờ không bóng người. Nhưng cô cảm thấy không thể nào tiếp tục khám phá nơi này. Bất chợt Seichan cảm thấy mệt. Cô ngồi xuống chiếc ghế gần nhất và nhìn lên cây thánh giá. Cô không phải người theo đạo, nhưng cô nhận ra được hình ảnh Chúa.

Cô biết được sự đau đớn đó. Khung cảnh trước mắt cô bỗng mờ đi. Cô chợt bật khóc. Seichan che mặt lại như thể đang cố giấu chúng đi, cố ngăn những giọt lệ tuôn trào.

Mãi một lúc sau, cô vẫn ngồi bất động trên ghế. Trong lồng ngực cô có cái gì đó đang tạo áp lực lên cơ thể. Áp lực đó mỗi lúc một tăng. Nó giống như là một vật gì đó rất lớn đang cố thoát ra qua một lỗ nhỏ. Cô chờ cho cảm giác ấy qua đi, cầu nguyện cho nó kết thúc. Cuối cùng thì cơn đau đó cũng qua đi, để lại một Seichan đầy hụt hẫng, trống rỗng và thất vọng. cô rùng mình, hơi thở run rẩy, nhắm mắt lại rồi đứng lên.

Cô quay lại, hướng về gian giữa của thánh đường, ra khỏi nhà thờ. Gió từng cơn thổi thốc vào người Seichan và đóng sầm cánh cửa sau lưng cô. Nó nhắc cô về một bài học quan trọng.

Con người nên khóa chặt cánh cửa tâm hồn mình.

★ ★ ★

Gray cố không bật ra lời chế giễu. “Cha nói rằng Merlin được chôn ở đảo Bardsey ư?”

Cha Rye cười, hớp một ngụm trà. “Dĩ nhiên, chúng ta đều thích nghe phần này của câu chuyện. Người ta nói rằng ông ấy được chôn trong một ngôi mộ thủy tinh trên đảo. Nó chắc hẳn là rất kì cục, nhưng nó làm câu chuyện trở nên hay ho, con cũng nghĩ thế chứ?” Ông nháy mắt với Rachel. “Dù nhiều người, kể cả các nhà sử học, tin rằng huyền thoại của thời vua Arthur trên đảo Avalon bắt nguồn từ Bardsey.”

Kowalski nói chuyện trong khi miệng vẫn còn đầy bánh. “Avalon là gì?”

Gray thúc anh ta dưới bàn. Họ không cần vị linh mục già kể lể dông dài về đề tài này. Họ phải tìm hiểu thêm về cha Giovanni.

Nhưng Gray đã làm việc đó quá chậm.

Cha Rye đã tiếp tục: “À, theo truyền thuyết của người Xentơ, Avalon là một thiên đường trên hạ giới. Nó là nơi mà Excalibur, thanh kiếm của vua Arthur đã được rèn. Nơi bà phù thủy Morgan Le Fay cai trị. Nó là một hòn đảo của những cây táo quý hiếm, cái mà người ta dùng đặt tên cho hòn đảo, gốc từ trong tiếng Wales là afal. Avalon được xem là một nơi để chữa bệnh và kéo dài tuổi thọ. Vào giai đoạn cuối của triều đại mình, vua Arthur đã được Morgan Le Fay chữa trị sau trận chiến ở Camlann. Và dĩ nhiên, như lời tôi nói, đó là nơi Merlin đã được chôn.”

Mặt Wallace dài ra với câu chuyện. “Nhảm nhí,” cuối cùng ông ta cũng thốt ra những gì đang dồn nén. “Mọi người nghĩ Avalon hay Camelot đang ở đây ư?”

Cha Rye không hề phản ứng lại thái độ đó của Wallace. “Như tôi đã nói, nó chỉ là một huyền thoại. Nhưng giống như Avalon, đảo Bardsey từ lâu đã được ghi chép là một nơi chữa bệnh rất tốt. Thậm chí một quyển sách du lịch 1188 đã chứng thực chuyện này. Tác giả của nó đã mô tả những người ở Bardsey khỏe mạnh một cách bất thường và ‘hiếm khi chết vì các nguyên nhân ngoài tuổi tác’. Và dĩ nhiên chúng ta không thể nào không nhắc đến những quả táo thần kì của họ.”

“Táo ư?” Kowalski thắc mắc.

“Tôi nghĩ chúng ta không nên bàn nhiều về chủ đề thần thoại,” Gray nói, anh cố gắng chuyển hướng cuộc trò chuyện trở về cha Giovanni.

“Không phải thần thoại.” Cha Rye đứng dậy, đi về phía một cái bát trên bàn, lấy một quả táo và ném nó về phía Gray. “Nó có giống như một câu chuyện thần thoại đối với con không, chàng trai trẻ? Con trai của Maggie đã hái quả táo này từ một cái cây trên đảo hồi tuần trước.”

Gray nhăn mặt nhìn quả táo nhỏ bằng ngón tay cái.

“Trên trái đất không có quả táo nào như thế đâu,” Cha Rye nói một cách tự hào. “Nhiều năm trước, một số quả từ cái cây táo đó được mang đến Bộ sưu tập Trái cây Quốc gia ở Kent. Họ đã kiểm tra giống táo ở Bardsey và phát hiện hai điều. Thứ nhất cây táo này là một giống hoàn toàn mới, chưa từng được biết đến trước đây. Thứ hai, giống táo này không bao giờ bị thối hoặc bệnh. Họ đã kiểm tra cái cây già nua khẳng khiu đó và thấy rằng nó rất khỏe mạnh. Các chuyên gia cây trồng tin rằng cây táo có thể là mẫu duy nhất còn sống sót từ vườn cây ăn trái mà các tu sĩ của thánh Mary đã từng trồng trên đảo một ngàn năm trước.”

Gray nhìn chằm chằm vào quả táo trong lòng bàn tay, cảm nhận quãng thời gian và lịch sử mà nó đã trải qua. Dù tin hay không nhưng dường như nơi đây tồn tại một truyền thuyết lịc sử lâu dài và kỳ lạ về khả năng chữa bệnh: trước tiên là nữ hoàng Fomoria, kế đến là những huyền thoại của người Xentơ ở Avalon, và bây giờ sự kì lạ đó đang nằm trong tay anh, một thứ gì đó mà khoa học chứng minh rằng có lợi cho sức khỏe một cách kì lạ.

Anh nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn về phía đỉnh nhô lên của hòn đảo.

Có điều gì đặc biệt ở hòn đảo này đây?

Hình như cha Rye chưa kết thúc bài giảng lịch sử của ông.

“Qua thời gian, mọi thứ đều phải kết thúc,” ông nói. “Và người Xentơ không phải là ngoại lệ. Người La Mã cuối cùng đã đánh bại họ trong vài năm. Suốt thời gian đó, người La Mã luôn quả quyết rằng các tu sĩ Druid nguyền rủa quân đội của họ, giống như là người Fomoria đã làm đối với người Xentơ nhiều năm trước. Và sau khi các tu sĩ Druid đi khỏi, Giáo hội đã đến đây và xây dựng nên hòn đảo này. Họ đã lập một tu viện trên đảo vào thế kỉ XIII. Tàn tích của ngọn tháp tu viện hiện giờ vẫn còn đấy.”

Câu hỏi của Wallace càng khiến cuộc trò chuyện đi lan man. “Nhưng còn hai mươi nghìn vị thánh mà cha đã nhắc đến lúc đầu thì sao?”

Cha Rye vừa hớp ngụm trà vừa gật đầu, nhưng tuyệt nhiên không làm giọt nước nào rơi rà ngoài. “Bardsey còn có tên là Hòn đảo của hai mươi nghìn vị thánh. Cái tên đã nói lên số lượng tín đồ Thiên chúa giáo bị hành hạ và chôn vùi tại đây.”

“Nhiều vậy ư?” Wallace hỏi. “Chắc chắn là không có chứng cứ khảo cổ nào cho việc như vậy chứ?”

“Đúng. Tôi cho rằng huyền thoại thì mang nhiều màu sắc hư cấu hơn là sự thật. Mặc dù những chuyện kể dân gian ở địa phương cứ lan truyền mãi về cái chết khủng khiếp giáng xuống hòn đảo này do một căn bệnh đã gây ra với dân làng và tu sĩ, trong thực tế xác của những người chết đã được hỏa thiêu và rải xuống biển.”

Gray nhận ra khung cảnh câu chuyện. Nó giống như của ngôi làng cao nguyên. Tất cả các chứng cứ đều bị đốt và xóa sạch, chỉ có những lời đồn đại và trang viết bí ẩn trong Sổ Điền thổ.

“Dù thế nào thì hòn đảo vẫn được xem là vùng đất thánh kể từ khi Giáo hội đặt chân đến đây. Bardsey đã trở thành một địa chỉ của những người hành hương từ thời Cổ đại. Tòa thánh Vatican tuyên bố rằng ba chuyến đi tới Bardsey thì tương đương một chuyến đi tới Rome. Cũng không tồi nhỉ. Nhiều người cũng nghĩ như thế.”

Cha Rye chỉ về phía nhà thờ. “Phần cổ nhất của nó được xây dựng vào năm 1137. Qua các cánh cửa, hàng ngàn người hành hương đã đổ về đây. Kể cả phần lớn những vị thánh người Ireland và người Anh vào thời điểm đó.”

Như thể nghe được câu chuyện của vị linh mục, cánh cửa ngôi nhà bỗng bật mở và một cậu bé chạy ào vào phòng với tất cả sức lực mà chỉ một cậu bé mười ba tuổi có. Cậu bé nhanh chóng tháo chiếc nón kết đang đội, để lộ ra mái tóc đỏ đến nỗi như muốn bùng cháy.

“Con đây rồi Lyle.” Cha Rye nói và đứng dậy. “Cha con đã chuẩn bị phà cho những vị khách của chúng ta chưa?”

Lyle nhìn vào đám đông. “Thưa cha, có ạ. Cha nói con về nói với mọi người. Nhưng mà mọi người phải nhanh lên vì gió càng ngày càng ác liệt.”

Cha Rye đặt một bàn tay lên trán, buồn hiu vì sắp phải xa những vị khách. “Mọi người nên đi nếu không muốn bị cơn bão tấn công khi đang ở trên biển.”

Gray gật đầu. “Chúng ta đi thôi.” Anh mang tất cả hành lý ra cửa.

“Con chó của con ở lại đây với cha được không?” Wallace hỏi cha Rye. “Đi tàu là thứ duy nhất nó không thể chịu được.”

Cha Rye mỉm cười. “Được đấy con à. Con có thể rước nó khi quay trở lại đây.”

Rufus trông có vẻ vui với quyết định đó. Nó thôi ngước lên nhìn mà trở lại tư thế nằm ban nãy, thư giãn bên ánh lửa bập bùng.

Khi Gray đi ra cửa, cha Rye gọi với theo, “Lyle, khi nào con tới đảo, phải dẫn họ đi xem Hang Hermit nhé.”

Gray liếc nhìn.

Cha Rye cười với anh. “Nơi Merlin được chôn cất đấy.”

★ ★ ★

11h22 sáng

Rachel nhìn chiếc phà có vẻ nghi ngại. Con tàu nhỏ này trông có vẻ đủ chắc chắn. Nó là một chiếc thuyền đôi với buồng lái kín ở phía trước và một boong mở phía đuôi. Trước đây, cô đã từng đi trên loại tàu như vậy khi đi lặn ở vùng Địa Trung Hải. Chúng nổi tiếng là chắc chắn và đáng tin cậy.

Tuy vậy, khi thấy chiếc thuyền xoay và chao đảo trên mặt nước, Rachel càng lo lắng. Một tay giữ chiếc áo che kín cổ, cô nhìn những cơn cuồng phong. Cô có thể ngửi thấy mùi mưa. Dù ở đây vẫn khô ráo, nhưng một cơn mưa lớn đang hướng đến bờ biển.

Quan ngại của cô rất dễ dàng nhận thấy.

“Benlli là một con tàu tốt,” người lái phà khẳng định. Đó là cha của Lyle, tên là Owen Bryce, đang đứng trên boong tàu. Ông mặc một chiếc áo len dày, bên ngoài là chiếc áo mưa màu vàng. Con trai ông chạy lăng xăng trên boong tàu lắc lư, lanh lợi như một chú khỉ tóc đỏ. Ông rất tự hào về cậu bé. “Lo lắng à cô gái? Chúng tôi sẽ đưa cô tới nơi an toàn. Con tàu di chuyển chắc chắn với độ vát dốc ở đáy tàu.”

Tuy không hiểu những gì ông nói, nhưng cô thấy tự tin hơn. Trông ông có vẻ rất am tường.

Lyle xuất hiện và đưa tay cho Rachel. Cô nắm lấy tay cậu và nhảy lên tàu. Gray cùng Wallace cũng đã lên. Kowalski theo sau Seichan.

Rachel giữ khoảng cách với Seichan và ngồi cạnh Gray. Tuy nhiên, cô cảm nhận được sự hiện diện của người phụ nữ đó - không phải bởi vì cô ta đang nhìn Rachel, mà vì cô ta cố tình không làm thế. Điều này làm Rachel giận dữ. Cô cảm thấy rằng ít nhất mình xứng đáng được quan tâm.

Để không nghĩ đến Seichan và chiếc tàu lắc lư, Rachel chuyển hướng chú ý sang Gray. Anh phải nói lớn vì con tàu này quá ồn ào với tiếng gầm của động cơ.

“Vừa rồi ở nhà vị linh mục,” Gray nói, “tôi nghe ông lầm bầm gì đó vì không ngạc nhiên khi cha Giovanni cứ lui đến đây.”

Rachel cũng nghe như vậy. Đó là lúc cha Rye nói về vị nữ hoàng thần thánh.

Wallace gật đầu. “Ừ. Với tư cách là một nhà lịch sử về thời kỳ đồ đá mới ở Anh, tôi khá quen thuộc với những câu chuyện thần thoại của Ireland về những người Fomoria quái dị, những kẻ được cho là người đầu tiên chiếm giữ những vùng đất này. Người ta nói rằng họ là những kẻ khổng lồ chuyên ăn thịt người. Nhưng lời miêu tả của các quan chức Giáo hội thì biến họ thành những hậu duệ của người Ham - con trai Noah, một nhân vật trong Kinh thánh. Chính điều đó lôi cuốn Marco và làm ông ta chú ý nơi này.”

“Tại sao chứ?” Gray hỏi.

“Này nhé, tất cả các câu chuyện cổ của người Xentơ đều được truyền miệng. Thậm chí lí do duy nhất chúng ta biết về chúng ngày nay là nhờ những tu sĩ người Ireland, họ đã sống sót nhờ ẩn dật qua sự tàn phá của Thời kì đen tối, và đã tỉ mỉ ghi chép cũng như là trang trí những bản viết tay của mình. Họ đã bảo tồn nền văn minh phương Tây qua thời kì Trung cổ. Gồm cả việc bảo tồn những câu chuyện huyền thoại Ireland và Bắc Âu bằng cách ghi chép lại chúng ngay từ đầu. Nhưng những gì mà anh phải hiểu là những tu sĩ đó vẫn theo đạo Thiên chúa, vì vậy khi tường thuật lại, rất nhiều câu chuyện dựa trên quan điểm của Kinh thánh.”

“Giống như là chuyện người Fomoria được miêu tả với hình ảnh hậu duệ của người Ham,” Gray nói.

“Chính xác. Thật ra Kinh thánh không bao giờ chỉ rõ dân tộc nào là những hậu duệ của người Ham, nhưng những học giả Do Thái và Thiên chúa giáo trước đây đã thêm từ nguyền rủa để tạo nên ý nghĩa rằng những hậu duệ của người Ham là người da đen. Đó là cách người ta thanh minh cho sự chiếm hữu nô lệ.”

Gray lại ngồi xuống, gương mặt cho thấy anh đã hiểu ra vấn đề. “Vậy ý ông là người Xentơ miêu tả vị nữ hoàng của người Fomoria là da đen, nên các tu sĩ nghĩ rằng bà ta là một hậu duệ của người Ham.”

Wallace đồng ý. “Một nữ hoàng da đen, người có thể chữa bệnh.”

“Còn theo Marco, bà ấy có thể là hiện thân thần linh trước đây của Đức mẹ da đen.” Gray nhìn ra ngoài hòn đảo khi con tàu trồi lên hụp xuống giữa các đợt sóng. “Hoặc thậm chí những truyền thuyết về mụ phù thủy Morgan Le Fay và Avalon cũng có thể liên quan đến chuyện thần thoại đó. Một người phụ nữ khác chịu tác động của quyền năng chữa bệnh ma thuật.”

Mắt Rachel mở to. “Không ngạc nhiên khi cha Giovanni đột nhiên bị ám ảnh bởi nơi này.”

“Chính vì lý do đó và cũng bởi vì chiếc chìa khóa.” Wallace khoanh tay, lắc lư theo chuyển động của con tàu.

“Chìa khóa của Sách Ngày Tận thế?” Rachel hỏi, “Tôi nghĩ ông nói nó là thứ rác rưởi chứ.”

“Có thể tôi đã nghĩ rằng nó là thứ rác rưởi, nhưng Marco thì không. Mọi huyền thoại về chiếc chìa khóa đều nói về việc nó giúp ta mở ra một kho báu khổng lồ, một kho báu có thể cứu cả thế giới. Marco tin rằng tôi đang đi đúng hướng khi khám phá nơi được đánh dấu là bỏ hoang này. Và tôi càng lúc càng thấy ông ta đã đúng.”

“Sao lại như thế?” Gray hỏi.

“Đó là những câu chuyện của cha Rye. Ông nói về cách người Fomoria chiến đấu chống lại những kẻ xâm lược người Xentơ bằng việc lây bệnh truyền nhiễm cho họ. Người ta cũng nói rằng những tu sĩ Druid cũng làm điều tương tự khi những kẻ từ Rome đến xâm lược họ. Vì vậy nó làm tôi thắc mắc rằng liệu người Xentơ có học được gì từ người Fomoria hay không, điều gì đó quan trọng hơn cả nông nghiệp. Một dạng chiến tranh mới, một loại vũ khí mới. Có thể có một sự thật cốt lõi phía sau tất cả những chuyện này. Một sự thật được chôn giấu trong Sổ Điền thổ.”

Rachel bắt đầu le lói ý niệm về cái mà Marco theo đuổi, nhưng Gray thì đã biết điều đó rồi.

“Ông nghĩ khả năng lây bệnh này vẫn có thể tồn tại sau mười một thế kỉ ư? Có thể đó là một dạng mới của chiến tranh sinh học.”

Rachel hình dung ra tình trạng của các xác ướp. Chúng gầy gò và mọc đầy nấm bên trong.

“Ai đó có thể đầu độc cả những ngôi làng này với vài cây nấm kí sinh ư?” Gray nói. “Nếu đúng là vậy, người đó là ai?”

“Như tôi đã nói trước đó, mọi ngôi làng có tên trong Sổ Điền thổ đều nằm ở những khu vực tranh chấp giữa Thiên chúa giáo và Thần giáo. Và tôi nghĩ rằng địa điểm được đặc biệt nói đến với vai trò là địa điểm đầu tiên xảy ra xung đột chính là đảo Bardsey, vùng đất thánh của người Druid. Hẳn là họ không ưa những tu sĩ và tín đồ Thiên chúa giáo ở đây.”

“Vậy anh nghĩ đến một số giáo phái bí mật người Druid đã phá hủy những ngôi làng này?”

“Và sau đó, họ đã mang chiến tranh đến lục địa Anh. Tôi ngờ rằng họ bắt đầu cho lây lan các căn bệnh truyền nhiễm ở biên giới với hi vọng rằng sự xung đột sẽ lan ra khắp nước Anh.”

Wallace phải cố giữ thăng bằng khi chiếc phà lao vào một con sóng lớn. Khi đã yên vị trở lại, ông tiếp tục. “Có thể ý đồ sâu xa của Sổ Điền thổ là đánh dấu những vùng đất xâm lấn này để tiện việc theo dõi. Những người điều tra dân số, đồng thời là người biên soạn quyển sách, đã được gửi đến mọi ngóc ngách của nước Anh để thu thập thông tin từ dân làng và cư dân các thị trấn. Chắc chắn họ cũng là những gián điệp.”

“Làm thế có hiệu quả không?” Rachel xen vào câu chuyện.

“Hừm, chúng đã không bao giờ lan ra.” Wallace vừa nói vừa nhún vai. “Vài người có lẽ phải tìm ra cách ngăn cản các cuộc tấn công và chôn những thứ độc hại đó đi.”

“Chiếc chìa khóa của Sách Ngày Tận thế.” Gray nói. “Ông tin rằng nó đại loại là một phương thức chữa trị?”

Wallace sờ vào chop mũi, thừa nhận.

“Và chúng ta đang đi đúng hướng?” Gray hỏi, liếc nhìn Rachel một cách thật đặc biệt. Họ không có nhiều thời gian để mắc sai lầm.

Anh chạm tay vào người Rachel, nắm những ngón tay cô rồi buông ra. Cô đã mong rằng anh cứ tiếp tục nắm tay cô như thế. Sức nóng lan tỏa dưới làn da anh giúp cô càng thêm vững tin.

Walace trả lời câu hỏi của Gray. “Marco dĩ nhiên là tin vào chiếc chìa khóa. Và khi xem xét món quà nhỏ khủng khiếp của mình, ông ta đã khám phá ra vài thứ. Và chúng ta biết rằng ông ta đã bắt đầu công việc của mình ở Bardsey.”

Ngài giáo sư gật đầu hướng về phía hình dáng lớn dần của hòn đảo âm u. Nó đang chìm giữa mưa bão. Và một lát sau, họ cũng chìm trong bão. Gió táp vào họ, những khối nước lạnh như băng tràn lên tàu. Sau đó, mưa bất chợt sa xuống tàu như thể đang cố nhấn chìm họ. Tầm nhìn lúc này chỉ còn vài dặm.

“Bám chặt!” Kowalski gào lên từ buồng lái, nơi anh đứng cùng thuyền trưởng. “Sóng lớn lắm đấy!”

Mũi tàu nhô cao, hướng thẳng lên trời - sau đó lao xuống như một hòn đá. Kế đến, mọi vật giờ chỉ còn là mờ ảo. Chiếc thuyền tròng trành, lắc lư dữ dội.

Dạ dày Rachel giờ cũng như chiếc thuyền mà cô không hề biết trước. Cảm giác nôn mửa trào lên trong cơ thể cô. Tay Rachel lạnh và ướt. Cô không có thời gian để vào nhà vệ sinh nữa. Cô loạng choạng quanh chỗ ngồi, cúi xuống, và tất cả những gì trong dạ dày Rachel cứ thế tuôn ra.

Trước mặt cô, biển cả đang trồi sụt, trông như sẵn sàng nuốt chửng Rachel bất cứ lúc nào. Tay cô trượt đi. Cô thấy mình nghiêng ngả.

Rồi một cánh tay khỏe mạnh quàng vào người cô, ghì chặt nhưng êm ái.

“Anh giữ được em rồi,” Gray nói.

Cô ngả vào người anh, dạ dày cô vẫn đang tròng trành theo từng đợt sóng. Gray không bao giờ xa rời cô trong bất kì hoàn cảnh khó khăn nào.

Sau hàng giờ đồng hồ, cuối cùng họ cũng đến được đất liền. Cơn bão đã bớt hung hăng. Mưa bay lất phất. Một bãi hạ thủy tàu rất dài bằng bê tông nổi bật giữa bến cảng nhỏ bé, cạnh một cầu tàu bằng đá. Thuyền trưởng khéo léo cho tàu lướt bên cạnh bến tàu khi Lyle chạy lên đặt một tấm lót giữa cầu tàu và thuyền. Một lúc sau, chúng đã được buột chặt.

Rachel vui mừng leo ra khỏi con tàu bằng đá đó. Tiếng kêu lạo xạo của đá dưới chân cô không làm cô thấy ổn chút nào.

“Em ổn chứ?” Gray hỏi.

Cô phải kiểm tra lại vật dụng cá nhân trước khi gật đầu. “Em nghĩ không sao. Rất vui mừng khi thoát khỏi những cơn sóng dữ.”

Gray chạm vào tay cô. Đôi mắt anh hiện rõ sự quan tâm. “Em có chắc đó chỉ là những con sóng không?”

Rachel muốn gật đầu lần nữa. Nhưng cô đặt một tay lên bụng, nhớ lại những gì Seichan đã nói về chất độc. Một trong những triệu chứng nó gây ra là buồn nôn.

Cô liếc nhìn lại con tàu.

Đó là gì nếu không phải do những con sóng gây ra?

★ ★ ★

112h05 trưa

Đảo Bardsey, xứ Wales

Từ cảng, chiếc xe máy kéo leo lên ngọn đồi. Nó kéo theo một chiếc xe moóc chở cỏ phía sau, và trên chiếc giường có đệm rơm là một đám người ướt sủng. Một lớp vải dầu được phủ qua chiếc rơ moóc để che mưa, nhưng nó chẳng có tác dụng gì trước những cơn gió cắt da cắt thịt.

Gray nằm rúc dưới sườn của chiếc rơ moóc cố hết sức tránh những cơn gió ngoan cố ập đến. Những gì dữ dội nhất của cơn bão đã qua, nhưng bầu trời phía Tây mỗi lúc một âm u, báo hiệu một cơn bão tệ hơn nữa đang đến.

Sau khi họ leo lên đồi, một bức tranh toàn cảnh hòn đảo hiện ra trước mắt. Sau chiếc rơ moóc, phía đỉnh hòn đảo là một ngọn hải đăng được sơn sọc trắng đỏ. Nó nhấp nháy liên tục bền bỉ trong cơn bão. Giữa ngọn hải đăng và ngọn đồi là một nông trại. Chỉ có khoảng một tá người định cư ở Bardsey, phần lớn họ làm nghề nông và cho khách leo núi, nhà nghiên cứu chim muông và người hành hương thuê nhà.

Những con đường chỉ được làm bằng đất, và các phương tiện di chuyển ở đây chỉ toàn là xe máy kéo.

Đúng là họ đã bước vào một thế giới khác.

Khi họ tới gần đỉnh đồi, chiếc xe máy kéo ngừng lại nghỉ tại một trạm trên đường. Cậu bé Lyle nhảy từ phía sau chiếc xe máy kéo xuống chiếc giường đệm rơm. Cậu bé là tài xế chính của cả đoàn kiêm hướng dẫn viên du lịch. Cậu thu mình vào giữa chiếc ghế khi một tiếng sấm dội lên đỉnh đồi.

Lyle chờ cho âm thanh ấy giảm dần rồi nói. “Cha Rye nói rằng các cô chú có thể muốn ghé Hang Ẩn Dật cổ xưa. Nó cách chỗ này vài bước chân. Cháu có thể chỉ cho các cô chú.”

Kowalski vỗ vào túi tìm một điếu thuốc. “Không thật sự muốn ghé cái hang đó.”

Gray mặc kệ Kowalski và đồng tình với Lyle. “Cháu nói trước đây cháu đã giúp cha Giovanni và ông ấy đã dành phần lớn thời gian của mình tại những tàn tích của tu viện cổ. Liệu ông ấy có dành thời gian thăm hang động này không?”

“Không hẳn. Chỉ một lần duy nhất lúc đầu thôi. Tôi không nghĩ ông ấy có trở lại sau đó.”

Gray biết rằng anh nên vào xem qua cái hang này. “Chỉ cho chú đi.”

“Tôi sẽ đi cùng anh,” Wallace xung phong. “Thật là một điều hổ thẹn khi đến đây thế này mà khoogn ghé qua chào ông bạn quá cố Merlin.”

Lời nói của Wallace chứa đầy sự châm chọc.

Gray liếc sang Rachel. Cô lắc đầu. Trông cô vẫn đang buồn nôn, nhưng anh không chắc triệu chứng đó là do say sóng, trúng độc hay nguyên nhân nào khác.

Anh nhảy ra khỏi giường và ngạc nhiên khi thấy Seichan cũng nhảy ra. Không nói lời nào, cô ta đi thẳng đến chỗ Wallace và cậu bé.

Gray cho rằng Seichan không mấy chú tâm đến cái hang ẩn dật này. Chỉ vì cô ta không muốn ở lại một mình với Rachel. Đeo ba lô lên lưng, Gray theo sau những người khác đi vào một con đường mòn.

Seichan đi đủ chậm để song hành anh. “Chúng ta cần nói chuyện,” cô ta nói mà không nhìn anh.

“Chúng ta không có gì để nói cả.”

“Đừng có cư xử như thế. Dù cho anh nghĩ thế nào, tôi cũng không muốn ở trong vị trí này hơn anh đâu. Việc đầu độc Rachel không phải do tôi quyết định. Anh biết mà, đúng không?”

Cô ta cuối cùng cũng nhìn anh.

Anh không chịu thua Seichan.

“Kết quả cuối cùng cũng vậy thôi,” anh nói. “Cô đạt được cái cô muốn, và bằng sự trả giá của người khác.” Anh lộ vẻ giận dữ. “Vậy chuyện gì đã xảy ra với chuyến thăm của cô đến gia đình người phụ trách bảo tang Venice?”

Mắt Seichan nhíu lại. Tổn thương, giận dữ, cô ta quay đi. Giọng cô ta càng trở nên cáu gắt.

“Bất cứ những gì đang xảy ra ở đây đều có sự nhúng tay của nhóm Guild, từ những người mang tước vị cao nhất đến những kẻ dưới quyền. Họ đang dùng rất nhiều lực lượng để tìm chiếc chìa khóa bị mất này. Tôi chỉ vừa mới một lần thấy họ huy động lực lượng khi chúng ta đang tìm kiếm xương của Magi.”

“Vì sao thế?” Gray ghét dính dáng tới cô ta, nhưng nếu cô ta biết rõ mọi chuyện, anh không muốn bỏ qua chúng.

“Tôi không biết. Nhưng dù chuyện gì đang xảy ra ở Viatus, nó chỉ là mới là phần đầu của câu chuyện. Tôi e rằng chính nhóm Guild đang giật dây và lợi dụng tập đoàn Viatus như là một nguồn lực. Về chuyện này thì chúng giỏi nhất. Chúng giống như những kẻ ăn bám tấn công vào cơ thể sống, rút cạn sinh lực của nó rồi bỏ đi.”

“Nhưng mục đích cuối cùng của chúng là gì?”

“Để tìm chiếc chìa khóa. Nhưng câu hỏi lớn hơn là tại sao chiếc chìa khóa lại quan trọng như vậy đối với nhóm Guild? Khám phá được điều này thì anh sẽ dần dần tìm ra nó.”

Cô ta ngừng nói, để anh kịp suy ngẫm. Gray phải thừa nhận rằng cô ta đúng. Có thể anh phải nhìn vấn đề từ những góc cạnh khác, xem xét lại những gì đã điều tra được.

Cuối cùng cô ta tiếp tục. "Chúng ta biết rằng Viatus thu thập các xác ướup và làm thí nghiệm trên chúng. Nhưng những cái xác được tìm thấy ba năm trước. Vì vậy nhiều năm rồi dự án này được thực hiện với sự giám sát của kẻ nào đó. Dĩ nhiên là tôi không rõ. Nhưng chỉ khi cha Giovanni đến Vatican, vấn đề nhóm Guild mới nổi lên. Bất cứ ai nhạy bén như tôi đều có thể biết tin này. Trong 24 giờ qua, họ đã lộ diện nhiều lần mà tôi chưa từng thấy điều này trước đây. Đó là điều đã kéo tôi đến Ý trước tiên, và cũng là điều khiến tôi phải tìm Rachel.”

Gray cảm nhận được sự ngượng ngùng trong giọng nói của Seichan khi cô ta nhắc tới tên Rachel. Sau đó cô ta không nói nữa.

Gray phá vỡ sự im lặng. “Wallace tin rằng chiếc chìa khóa có thể là một chất xúc tác chống lại dạng chiến tranh sinh học trước đây. Nếu nhóm Guild làm chủ chiếc chìa khóa, họ có thể điều khiển loại vũ khí này.”

“Có thể anh đúng nhưng những gì nhóm Guild muốn thì còn hơn thế rất nhiều. Tin tôi đi.”

Gray dự định phản bác lại ý kiến của Seichan.

Tin tôi đi.

Ba từ này là những từ cô ta không có quyền thốt ra.

Gray không cần phải trả lời lại khi Wallace giơ tay chỉ xuống đất. “Nó đây rồi!”

“Nghĩ về chuyện đó đi nhé,” Seichan kết lại. “Tôi sẽ trở lại chỗ máy kéo.”

Gray tiếp tục đi một mình đến chỗ hang động. Lyle đã chui vào đó. Lối vào cao chứ tới eo Gray và dẫn đến một hang động nhỏ khác. Vừa bò, Gray vừa quan sát hang động với chiếc đèn pin lấy từ ba lô. Một cái hang tự nhiên. Trừ một vỏ lon bia cùng một nhúm rác, còn lại thì chẳng có gì đặc biệt.

Nếu đây là nơi an nghỉ cuối cùng của Merlin thì Gray cần phải than phiền về cơ sở vật chất nơi đây. Không ngạc nhiên khi cha Giovanni không bao giờ ghé nơi này lần thứ hai.

“Chẳng có gì ở đây,” Wallace kết thuận.

Gray đồng ý. “Chúng ta đi lên đồi thôi.”

Họ cất bước thật nhanh vì mưa đang dần nặng hạt. Đến được chỗ xe kéo, họ lại lên đường. Lyle lái chiếc xe băng qua đỉnh đồi và đi xuống một vùng rộng lớn.

Vùng đất trũng trải dài phía trước, được chia thành nhiều dải đất để trồng trọt và chăn nuôi. Tuy nhiên, chân đồi mới là điểm đến của họ. Nó là một ngọn tháp hình vuoogn, vỡ hết phân nửa, nằm giữa một nghĩa trang. Nó là tất cả những gì còn lại của tu viện Thánh Mary. Một nhà nguyện trông mới hơn nằm một bên. Từ độ cao này, Gray cũng có thể nhận ra một vài bức tường của tu viện cũ bị vỡ vụn.

Khi họ đi xuống, Lyle chỉ về phía một căn nhà nhỏ tít đằng xa. “Plas Bach kìa!” cậu bé la lên và kêu tên nơi đó. “Các cô chú có thể thuê nơi đó được đấy. Nó cũng là nhà của cây táo nổi tiếng của chúng ta.”

Gray sờ vào túi và nhận ra quả táo mà cha Rye ném cho mình. Khi nhìn quả táo màu hồng này, anh nhớ lại những người sống ở tu viện. Cả chuyện cây táo và các tu sĩ được lan truyền rất nhiều như có sức khỏe tốt bất thường, trường thọ một cách đáng ngạc nhiên. Các tu sĩ của tu viện Thánh Mary có biết bí mật gì không? Những bí mật đó có giống những bí mất họ đang tìm kiếm lúc này, chiếc chìa khóa cho Sách Ngày Tận thế không? Và nếu là vậy, họ dùng nó như thế nào?

Chiếc xe kéo nồng nặc mùi dầu, đỗ phịch lại bên một trạm nghỉ dưới chân đồi cạnh nghĩa trang. Những người Xentơ đã đánh dấu vùng đất, kể cả một dấu hiệu cao khác thường cạnh ngọn tháp tu viện đổ nát.

Cả nhóm ra khỏi xe, phủi những cọng rơm dính trên người. Cơn mưa như trút nước ban nãy đã gần như rút đi làm ai nấy đều cảm thấy nhẹ nhõm. Nhưng phía Tây vẫn có những tia chớp lóe lên. Tiếng sấm gầm gừ báo hiệu mưa sẽ còn quay lại. Họ phải nhanh chân hơn.

Gray bước đến chỗ Lyle. “Cháu nói cha Giovanni dành phần lớn thời gian ở đây. Cháu có biết ông ấy là gì không? Có nơi nào mà ông ta hay đến không?”

Lyle nhún người. “Ông ấy cứ ở chỗ đổ nát này. Hầu như chỉ đo đạc.”

“Đo đạc ư?”

Một cái gật đầu trả lời câu hỏi của anh. “Ông ta có những cái thước cuộn, các chú gọi nó là gì nhỉ?” Lyle ra hiệu bằng tay, giữ chúng nghiêng và đảo tròng mắt xuống. “Những cái ống nhòm nhỏ để xem cái gì cao như thế nào và cái gì không.”

“Thiết bị thăm dò,” Gray la lớn như đoán ra. “Có nơi nào ông ấy dành thật nhiều thời gian xem xét không?”

“Có. Cây thánh giá và ở trên tàn tích đá cổ.”

“Tàn tích? Tu viện phải không cháu?”

Wallace bước đến phía bên kia của Lyle. “Tôi nghĩ cậu bé muốn nói về những tàn tích cổ đại, phải không nào cậu bé?”

“Đúng đấy, thưa ông.”

“Cháu có thể chỉ cho chúng ta xem được chứ?”

“Tất nhiên ạ” Rồi cậu bé bước đi.

Cả nhóm theo sau, băng qua nghĩa trang. Lyle chỉ vào từng cây thánh giá của người Xentơ khi đi ngang qua. Cậu bé dừng lại ở cái cao nhất. Nó được dựng trên một mô đất nhỏ.

“Nó đánh dấu ngôi mộ của Lãnh chúa vùng Newborough,” Lyle nói. “Một trong những nhà quý tộc nổi tiếng nhất của Bardsey và mạnh thường quân tuyệt vời của Nhà thờ.

Gray ngẩng cổ lên nhìn. Ắt hẳn cha Giovanni biết rõ tầm quan trọng của những cây thánh giá người Xentơ và sự khác biệt của chúng với cây thánh giá của giáo phái Druid. Những cây thánh giá của Druid vốn bị cho rằng bắt nguồn từ bộ tộc cổ xưa đã đến khai phá quần đảo Anh quốc và khắc những biểu tượng đó trên đá. Một biểu tượng gắn kết cả ba nền văn hóa, kéo dài từ thời cổ đại.

liệu chiếc chìa khóa cũng trải qua hành trình như thế chăng? Từ những người cổ đại, đến người Xentơ, rồi đến tín đồ Thiên chúa giáo?

Wallace nhìn dọc theo nghĩa trang. “Cha Giovanni đo tất cả các cây thánh giá à?”

“Đúng vậy.”

“Và cháu nói ông ta cũng làm thế với vài tàn tích đá cổ?”

“Lối này ạ.” Lyle khoanh tròn đống gạch vụn của tháp chuông tu viện và bước đến một khu đất mọc đầy cỏ. Cậu bé đá đá chân giống như đang tìm thứ gì đó. “Cha Giovanni tìm tất cả những đống gạch vụn cổ. Phần lớn chúng nằm ở khu vực này.”

Wallace theo sau Gray. “Không có gì ngạc nhiên khi các tu sĩ xây dựng tu viện ở đây. Việc xây dựng tu viện trên một khu đất thánh rất phổ biến trong Giáo hội khi xưa. Áp đặt tôn giáo của họ lên trên một tôn giáo khác. Nó xóa bỏ tôn giáo cũ đồng thời giúp người dân nhanh chóng thay đổi tin ngưỡng.”

“Ở đây ạ!” Lyle gọi to từ cách đó vài dặm về phía phải. “Cháu nghĩ đây là một cái!”

Gray băng qua đó cùng Wallace. Lyle đứng giữa một vòng tròn đá được chôn phân nửa trong bãi cỏ. Gray bước quanh vòng tròn.

Wallace gãi cằm. “Cháu có chắc đây đúng là vòng tròn đó không? Cái mà ông bạn chúng ta đã tìm hiểu?”

Bất chợt Lyle trông có vẻ không chắc chắn.

Gray dừng lại ở một trong những hòn đá. Anh quỳ xuống và tách đám cỏ ra. Anh liếc nhìn vào hòn đá và biết rằng chúng đang được đặt đúng chỗ.

Trên tảng đá có khắc một biểu tượng.

Một vòng xoắn ốc.

Gray nhìn quanh khu đất. Anh kiểm tra lại la bàn. Nếu từ vị trí này nhìn theo hướng Đông - hướng mặt trời mọc, sẽ thấy ngôi mộ của vị lãnh chúa vùng Newborough, bên trên là một cây thánh giá Xentơ lớn, mà nguồn gốc của nó cũng do cùng một nghệ nhân tạo nên, người đã khắc cái vòng xoắn ốc trên tảng đá cổ ngay dưới chân Gray lúc này.

“Chính là nó,” anh lẩm bẩm.

“Đó là gì?” Wallace hỏi lại, không nghe anh nói gì.

Gray tiếp tục quan sát cây thánh giá từ xa. Anh đã phát hiện ra nó mà không cần bất cứ thiết bị thăm dò nào cả. Dù rằng có lẽ còn lâu anh mới có thể tìm ra nó nhanh đến thế nếu không nhờ Lyle nói về cuộc điều tra tỉ mỉ của đức cha trước đó.

“Tôi biết chỗ mà cha Giovanni đã xem xét.” Gray nói.

Rachel tiến đến gần hơn, “Nơi nào?”

“Giữa vòng xoắn ốc và cây thánh giá.” Gray nói và chỉ tay về phía vật đánh dấu ngôi mộ của lãnh chúa vùng Newborough. “Như trên những tảng đá chỗ khai quật của anh đấy Wallace. Một mặt là những hình thánh giá, mặt kia là những vòng xoắn ốc.”

“Và giống như cả chiếc cặp da thuộc,” Rachel nhắc anh.

Gray gật đầu, “Mặc dù Marco không hề có nhiều manh mối như chúng ta. Ông phải tự tìm ra moị thứ chỉ từ những thứ mà ông đã thấy tại chỗ khai quật. Tôi nghĩ ông đã tìm ra bí mật. Có thể đúng là vậy. Cha Rye từng nói rằng hồi tháng 6 rồi, trông Marco rất phấn khích. Ông ta ở đây suốt ngày hạ chí, ngày dài nhất trong năm. Một ngày lễ quan trọng đối với người thần giáo, đặc biệt với những ai tôn thờ mặt trời.”

Anh hướng về phía cây thánh giá rồi vẽ thẳng một đường xuống ngón chân, “Tôi cá là cần phải tính toán để chứng minh điều này - vài điều mà Marco có lẽ đã làm - vào buổi sáng ngày hạ chí, tia nắng mặt trời đầu tiên xuyên qua và chiếu thẳng vào cái bóng nhô thẳng ra ở đây.”

“Và điều đó dẫn tới điều khám phá mới của Marco à?” Wallace nhấn mạnh.

“Có lẽ thế. Nếu muốn chắc tôi có thể đếm bước đến đó, nhưng tôi nghĩ không cần phải làm thế. Hãy nhìn xem cái gì thực sự đang nằm ngay giữa cây thánh giá và vòng xoáy.”

Gray chỉ tay về phía đống tàn tích đổ nát.

“Tòa tháp Thánh Mary” Wallace hỏi rồi quay về phía Gray. “Anh nghĩ thứ Marco đã tìm ra được giấu dưới ngọn tháp?”

“Anh đã tự trả lời rồi đấy. Nhà thờ đã xây dựng các công trình tôn giáo ở trên những nơi linh thiêng trước đây. Hòn đảo này đầy rẫy hang động. Và người Druid lại xem hang động là những nơi linh thiêng. Và những câu chuyện về sức mạnh ma thuật còn lưu truyền đến ngày nay, ví dụ như Merlin, được chôn giấu dưới một hang động nào đó trên đảo. Thế nếu mọi người đã nhầm về những hang động thì sao?”

Wallace nói lí nhí, “Không phải là hang Hermit mà là thứ gì đó được giấu bí mật dưới tu viện.”

Rachel đưa ra một câu hỏi khá hay, “Nhưng làm sao chúng ta xuống đó xem được?”

“Chắc hẳn vị tu sĩ đã chết đó chưa từng đào đường vào trong kia,” Kowalski thêm vào.

Cả hai đều đúng. Không có bất kì dấu vết khai quật nào xung quanh tàn tích của tòa tháp cả.

“Hẳn phải có lối khác xuống,” Gray nói và quay về nguồn cung cấp thông tin tốt nhất để tìm câu trả lời. “Lyle, cháu có biết đường hầm hay hang động nào gần đây không?”

“Dạ, có nhiều hang nhưng chẳng hang nào gần đây cả.”

Sẽ phải mất vài tháng để xem xét tất cả các hang đó. Gray nhìn Rachel chăm chú. Cô đứng khoanh tay. Họ không có đến vài tháng như thế.

“Nhưng cháu có thể chỉ chú thứ mà cháu đã chỉ cho cha Giovanni!” Lyle chợt reo lên, “Nó không phải là một cái hang, nhưng có thể cũng ổn.”

“Cái gì thế cháu?” Gray hỏi.

“Đến đấy đi, cháu và đám bạn vẫn thường hay chơi dưới đó.” Lyle phóng nhanh đi. Mọi người phải cố chạy theo để bám lấy đuôi cậu bé.

“Chúng ta đầu cần phải gấp thế.” Kowalski làu bàu.

“Nói mình anh đi.” Rachel đáp.

Lyle dẫn họ vòng ra sau tòa tháp. Lần này cậu bé chạy ngược hướng lúc nãy. Gần như là đánh một vòng tròn rồi dừng lại chỗ không xa cây thánh giá của người Xentơ là mấy. Cậu chỉ vào một cái hố hình vuông, xung quanh được viền bằng những tảng đá.

“Gì thế cháu?” Wallace hỏi.

Gray quỳ xuống quan sát. Bốn vách được lát gạch. Gần phía đáy một vách tường là một hốc đen.

“Cháu nói rồi, đó không phải là một hang động.” Lyle trả lời.

Gray chộp lấy đèn pin, “Là một hầm mộ.”

“Là mộ của Lãnh chúa xứ Newborough. Đúng ra ông ta không được chôn ở dưới đó đâu. Ít nhất tôi không nghĩ là vậy.”

“Chúng ta phải xem xét nó,” Gray nói.

Kowalski lắc đầu rồi bước lùi hai bước, “Không, chúng ta không nên. Cứ chui vào lỗ là chúng ta sẽ gặp rắc rối.”

CHÌA KHÓA NGÀY TẬN THẾ James Rollins Bộ Sách: A Sigma Force Đánh Máy: Quách Thủy Tiên TVE-4u.org
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.